Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể Like, Đánh Dấu, Chuyển Giao Diện Đọc... Chỉ mất 40 giây của bạn thôi nhưng còn nhiều đều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 44 BÍ MẬT SHANGRI-LA

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã

Phiên bản Dịch · 25849 chữ · khoảng 93 phút đọc

CHƯƠNG 44:

BÍ MẬT SHANGRI-LA

Không ai có thể ngờ được, bí ẩn suốt mấy nghìn năm nay về Shangri-la, lại bị giáo sư Phương Tân giải đáp chỉ bằng một lời trong một cuộc thảo luận như thế này. Đã có bao người tốn cả đời đi tìm Shangri-la trong truyền thuyết, nhưng thậm chí còn chẳng có cả cơ hội nhìn thấy Shangri-la từ xa xôi tít tắp dù chỉ một lần. Khi Hương Ba La mật quang bảo giám mở ra, đám người may mắn này liền bị hết đợt sóng mừng vui này đến đợt sóng mừng vui khác bao bọc lấy. Trong khoảnh khắc này đây, bọn họ đã hết sức tỉnh táo mà nhận ra rằng, Shangri-la không còn xa xôi diệu vợi nữa, nói không chừng, chỉ một chốc lát nữa thôi, họ sẽ lập tức tìm ra con đường duy nhất dẫn đến chốn thánh địa nhân gian này cũng nên.

Hương Ba La Mật Quang Bảo Giám

Tấm gương đồng được cố định trên bệ, pháp sư Á La khom người quỳ một chân xuống, nhìn vào mặt sau tấm gương, quan sát các hoa văn, giải thích: “Ban đầu chúng tôi cho rằng hình thú ở vòng trong cùng này là mấy loài thú lành của Phật gia như Thiên xà, voi, khổng tước, hải trãi[19], nếu là vậy thì nó chẳng nói lên gì cả. Nhưng sau khi các vị trưởng lão nhiều lần cân nhắc kỹ, họ cho rằng những hình tượng này giống với Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ của nhà Đường hơn. Nếu lý giải như vậy, thì sẽ là biểu thị phương vị bốn phía. Ừm, nếu Chu tước ở góc trên bên phải, Bạch hổ ở góc trên bên trái, thì đối diện sẽ là hướng Tây Nam rồi.”

Nhạc Dương nôn nóng nói: “Vậy vòng ngoài thì sao? Có phải là mười hai con giáp không?”

Pháp sư Á La gật đầu nói: “Nếu dùng lý luận thời gian, mười hai hình trừu tượng ở vòng thứ hai có lẽ chính là mười hai con giáp, nhưng hình vẽ lại hoàn toàn không giống thế. Để tôi xem kỹ lại xem, phải rồi, giáo sư Phương Tân, có thể bật tấm bản đồ kia lên được không?”

Giáo sư Phương Tân liền cho tấm bản đồ như mạng nhện kia hiện lên trên màn hình máy tính. Pháp sư Á La đứng lên chỉ vào mấy điểm trên bản đồ, nói: “Phiền anh cho chỗ này, chỗ này, chỗ này… phóng to lên một chút, ấy, đừng to quá, cố giữ cho hình ảnh rõ nét, phóng đại một lần rưỡi là được rồi. Được, đúng đấy, đúng đấy…”

Trương Lập nôn nóng nói: “Sao rồi? Sao rồi?” Pháp sư Á La một tay chỉ tấm gương đồng, một tay chỉ màn hình máy tính, nói: “Mọi người nhìn kỹ xem, hình vẽ trên bản đồ và trên tấm gương này như thế nào?”

Đường Mẫn thốt lên, giọng kinh ngạc pha lẫn mừng rỡ: “Ồ, trông giống thật đấy nhỉ.”

Pháp sư Á La nói: “Cũng may các vị trưởng lão đã làm bản rập của hoa văn trên mặt sau tấm gương, chúng tôi đã phải tốn rất nhiều công sức mới phân biệt được đó. Rất hiển nhiên, người Tây Tạng cổ đã thần hóa mười hai con giáp, hình vẽ mười hai con giáp ở đây so với những gì chúng ta vẫn thường thấy hoàn toàn khác biệt, đã biến hình một cách triệt để rồi. Đây có lẽ là ‘hổ’ trong mười hai con giáp của người Tạng xa xưa, mọi người để ý mà xem, so với Bạch hổ trong Tứ thánh thú mà họ vẽ thực đúng là hai hình hoàn toàn khác nhau.”

Nhạc Dương nói: “Mười hai con giáp ở vòng này biểu thị thời gian như thế nào vậy?”

Pháp sư Á La giải thích: “Giống như cách tính giờ của Trung Quốc cổ đại, mười hai con giáp đại diện cho mười hai canh giờ mỗi ngày, mỗi canh giờ tương đương với hai tiếng đồng hồ hiện đại. Cụ thể như sau: Trời sáng là thỏ, mặt trời lên là rồng, giữa buổi sáng là rắn, giữa trưa là ngựa, giữa buổi chiều là dê, mặt trời ngả Tây là khỉ, mặt trời lặn là gà, trời tối là chó, nửa buổi tối là lợn, nửa đêm là chuột, nửa đêm về sáng là trâu, trời hửng là hổ. Điểm khác biệt là, người Tây Tạng cổ lấy thời điểm trời sáng làm bắt đầu một ngày mới, chứ không phải lúc nửa đêm.”

Trương Lập nói: “Vậy thời gian trên tấm gương đồng này biểu thị cái gì chứ?”

Pháp sư Á La nói: “Về điểm này thì cần phải xem đặc trưng toàn diện của tấm gương đã. Chúng ta tạm gác mười hai con giáp ở vòng thứ hai này lại, hãy xem hình vẽ ở vòng thứ ba trước. Mới ban đầu, chúng tôi đếm được hai mươi tư hình vẽ trong hoa văn hình sóng. Hai mươi tư hình vẽ này khiến chúng tôi cảm thấy rất khó khăn, mà trong tôn giáo quả thật có rất ít thứ liên quan đến con số này. Đầu tiên, chúng tôi giả thiết là Nhị thập tứ tổ, nhưng các hình ảnh này rất hung ác, ánh mắt tà dị, lại còn có cả thú lẫn người, hiển nhiên là không phù hợp với suy đoán ấy. Có điều, sau khi các vị trưởng lão quan sát kỹ bản rập, đã phát hiện ra mấy chỗ ẩn mật. Mọi người xem kỹ đi, chỗ vuốt rồng của Thanh long hướng về sóng biển này, có một chóp nhọn như cái sừng; bên dưới mỏ Chu tước, có bóng lưng thấp thoáng ẩn hiện; chỗ đuôi Bạch hổ, ngấm ngầm che giấu một móng vuốt; bên trên Huyền vũ không có gì, nhưng nếu quan sát kỹ, nhìn theo ánh mắt nó, sẽ thấy có hai đóa hoa sóng bắn tóe lên, nhưng lại không va vào nhau. Cộng với hai mươi bốn hình tượng còn lại, không khó để có thể lý giải rằng, ở đây còn một hình nữa, chẳng qua là đã bị giấu đi, ý chỉ rằng mắt người trần không thể nhìn thấy được. Nếu hiểu theo cách như vậy, vòng thứ ba của tấm gương này không phải chỉ có hai mươi tư hình, mà là hai mươi tám, mọi người có liên tưởng đến gì không?”

Nhạc Dương lẩm bẩm suy nghĩ: “Hai mươi tám, hai mươi tám? Hai mươi tám đại biểu cho cái gì nhỉ?” Trác Mộc Cường Ba giật mình, buột miệng thốt lên: “Nhị thập bát tú?” “Nhị thập bát tú!” Nghe Trác Mộc Cường Ba nói, Nhạc Dương cũng đã nhớ lại, nói: “A, tôi có chút ấn tượng, hình như là Nhị thập bát tú chi quỷ trong Phật giáo phải không?”

Pháp sư Á La gật đầu: “Không sai, ban đầu, khái niệm nhị thập bát tú được truyền từ Phật giáo Ấn Độ sang, thời cổ đại được dùng để quan trắc thiên tượng, phân chia làm tứ tượng, mỗi tượng có bảy tinh tú. Nói theo kiểu hiện đại bây giờ, mỗi tinh tú tức là một chòm sao đấy. Những ghi chép sớm nhất cho rằng Nhị thập bát tú là những chòm sao phân định sự vận hành của nhật nguyệt, đồng thời chia ranh giới của bầu trời. Ma Đăng Gia kinh quyển thượng,Đại Tập kinh quyển bốn mươi mốt, Tú Diệu kinh… tất cả đều có đề cập, dùng Nhị thập bát tú để ghi lại ngày tháng năm, hoặc luận tính chất củacác tinh tú, hoặc kết hợp với ngày tháng giờ sinh của người mà suy đoán cát hung họa phúc. Trong Phật giáo, Nhị thập bát tú không chỉ đại biểu cho hai mươi tám chòm sao, mà còn dùng để biểu thị Luân hồi túc quỷ, vì vậy còn gọi là Nhị thập bát quỷ. Về sau, Nhị thập bát tú lại được Đạo giáo ở Trung Nguyên dẫn dụng, rồi sắp đặt lại thành Nhị thập bát tú tinh quân, vì vậy, nó có thể biểu thị rất nhiều ý nghĩa. Ngoài ra, trong nghi thức tế bái Mạn Đà La, nó cũng có một vị trí nhỏ nữa.”

Pháp sư Á La chạm tay vào Nhị thập bát tú tinh đồ giữa làn sóng biển ở mặt sau tấm gương đồng, nói: “Đương nhiên, khi chúng tôi mới đếm được tổng cộng có hai mươi tám đồ hình khác nhau, cũng chưa dám đoán định đó chính là Nhị thập bát tú, bởi vì trong các kinh điển của Phật giáo, còn có cả Nhị thập bát tổ, Nhị thập bát thiên, Nhị thập bát bộ… nữa, mỗi tên gọi đều hàm nghĩa khác nhau. Cuối cùng, sau khi thẩm định nhiều lần, mới nhận định hai mươi tám đồ hình đó biểu thị cho Nhị thập bát tú. Có điều, những tri thức về thiên văn lịch pháp có liên quan tới Nhị thập bát tú quả thực quá nhiều, quá phức tạp, nên tôi chỉ có thể nói với mọi người một cách đơn giản là, ở trên phương Tây Nam, là sao Quỷ, thuộc phân khu quản hạt của Nam phương Chu Tước. Bảy sao dưới sự quản hạt của Nam phương Chu Tước là Cảnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Trong kinh sách gọi sao Quỷ này là An Tiểu Đề, đến ngày trực nhật, nó sẽ truyền bệnh dịch, khiến người ta nằm mơ giao hoan với một người đàn bà hoặc đàn ông, dẫn đến tinh thần suy kiệt. Bệnh dịch này đồng thời lây lan giữa những người trong một nhà, khiến cả nhà khô héo tiều tụy, không đầy ba năm, tất cả sẽ bị hút cạn tinh huyết mà chết.”

Trương Lập ngạc nhiên nói: “Ồ, thì ra người ta hay nóitinh tận nhân vongchính là để chỉ nó hả!”

Pháp sư Á La mỉm cười điềm đạm nói: “Tóm lại, một hàng dọc theo hướng Tây Nam này, lần lượt chính là trâu trong mười hai con giáp và chòm sao Quỷ trong Nhị thập bát tú. Vậy là chúng ta có thể biết được một cách đại khái rồi, chòm sao Quỷ là tinh tú, đại biểu cho nguồn sáng, Chu tước và Bạch hổ đều là tứ tượng, đại biểu cho phương vị, trâu là một trong mười hai con giáp, đại biểu cho thời gian, cũng có nghĩa là, khi sao Quỷ vận hành đến giờ Sửu (trâu), chiếu ánh sáng từ phương Tây Nam xuống, sẽ có thể nhìn thấy hình ảnh rõ nét trên tường, nhưng tại sao chúng ta lại không thể nhìn thấy hình ảnh đó chứ? Tôi nghĩ, đáp án có lẽ nằm ở bên ngoài vòng thứ ba…”

“Đợi chút đã!” pháp sư Á La còn chưa dứt lời, Nhạc Dương đã kêu ré lên, hai hàng lông mày nhíu chặt. Anh chàng vỗ vỗ trán, nói: “Tôi đã nghe thấy câu này ở đâu rồi ấy nhỉ, để tôi nhớ lại xem nào, nhất định là đã nghe thấy ở đâu rồi.” Trương Lập ở bên cạnh nói: “Kỳ lạ thật, sao hình như tôi cũng từng nghe rồi thì phải?” Bị vẻ thần bí của Nhạc Dương và Trương Lập ảnh hưởng, nhất thời tất cả những người trong phòng đều nảy sinh ra cảm giác tương tự, tựa như đã từng nghe thấy câu này ở đâu đó rồi, cùng lặng yên lục tìm trong ký ức, đã nghe thấy ở đâu rồinhỉ? Nhạc Dương lẩm bẩm: “Quỷ? Ngưu? Quỷ… ngưu…, Quỷ vu kim ngưu!” Anh và Trương Lập đồng thanh kêu lên! “Đại hồng liên diệu!” Trác Mộc Cường Ba cũng lập tức sực hiểu ra, tiếp một câu, đó là chuyện của hơn một năm về trước ở Cánh cửa Sinh mệnh. Hơn năm ròng bôn ba vất vả cơ hồ đã khiến họ quên sạch cả mấy câu kệ ấy.

“Văn Thù Bồ Tát, cầm đồng thủy trước ngực mở ra Vô Lượng Minh…” Giáo sư Phương Tân hết sức nhanh chóng tìm trong dữ liệu máy tính ra đoạn băng ghi hình đó, mọi ánh mắt lập tức được đưa trở về căn mật thất dưới lòng đất ở Cánh cửa Sinh mệnh: giáo sư Phương Tân đang chụp ảnh cái miệng cá tượng trưng cho núi Tu Di, còn pháp sư Á La ở bên cạnh thận trọng giải thích: “Thực ra, nội dung khắc trên tường, chắc là một phương pháp để xuất hiện hình ảnh. Quỷ ở đây không phải quỷ quái theo nghĩa truyền thống, mà là một trong Nhị thập bát tú. Kim ngưu là thời gian, ý tức là vào thời gian ‘kim ngưu’, sao Quỷ sẽ ở chính giữa phía trên Cánh cửa Sinh mệnh; Đại hồng liên diệu, rất rõ ràng chính là ánh sángsẽ chiết xạ qua viên hồng ngọc này, Đại hồng liên đồng thời cũng chính là thánh vật ở nơi sâu thẳm nhất trong Bát Đại Băng Đông địa ngục, mấy thứ này đều không quan trọng. Ừm… Văn Thù Bồ Tát… phải rồi, mọi người nhìn xuống sàn nhà xem, có mấy nơi hình dáng không theo quy tắc, mà có hình lá sen.”

Giáo sư Phương Tân, pháp sư Á La, Trác Mộc Cường Ba, Đường Mẫn, Trương Lập, Nhạc Dương, tất cả đều kinh ngạc đến bần thần, ngây người nhìn vào màn hình máy tính, tựa như đã trở lại hang động ấy… Ngoài bốn chữ “không thể tin được” ra, trong đầu họ chỉ còn là một vùng trắng trống rỗng.

“Sao có thể như vậy được, sao có thể như vậy được?” Trương Lập lẩm bẩm hai ba lượt. Nhạc Dương cũng phụ họa theo:

“Đúng thế, một thứ ở châu Mỹ, một thứ ở Cánh cửa Sinh mệnh, cách nhau cả mười vạn tám nghìn dặm, rốt cuộc là chuyện gì đây nhỉ?” “Thật không dám tin nữa, đây có phải là trùng hợp không? Chắc không phải chứ?” Đường Mẫn kêu lên.

“Đức Ma Hê Thủ La vạn năng, dưới ánh sáng thần thánh của Người, chúng con sẽ đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác!” pháp sư Á La chắp tay thầm khấn nguyện.

Trác Mộc Cường Ba cũng không sao hiểu nổi: “Rốt cuộc là chuyện gì đây? Sao lại như vậy? Sao lại đặt cùng một thứ ở hai nơi cơ hồ như vĩnh viễn không thể nhìn thấy nhau? Vị sứ giả hơn nghìn năm trước ấy rốt cuộc đã nghĩ gì vậy?” Lúc này, người duy nhất vẫn còn giữ được sự tỉnh táo là giáo sư Phương Tân, ông kéo vạt áo Trác Mộc Cường Ba, lớn tiếng nói: “Cường Ba, Cường Ba, viên đá đó đâu rồi? Cậu để đâu rồi? Viên hồng bảo thạch ấy?”

Lữ Cánh Nam cũng nói: “Lúc đó sau khi giao cho cơ quan nhà nước nghiên cứu, tôi đã lấy về trả cho anh rồi mà.” Trác Mộc Cường Ba giật mình sực tỉnh, vội vàng nói: “Trong tủ mật mã, trong tủ mật mã chuyên để tài liệu của chúng ta, tôi đi lấy ngay đây!”

Trác Mộc Cường Ba lấy trong tủ bảo hiểm ra viên hồng bảo thạch to bằng cái cúc áo, tất cả mọi ánh mắt đều bị hút vào đó, tựa hồ như viên đá đỏ như giọt máu ấy phát ra những tia sáng chói lòa rực rỡ.

Giáo sư Phương Tân kích động đến độ suýt chút nữa đã đứng dậy khỏi xe lăn, nhưng ông cố ghìm tinh thần đang hưng phấn của mình, đồng thời cũng để mọi người khắc chế bản thân, không ngừng nhấn mạnh: “Chớ nên gấp, chớ nên gấp, từ từ thôi, nghĩ đi, nghĩ trước đi đã, viên đá đỏ ấy đặt ở giữa, đóa sen của Văn Thù Bồ Tát đặt cách Tu Di sơn bao xa nhỉ? Trương Lập, cậu đứng lên, hướng Tây Nam, đúng đúng đúng, để mọi người nhìn, tượng Bồ Tát ấy có lẽ cao bằng người, đúng, để tôi đưa tấm gương đồng đến vị trí cao ngang ngực cậu, được… tiếp đó sẽ là viên hồng bảo thạch này, cần thêm một chiếc bàn nữa, Nhạc Dương, Cường Ba, kê cái bàn kia lại đây, nhanh lên, nhanh lên, cẩn thận, cẩn thận!…”

Dưới sự chỉ huy hết sức bình tĩnh của giáo sư Phương Tân, căn phòng lập tức biến dạng, viên hồng bảo thạch được đặt giữa bàn, dùng một cái đầu đũa chống lên, tấm gương đồng cũng đã được đặt lại phương vị. Giáo sư Phương Tân cầm một bộ điều khiển từ xa để bật tắt chùm sáng, ngón tay cái mân mê trên nút bấm tựa như trong tay ông là bộ điều khiển phát nổ của quả bom vậy.

Trương Lập nói: “Chẳng trách chúng ta chỉ có thể thấy cái bóng mờ mờ chứ không thể nhìn rõ hình ảnh, thì ra là bởi chúng ta chỉ sử dụng chùm sáng bình thường. Ánh sáng sau khi được viên hồng bảo thạch này chiết xạ sẽ biến thành một chùm sáng tán xạ, lúc chiếu lên gương chắc sẽ có hiệu quả khác, ừm, xem ra lại có kỳ tích rồi đây.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Không chỉ có vậy, rất có khả năng cổ nhân đã sử dụng kỹ thuật trùng điệp ảnh, còn nhớ tấm ảnh chụp được ở Maya không? Rất có thể là một phần hình ảnh được khắc trên viên bảo thạch, một phần lại khắc trên tấm gương đồng, chỉ lấy được một trong hai vật ấy thì vĩnh viễn không thể nào có được tấm hình hoàn chỉnh, chỉ khi chồng hai hình ảnh lên nhau, mới có được ảnh phản chiếu hoàn chỉnh.”

Nhạc Dương lắp bắp: “Có… có khả năng vậy sao? Người… người xưa làm sao có được kỹ thuật đó chứ?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Có khả năng ấy lắm, từ thời Đường, kỹ thuật làm gương thấu quang đã đạt tới trình độ đỉnh cao rồi. Khi tra tìm sử liệu, chúng tôi đọc được một đoạn nói rằng, lúc Văn Thành công chúa nhập Tạng, để nàng không cảm thấy cô đơn nơi nước người, Đường Trung Tông đã lệnh cho các thợ khéo trong đại nội mài một tấm gương đồng đưa đến Tây Tạng. Khi công chúa nhớ nhà, có thể dùng tấm gương này chiếu ánh sáng hắt lên tường, trên đó sẽ hiện ra hình ảnh người thân. Còn có thuyết nói rằng, khi tấm gương thay đổi phương vị, trên tường sẽ hiện ra những hình ảnh khác nhau. Kỹ thuật tinh diệu thần kỳ ấy, được người Tạng gọi là ma kính. Kỹ thuật gương thấu quang này hình như lưu truyềnđược đến đời Tống thì mất dần.”

Pháp sư Á La nói: “Đừng thảo luận mấy chuyện lặt vặt đó nữa, giáo sư Phương Tân, ông bật đèn lên đi.”

Giáo sư Phương Tân trịnh trọng ấn nút trên điều khiển, một chùm sáng đỏ chiếu đúng vào viên hồng bảo thạch. Khi vị trí của nguồn sáng không ngừng thay đổi, dần dần, đã có một chùm sáng đỏ khác được viên bảo thạch chiết xạ bắn ra, từ phương thẳng chuyển thành phương ngang, tia sáng khuếch tán từ gần ra xa, giống như là quầng sáng của đèn pin, vừa khéo trùng với kích thước của gương đồng. Giáo sư Phương Tân lại ấn thêm một nút khác, cho tấm gương bắt đầu tiến dần lên đón lấy quầng sáng đỏ ấy, rồi điều chỉnh phương vị, khoảng cách cho phù hợp. Tất cả mọi người đều nín thở chờ đợi, nhìn chằm chằm vào mặt tường trắng đối diện với tấm gương, trên tường chỉ hắt ra một quầng sáng tròn cao bằng người.

Một bóng mờ bắt đầu xuất hiện, dần rõ nét hơn. Giáo sư Phương Tân cố đè nén tâm trạng kích động, giữ bộ điều khiển trong tay cho tốc độ di chuyển và xoay của gương đồng từ từ chậm lại. Cuối cùng, bức họa thần bí đã từ từ trải ra trước ánh mắt chờ đợi của tất cả mọi người, tựa như có dòng nước chậm chạp ngấm dần từ trên đỉnh bức tường xuống, lại như vầng thái dương mới nhú nâng dần đường phân giới của bóng ảnh trên tường lên cao, tất cả đều như mộng ảo, khiến mọi người có mặt ở đó đều mê mẩn.

Nơi đó có núi non vây quanh, vô số ngọn núi sừng sững trải rộng như cánh hoa sen, chính giữa đóa hoa là một vách núi dựng đứng cao ngất, từ đó vươn ngang ra ba bình đài, không phải dạng bậc thang mà lơ lửng ghim vào vách đá như răng cưa, thác nước, mây trời bao bọc tứ phía, vô số cung điện, đình đài, lầu các ẩn hiện thấp thoáng. Trong khung cảnh huyền ảo mơ hồ ấy, lại có cả chim hạc, chim ưng bay lượn, thật đúng là như chốn Thiên cung tiên cảnh, chỉ có màu nền vẫn là một quầng đỏ hồng, thoạt trông rất giống một tác phẩm thuộc trường phái hội họa trừu tượng.

Cả đám người đều nhìn đến thất thần, giáo sư Phương Tân cũng quên cả cố định tấm gương đồng, mãi đến lúc tấm gương xoay đi góc độ khác, hình ảnh dần dần trở nên mơ hồ mờ nhạt, mọi người mới giật mình sực tỉnh. Nhạc Dương cuống quýt kêu lên: “Giáo sư, qua rồi, qua rồi!”

Giáo sư Phương Tân giật thót người, vội vàng điều chỉnh tấm gương quay trở lại. Pháp sư Á La chợt lên tiếng: “Không đúng, ánh sáng này không đúng, các vì sao chiếu ra ánh sáng tự nhiên, thông qua hồng bảo thạch chiết xạ mới thành ánh sáng đỏ, nhưng đây chúng ta lại trực tiếp dùng ánh sáng đỏ, vì vậy hình ảnh vẫn chưa chính xác, phải đổi nguồn sáng khác đi.”

Giáo sư Phương Tân liền điều chỉnh lại quang phổ, sử dụng ánh sáng tự nhiên chiếu vào. Lần này, hình ảnh họ nhìn thấy đảo ngược lại, dần dần hình thành từ dưới lên trên, giống như một màn ảo thuật. Một cảnh tượng càng khiến người ta không dám tin vào mắt mình lại xảy ra, cả một vùng bên ngoài trần thế đào nguyên rực rỡ sắc màu, vô số lầu các đình đài rực rỡ ánh vàng lơ lửng trên không trung, từ từ trải hiện ra trước mắt đám người may mắn.

Sau khi đổi sang sử dụng ánh sáng tự nhiên, chùm sáng được viên bảo thạch chiết xạ không ngờ lại không biến thành rực rỡ bảy màu liên tiếp như cầu vồng, mà lại như ngòi bút của nhà danh họa, phân bố hết sức hài hòa thành trời xanh mây trắng, núi tuyết mênh mang, tùng xanh hoa đỏ, chim bay thú chạy, vệt ráng hồng kia vừa khéo tạo thành vầng dương đang lấp ló phía trời Đông. “Đây… rốt cuộc là… sao mà làm được vậy!” Trương Lập đứng gần bức tường nhất, vươn tay ra chạm vào đó, trên mu bàn tay lập tức hiện lên một kiến trúc dạng cung điện, tường trắng đỉnh vàng, cột nhà màu đỏ rực, xà rường đều rực rỡ sắc màu, nhìn rõ cả những điêu khắc chạm trổ trên song cửa. Trên lưng con thú gắn trên nóc nhà có một con chim đang đậu, ánh sáng lấp lóa lướt qua như mộng như ảo. Trương Lập nín thở một hồi lâu, như chỉ sợ mình thở ra một hơi, sẽ khiến con chim nhỏ không bằng đầu kim kia sợ hãi mà bay đi mất.

Đợi đến lúc bức họa trải hết ra, chỉ thấy núi tuyết sừng sững, cây xanh mơn mởn, mây lành vấn vít rạng rỡ, khe núi mờ mịt, nhìn xa thấy tiên sơn lừng lững, núi non san sát, thanh sơn ngọc tuyền, khí thế hiên ngang, lầu đài dựa vào núi non, ẩn hiện tựa thiên cung vườn thánh, rộng rãi khoáng đạt, khí tượng dạt dào. Đến chỗ gần, càng có thể thấy lưu ly rực rỡ, hươu nai chạy nhảy…

Trước tác phẩm nghệ thuật tinh xảo hơn cả tạo hóa ấy, bất cứ hình dung nào cũng đều là vô nghĩa. Ánh mắt hút theo luồng sáng, tâm tình cũng theo cảnh vật mà dập dờn dao động, ở vòng ngoài cùng của cảnh tượng, vẫn là mấy ký hiệu mật mã Tạng cổ được phóng to lên mấy lần, lồ lộ như khắc trên tường “Hương Ba La mật quang bảo giám”.

Trong khoảnh khắc, thời gian không gian như ngưng đọng, đến hơi thở cũng ngừng theo, cả đám người ngây nhìn hình ảnh trên tường, cảnh đẹp mỹ diệu trên đó đã thu hút trọn linh hồn họ. Tiên cảnh trong truyền thuyết trải qua nghìn năm vùi lấp trong lịch sử, cuối cùng đã trùng hiện lên trước mắt người đời.

Bí mật đằng sau hình ảnh phản chiếu (1)

Khoảnh khắc ấy, đám người đi tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu cuối cùng cũng đã được thoáng nhìn qua vị trí của Bạc Ba La. Bạc Ba La thần miếu vốn vẫn chỉ được cho là có tồn tại, trong phút chốc trở nên rõ rệt mà gần gũi vô cùng. Bọn Trương Lập, Nhạc Dương thảy đều ngẩn ngơ không thốt lên nổi một lời, hoàn toàn bị hình ảnh chiếu xạ trên tường chinh phục, còn pháp sư Á La thì không biết đã thành tâm khẩn cầu Phật bao nhiêu lần, Đường Mẫn lại càng kích động đến độ nước mắt lã chã tuôn rơi, kéo vạt áo Trác Mộc Cường Ba nhảy cẫng lên, mừng rỡ: “Tìm thấy rồi, cuối cùng chúng ta cũng tìm thấy rồi!” Bàn tay Trác Mộc Cường Ba mạnh mẽ đặt lên vai Đường Mẫn, cũng kích động không kém gì cô: “Đúng thế, cuối cùng đã tìm thấy rồi.”

“Bước vào ngưỡng vọng, ngẩng đầu rồng giương cánh phụng; Lui ra ngửa mặt, cây cao ngất núi vờn mây…” giáo sư Phương Tân chốc chốc lại gật đầu, tựa như đang thưởng thức mỹ tửu danh trà; chốc chốc lại lắc đầu, chỉ thấy trời đất bao la không gì li kì là không có, đột nhiên trông thấy một bức tranh như thế nhất thời cũng chưa dám tin vào những gì đang tận mắt nhìn thấy, tiếc nhất là, bản thân ông lại không thể nào đến được nơi như thế.

Hồi lâu sau, Trương Lập mới cấu mạnh vào tay Nhạc Dương, Nhạc Dương hét toáng lên kêu đau oai oái, Trương Lập mới nói: “Không phải nằm mơ, Shangri-la tồn tại thật hay sao? Thật sự có một nơi như thế hay sao?”

Nhạc Dương giơ bàn tay bị Trương Lập cấu đến tím bầm xoa mạnh dưới cằm, thở dài cảm thán: “Kỳ tích, đây đúng là kỳ tích, đừng nói là một nghìn năm trước, dẫu là một nghìn năm sau nữa, cũng chỉ có thể dùng hai chữ ‘kỳ tích’ để hình dung mà thôi!”

Cảm giác kinh ngạc và mừng rỡ ban đầu từ từ lắng xuống, giáo sư Phương Tân nói: “Được rồi, các bạn của tôi, chúng ta còn chưa tìm thấy nơi đó đâu, giờ mới chỉ được nhìn hình ảnh của Bạc Ba La thần miếu mà thôi. Khoảnh khắc kích động đã qua đi rồi, cần phải dùng lý trí để quan sát, cần phải tìm ra con đường chúng ta sẽ đi. Nhạc Dương, bên trong kia có cái tủ, kê ở đầu giường ấy, tủ màu đỏ ấy, nhìn thấy chưa? Trong đó có máy quay phim đấy, bắt đầu làm việc, tôi còn phải tiếp tục điều chỉnh vị trí của tấm gương đồng một chút nữa để được hình ảnh rõ nét nhất, cậu lấy máy quay phim ghi lại toàn bộ quá trình thay đổi, sau đó chúng ta sẽ dùng máy tính xử lý lại, OK?”

Nhạc Dương đi lấy máy quay, giáo sư Phương Tân bắt đầu tiếp tục điều chỉnh vị trí tương đối giữa tấm gương và viên hồng bảo thạch, đồng thời nói: “Mọi người thấy bức tranh tiên cảnh này như thế nào?”

Đường Mẫn lên tiếng: “Rất giống trong các tài liệu về Shangri-la mà chúng ta tìm được, rất nhiều tài liệu miêu tả như vậy, đó là một nơi thần bí ẩn tàng đâu đó trên cao nguyên Thanh Tạng, cả vương quốc được bao bọc trong hai tầng núi tuyết, gồm tám khu vực tựa như tám cánh hoa sen, chính giữa là núi tuyết, ban đầu được gọi là Vương cung Kala, trong đó có lãnh tụ tối cao của vương quốc Shangri-la. Tương truyền, những cư dân sống ở Shangri-la đều là Thánh nhân có trí tuệ vời vợi, thân thể cao lớn, lại sở hữu sức mạnh của thiên nhiên, cho đến ngày nay, họ vẫn lợi dụng nền văn minh phát triển cao độ, thông qua một đường hầm bí mật gọi là ‘cái rốn của quả đất’ để liên hệ với thế giới này, đồng thời khắc chế và kìm hãm thế giới này. Sự thực thì, đã từ rất lâu rồi, đường hầm thần bí gọi là ‘cái rốn của quả đất’ này vẫn luôn được coi là con đường duy nhất dẫn đến Shangri-la, đồng thời trở thành mấu chốt quan trọng trong quá trình tìm kiếm vùng thánh địaấy.”

Pháp sư Á La nói: “Shangri-la là một thế giới thần bí được núi tuyết vây bọc. Trong Phật giáo, Shangri-la là thánh địa mà con người ngưỡng vọng, nằm ở phía Bắc Nam Thiêm Bộ châu, hình tròn, dạng như tám cánh hoa sen, quanh vùng trung tâm và hai bên những cánh sen đều có núi tuyết, các cánh sen được phân tách bởi dòng nước hoặc núi tuyết. Núi tuyết và núi trọc, núi đá và cỏ cây, rừng cây ăn quả, hồ nước, viên lâm… đều được bố trí hài hòa đến độ khiến người ta say mê ngây ngất. Ở nơi đó không có nghèo đói và khốn khổ, không có bệnh dịch và cái chết, cũng không có những nghi kỵ gian trá giữa người và người, lại càng không có oán hận hay giết chóc… Ở nơi đó quanh năm hoa nở, nước trong leo lẻo, mùa màng lúc nào cũng chờ người thu hoạch, quả cây ngọt lịm rung rinh đầu cành, vàng bạc la liệt, núi non chất đống ngọc ngà, tiện tay nhặt lên một viên cũng hết sức trân quý. Đương nhiên ở đó không dùng đến tiền, bởi có tiền cũng vô dụng. Người ở đó có thể dùng ý niệm chi phối tất thảy vạn vật ở ngoại cảnh, hễ thấy lạnh, quần áo sẽ tự động dày thêm, khi nóng sẽ lại tự mỏng đi; muốn ăn thứ gì, các món ăn ngon ngọt sẽ tự bay đến trước mặt, no rồi, thực phẩm lại tự động lui đi. Tuổi thọ của người ở Shangri-la phải tính bằng con số nghìn năm, muốn sống bao lâu thì sống bấy lâu, chỉ khi nàosống chán chường rồi, cảm thấy nỗi khổ của sự trường thọ, muốn nếm mùi cái chết ra sao, mới thoải mái thong dong màchết…”

Trương Lập đứng bên cạnh giúp Nhạc Dương điều chỉnh máy quay phim, nghe pháp sư Á La giảng giải, bất giác ngẩng đầu lên: “Ồ, thế chẳng phải là…, chỉ có Vườn Địa đàng mới hoàn mỹ như vậy thôi chứ.”

Đường Mẫn lại lên tiếng: “Không chỉ có vậy thôi đâu, có sách còn chép rằng, Shangri-la nằm trên hòn đảo nổi giữa một cái hồ đầy rượu ngon, có tòa vương cung nằm giữa khu rừng thần thánh, muốn đến hòn đảo đó, cần phải ngồi lên ‘kim điểu’ mới đi được. Còn có sách khác chép rằng, ở khu vực Khang Ba từng có một đứa trẻ đã đến Shangri-la. Đứa trẻ trông thấy những đóa sen to bằng bánh xe, vì đi đường mệt quá, liền nằm trên cánh sen khổng lồ thiếp đi một giấc, lúc tỉnh dậy thì thấy toàn thân thơm ngát dìu dịu. Trở về đến nhà, cha mẹ đứa trẻ đều đã qua đời, xung quanh là một đám người già tóc bạc. Đứa trẻ phải mất một lúc lâu, mới nhận ra những ông bà già ấy đều là bạn bè năm xưa chơi chung vớimình.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Tóm lại, ở Tây Tạng mà cậu muốn nghe truyền thuyết về Shangri-la thì có nghe mười ngày mười đêm cũng không hết, rất nhiều câu chuyện vừa tường tận kỹ càng lại vừa sinh động hấp dẫn, có điều không ai chứng thực được mà thôi. Trước đây, tôi vẫn luôn cho rằng, đó chỉ là một vùng lạc thổ tự do và hạnh phúc tồn tại trong lòng những người nông nô chịu nhiều tầng áp bức ở xã hội cũ, chưa bao giờ tin rằng đó lại là sự thật, nhưng hôm nay…, thật đúng là không thể nào ngờ được, thật không thể nào ngờ được… trên đời này lại có một nơi như vậy tồn tại!”

Giáo sư Phương Tân nói: “Đúng vậy, kỳ thực bất kể là trong phiên bản truyền thuyết nào, hình dáng của Shangri-la cũnggiống nhau một cách kinh ngạc, có hình bông sen tám cánh. Từ điểm này, có thể nhận thấy rằng, nơi này cũng không hoàn toàn chỉ là tưởng tượng và bịa đặt của người xưa, nhất định là phải có một hình mẫu nào đó. Mọi người nhìn thử mà xem, bức họa này và vương quốc Shangri-la trong truyền thuyết kia thật giống nhau, mấy ngọn núi tuyết kia đều uốn quanh, trông có giống một cánh hoa màu trắng không?”

Trương Lập nói: “Nhưng làm gì có tám cánh chứ?”

Giáo sư Phương Tân giải thích: “Những người thợ ngày xưa muốn hình ảnh của Bạc Ba La thần miếu hiện lên, nên đã xử lý rất tốt địa hình tổng thể của vùng Shangri-la này. Chúng ta chỉ có thể thấy bốn ngọn núi tuyết, nhưng đây thuộc hướng đối diện Bạc Ba La thần miếu, còn hướng không nhìn thấy kia thì lại nằm ở sau lưng, có lẽ còn bốn ngọn núi tuyết nữa đấy. Nhìn xem, vì chiết xạ qua viên hồng bảo thạch, nên màu nền cũng là một sắc hồng nhàn nhạt, nhưng mọi người có để ý thấy không, ở phía trên cùng kia có những vệt mờ mờ, đó chính là khoảng trống hình cung giữa hai ngọn núi mà chúng ta không thấy được đó, thật đúng là tinh xảo hết mức.”

Nhạc Dương nói: “Vậy thì bao nhiêu những kiến trúc như cung điện ở trong đây đều là Bạc Ba La thần miếu cả à?” Trác Mộc Cường Ba lắc đầu: “Không, Bạc Ba La thần miếu có lẽ chỉ là một trong những tòa cung điện ở đây thôi, bên trong còn rất nhiều công trình khác nữa, vương cung của Shangri-la chẳng hạn, ít nhất là các truyền thuyết đều nói nhưvậy.”

Nhạc Dương lại hỏi: “Vậy thì, tòa nào mới là Bạc Ba La thần miếu đây?” Đường Mẫn nói: “Chắc là tòa cao nhất kia rồi!” Trương Lập phản đối: “Không phải, chắc là tòa tráng lệ nhất kia kìa.” Đường Mẫn cãi: “Không, là tòa cao nhất chứ!” “Không đúng!”

Pháp sư Á La lên tiếng: “Có gì mà phải tranh cãi, những tòa cung điện mà mọi người trông thấy ở đây, đều không phải là Bạc Ba La thần miếu.”

Trương Lập và Đường Mẫn ngoảnh đầu lại, đồng thanh “ủa” lên một tiếng.

Giáo sư Phương Tân gật đầu: “Không sai, tôi đồng ý với cách nhìn của pháp sư Á La, trong những tòa cung điện chúng ta nhìn thấy ở đây, không hề có Bạc Ba La thần miếu. Đầu tiên là phong cách kiến trúc, không có tòa nào có phong cách gần giống với Đảo Huyền Không tự và Cánh cửa Sinh mệnh, tất cả những kiến trúc này nếu không tinh tế tỉ mỉ thì lại nguyên thủy đơn sơ, rõ ràng không được xây dựng cùng một thời kỳ. Còn nữa, thử nhìn lại những kiến trúc hiện ra bên ngoài này đi, mọi người có để ý thấy hay không vậy? Không có cái nào hoàn chỉnh cả, nếu không bị đá núi che khuất thì lại ẩn hiện sau rừng cây. Tuy nói là chúng ta trông thấy, nhưng thực ra đó đều chỉ là một phần của tổng thể kiến trúc mà thôi. Có thể nói rằng đây là một thứ thủ pháp nghệ thuật của người xưa, khiến cho các đình đài lầu các thêm vẻ thần bí huyền hoặc, càng có sức hút hơn, nhưng nếu xét trên mục đích của tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu thì rõ ràng là không ổn chút nào. Phải biết là, vị sứ giả mang theo ba tín vật kia ra thế giới bên ngoài, mục đích chính là để hậu nhân có thể lần theo đầu mối mà ba thánh vật này cung cấp tìm đến Bạc Ba La thần miếu. Vậy thì, dù cho không để Bạc Ba La thần miếu lồ lộ ra trước mắt chúng ta, ít nhất cũng phải có một dấu hiệu rõ ràng, để người ta có thể chú ý đến chỗ ấy. Màtrong toàn bộ tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu này, dấu hiệu duy nhất chính là đây…” giáo sư Phương Tân điều khiển xe lăn đến sát chân tường, gắng hết sức vươn người và cánh tay chỉ vào một điểm trên tường.

Mọi người đều nhìn theo ngón tay giáo sư Phương Tân chỉ tới, quả nhiên, trong toàn bộ bức họa được gương đồng phản chiếu lên tường, ánh sáng đỏ tụ thành một điểm đỏ hết sức bắt mắt ở đó, giống như có ống ngắm hồng ngoại hướng lên tường vậy. Đó là một vị trí ở mép bình đài tầng thứ ba, một chấm đỏ lộ ra giữa khoảnh rừng rậm. Nhạc Dương không kìm được buột miệng hỏi: “Nhưng ở đó có gì đâu chứ?”

Giáo sư Phương Tân nói: “Đúng thế, chính là không có gì cả, mọi người nghĩ kỹ lại xem, lối vào Cánh cửa Sinh mệnh nằm ở đâu, lối vào Đảo Huyền Không tự nằm ở đâu? Những chỗ đó chẳng phải là cũng không có gì hết cả hay sao? Như thế mới phù hợp với phong cách kiến trúc của tôn giáo kia, kiến trúc vùi sâu trong lòng đất, lối vào căn bản không thể phân biệt được, đó mới là Bạc Ba La thần miếu mà chúng ta đang kiếm tìm!”

Nhạc Dương vẫn thắc mắc: “Nhưng mà…” Giáo sư Phương Tân lại nói tiếp: “Hơn nữa, hãy chú ý quan sát xem, ở đây không chỉ có một điểm đỏ thôi đâu, hãy nhìn màu nền của cả bức họa, từ khoảng cách xa, màu nền nhàn nhạt ấy chia làm hai khối, giống như là hai miếng băng dính đỏ trong suốt vậy, khi dán chồng lên nhau, màu sắc sẽ đỏ hơn một chút, có thấy hay chưa? Phần trùng lắp này, lờ mờ phác họa ra con đường dẫn đến điểm đỏ ở kia, đây tuyệt đối không thể nào là trùng hợp. Những người thời cổ đại này rất giỏi đem bí mật ẩn giấu bên trong những thứ tưởng chừng như hết sức bình thường, giống như là các đồ hình đằng sau tấm gương đồng kia vậy, thoạt nhìn tưởng chẳng có gì đặc biệt, ai ngờ nó lại ẩn chứa bao nhiêu thông tin như thế.”

Nhạc Dương trợn tròn mắt lần theo đường màu đỏ sậm hơn một chút ấy, kinh ngạc thốt lên: “Đúng thật đấy, nói theo kiểu của trinh sát chúng tôi, phần màu đỏ này chính là một đường đánh dấu, chỉ cách để từ chỗ thấp nhất đi một mạch lên tầng bình đài thứ ba. Người xưa đã giấu nó giữa đá núi và màu nền tự nhiên, thật không thể nào tin được, mắt giáo sư thật là tinh tường.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Trong lòng có nghĩ đến thì mới tìm ra được. Ngay từ lúc mới nhìn thấy bức họa này, ngoài kinh ngạc chấn động ra, tôi còn cảm thấy có nhiều điểm hết sức kỳ quái, chính sự nghi hoặc ấy đã dẫn dắt tôi tìm thấy chỗ đánh dấu này.”

Pháp sư Á La nói: “Nhưng, chúng ta vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa giải quyết được.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Không sai, dựa theo các ghi chép trong cổ thư, tòa thành ánh sáng tỏa chiếu này có lẽ là món tín vật thứ hai được vị sứ giả kia mang ra thế giới bên ngoài. Giáo sư Phương Tân đã phá giải được câu đố, khiến chúng ta biết rằng, nó chỉ dẫn cách thức từ tầng thấp nhất của Shangri-la leo lên bình đài tầng thứ ba để tìm thấy lối vào Bạc Ba La thần miếu, nhưng làm sao tìm được Shangri-la thì chúng ta vẫn chưa hề có đầu mối nào cả.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Còn nhớ cái khóa gỗ cổ xưa của Trung Quốc mà chúng ta phải gỡ ra trong lúc luyện tậpkhông?”

Đường Mẫn đưa mắt nhìn Trác Mộc Cường Ba. Trác Mộc Cường Ba liếc sang phía Nhạc Dương và Trương Lập. Hai anh chàng đưa mắt nhìn nhau. Rồi cả bốn người đều hướng ánh mắt về phía giáo sư Phương Tân. Câu nói vừa rồi của ông khiến họ như ngộ ra được điều gì đó. Giáo sư lại tiếp tục: “Khi mọi người gỡ xong mảnh đầu tiên của khóa gỗ, những mảnh còn lại sẽ tự động được gỡ ra một cách dễ dàng. Tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu này chính là mảnh gỗ đầu tiên chúng ta gỡ ra được đó. Còn chuyện làm sao mới đến được Shangri-la, tôi tin rằng, chẳng mấy chốc nữa chúng ta sẽ tìm ra được thôi. Giờ đây, điều chúng ta cần phải làm, chính là dựa vào bức họa này để tìm thêm nhiều đầu mối nữa. Nãy giờ đều chỉ biết ngây ngất ngắm bức họa tinh diệu tuyệt mỹ này, giờ ai có thể nói cho tôi biết, mọi người có phát hiện ra nó có điểm gì bất thường hay không?”

Trương Lập giành nói trước: “Tôi biết rồi, tầng mây ở trên cùng có vấn đề.” Anh chàng hướng về phía Nhạc Dương nhướng mày một cái, rồi lại nói: “Đó rốt cuộc là áng mây hay là thứ gì chứ? Một con rắn rực rỡ nhiều màu? Những cái lông tua tủa ở rìa ngoài kia là gì chứ?”

Giáo sư Phương Tân gật đầu khen: “Đúng vậy, đây là điểm dị thường nổi bật nhất trong bức tranh này, xung quanh không phải là gai chĩa ra, mà là chùm ánh sáng mới đúng. Khả năng quan sát tự nhiên của cổ nhân hết sức nhạy bén, từ thời viễn cổ họ đã chú ý phát hiện ra mặt trời tỏa sáng theo những đường tròn đồng tâm. Có rất nhiều dân tộc từ thời xa xưa ăn lông ở lỗ, đã biết dùng một vòng tròn, có thêm một vòng tua tủa như vậy để biểu thị mặt trời trong các bức bích họa của mình rồi.”

Trương Lập thất thanh kêu lên: “Cái… cái gì chứ? Ý giáo sư muốn nói, đây là mặt trời hay sao? Trông dài thườn thượt thế, bảo là ống đèn huỳnh quang nghe còn có lý hơn, mặt trời sao lại như thế được?”

Giáo sư Phương Tân nói: “Vậy nên mới nói đây là một điểm kỳ quái, theo lý thì hình này có lẽ biểu thị nguồn ánh sáng đang tỏa ra, chỉ có điều hình dạng của nó thật quá cổ quái mà thôi.”

Đường Mẫn hỏi pháp sư Á La: “Liệu có khả năng hình vẽ này ngầm ám chỉ điều gì trong tôn giáo hay không?”

Pháp sư Á La còn chưa trả lời, giáo sư Phương Tân đã lên tiếng: “Chắc không đâu, chim bay thú chạy, núi non sông dài, nhật nguyệt tinh tú, đó là những hình vẽ nhận biết về thế giới tự nhiên, bất kể là dân tộc nào, hệ tư tưởng nào, cũng đều có ý nghĩa như nhau cả thôi.” Pháp sư Á La gật gật đầu thừa nhận ý kiến của giáo sư Phương Tân. Những người còn lại thoáng nhíu mày.

Giáo sư Phương Tân lại nói: “Vấn đề này tạm thời gác sang một bên, chúng ta tiếp tục tìm xem, có còn điểm nào đặc biệt hay kỳ quái nữa không?”

Đường Mẫn lần tìm trên bức hình chiếu một lượt, vỗ tay nói: “Có rồi, phần bên dưới bức tranh này không có gì cả, điểm này cũng rất lạ.”

Giáo sư Phương Tân gật đầu tán thưởng, nói: “Đúng thế, tôi cũng lấy làm kỳ quái. Theo lý mà nói, Hương Ba La mật quang bảo giám này là một tấm gương đồng hình tròn, hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy lẽ ra cũng phải là cả một hình tròn, nhưng ở đây chúng ta lại chỉ thấy hơn một nửa, một phần năm phía dưới cùng không hề có gì hết. Nếu bảo rằng có thể là do vị trí của viên hồng bảo thạch hoặc tấm gương không đúng, thì chúng ta không thể nhìn thấy những hình ảnh rõ nét như thế này được, do đó không thể nói rằng đó là do kỹ thuật của người thợ chưa đạt. E rằng chỉ có thể kết luận rằng người xưa đã cố ý làm vậy. Mọi người thử nghĩ xem, tại sao? Tại sao phần dưới cùng ấy lại không có gì? Nếu như có, thì bên dưới đó nên là gì chứ?”

Đường Mẫn lẩm bẩm: “Bên dưới, bên dưới… bên dưới chắc là phải có rất nhiều nước mới đúng.”

Trác Mộc Cường Ba giật bắn cả người, câu nói ấy của Mẫn Mẫn tựa hồ đã chạm đến điều gì đó, nhưng rất mơ hồ. Gã ngầm tự hỏi mình hai lượt: “Bên dưới có rất nhiều nước? Bên dưới có rất nhiều nước? Rốt cuộc câu nói ấy khiến mình nghĩ đến điều gì nhỉ? Kỳ lạ thật, cảm giác này lạ quá, giống như lần đầu tiên nghe thấy Babatou nói kẻ địch đáng sợ nhất là kẻ địch mà ta không nhìn thấy vậy, nhất định là mình đã bỏ sót điều gì đó rồi, rốt cuộc là điều gì đây nhỉ?”

Giáo sư Phương Tân nhìn pháp sư Á La, nói: “Có lẽ là như vậy, rất nhiều truyền thuyết đều cho rằng, Shangri-la trôi nổi trên một hồ nước, hoặc Shangri-la được vây giữa rất nhiều hồ nước. Ừm, đây là điểm nghi ngờ thứ hai, có còn chỗ nào khác nữa không?”

Pháp sư Á La nói: “Màu sắc của núi và đá ở đây, không biết có thật hay không, tôi cũng chưa dám khẳng định…” Giáo sư Phương Tân nói: “Ý của pháp sư là, núi non ở đây đều bị màu nền phủ lên, không biết có phải bản thân nó đã màu đỏ rồi, hay là do màu của viên hồng bảo thạch này, có phải vậy hay không?”

Pháp sư Á La gật đầu. Giáo sư Phương Tân lại nói: “Ừm, đây đích thực là một vấn đề đáng cho chúng ta suy nghĩ. Tất nhiên, có thể nói là do viên hồng bảo thạch. Nhưng hãy nhìn màu sắc của các kiến trúc và cây rừng, có thể thấy rằng, cổ nhân hoàn toàn có khả năng khiến viên hồng bảo thạch này chiết xạ ra ánh sáng không phải màu đỏ ở một số chỗ nào đó. Vậy thì có khả năng đá núi ở đây vốn đã là màu đỏ rồi, đá núi màu đỏ…”

“Đá núi màu đỏ!” Khi giáo sư Phương Tân lặp lại câu nói này lần thứ hai, ánh mắt ông bắt gặp ánh mắt pháp sư Á La. Hai người cùng lúc nhận ra vẻ chấn động và kinh ngạc trong mắt nhau. “Đá! Núi! Lửa!” giáo sư Phương Tân nhấn giọng thốt lên từng chữ một, còn pháp sư Á La thì liên tiếp gật đầu.

“Ôi cha!” giáo sư Phương Tân vỗ mạnh vào thành chiếc xe lăn, suýt chút nữa làm rơi cả bộ điều khiển từ xa, kích động chỉ vào bức ảnh do gương đồng phản chiếu lên tường: “Có một chỗ rõ rệt nhất, mà cũng khó tin nhất, vậy mà tất cả chúng ta lại hoàn toàn không để ý đến! Ba tầng bình đài kia, cũng chính là kết cấu chủ thể của bức Hương Ba La mật quang bảo giám này, ba tầng bình đài ấy làm sao mà hình thành ra được! Nếu không phải là đá núi lửa có mật độ cao nhất, khả năng chịu lực lớn nhất, căn bản không thể có bình đài vươn ra khỏi vách đá xa đến mức ấy được, sự đứt gãy hoặc chồng đè của các mạch núi cũng không thể hình thành ra kết cấu bình đài như thế. Kết cấu này, chỉ có thể hình thành khi núi lửa phun trào lên mà thôi. Ban đầu, chỗ trên vách đá này có lẽ chỉ gồ lên một chút, nhưng khi nham thạch nóng chảy qua, bị chỗ gồ ấy chặn đường tiến, liền dừng lại ở đó, cứ dồn hết lần này đến lần khác, hết lần này đến lần khác mới hình thành nên kết cấu dạng bình đài mà chúng ta trông thấy hôm nay. Diện tích rộng như vậy, chiều dài vươn ra khỏi vách đá xa như vậy, bình đài này không thể hình thành trong một hai lần phun trào được đâu, mà là rất nhiều lần, rất nhiều lần. Vậy thì diện mạo chân thực của Shangri-la mà chúng ta đang tìm kiếm, chính là… một ngọn núi lửa vẫn đang hoạt động và bị núi tuyết bao bọc xung quanh!”

Không ai có thể ngờ được, bí ẩn suốt mấy nghìn năm nay về Shangri-la, lại bị giáo sư Phương Tân giải đáp chỉ bằng một lời trong một cuộc thảo luận như thế này. Đã có bao người tốn cả đời đi tìm Shangri-la trong truyền thuyết, nhưng thậm chí còn chẳng có cả cơ hội nhìn thấy Shangri-la từ xa xôi tít tắp dù chỉ một lần. Khi Hương Ba La mật quang bảo giám mở ra, đám người may mắn này liền bị hết đợt sóng mừng vui này đến đợt sóng mừng vui khác bao bọc lấy. Trong khoảnh khắc này đây, bọn họ đã hết sức tỉnh táo mà nhận ra rằng, Shangri-la không còn xa xôi diệu vợi nữa, nói không chừng, chỉ một chốc lát nữa thôi, họ sẽ lập tức tìm ra con đường duy nhất dẫn đến chốn thánh địa nhân gian này cũng nên.

Bí mật đằng sau hình ảnh phản chiếu (2)

Pháp sư Á La lại chắp tay niệm chú. Nhạc Dương tay cầm máy quay phim, bất giác hướng ống kính về phía giáo sư Phương Tân. Trương Lập dang rộng hai tay ra, ngước nhìn giáo sư, vừa cười vừa lắc đầu, không biết nên nói gì cho phải,cùng lúc có đến một mớ từ ngữ nhảy múa trong óc anh “vĩ đại, tiên tri, vượt thời đại…” Mẫn Mẫn thì lao ào lên, quỳ xuống ôm giáo sư thật chặt, “Bác thật là giỏi quá, giáo sư,” rồi còn hôn lên trán giáo sư Phương Tân mấy cái liền.

Trác Mộc Cường Ba nhìn giáo sư Phương Tân chăm chăm, giáo sư nhìn gã với ánh mắt cổ vũ khích lệ, Trác Mộc Cường Ba khẽ gật gật đầu, giáo sư Phương Tân cũng khẽ gật gật đầu, rồi cả hai cùng nở một nụ cười hiểu ý.

“Được rồi Mẫn Mẫn,” giáo sư Phương Tân vỗ vỗ lên vai Đường Mẫn: “Cháu làm bác không thở nổi rồi đây này.” Đợi Đường Mẫn lùi lại phía sau một chút, giáo sư Phương Tân nói tiếp: “Đây cũng không phải mình tôi nghĩ ra được, mà là kết quả nỗ lực chung của tất cả mọi người. Mọi người hãy kiềm chế tâm trạng phấn khích, để chúng ta tiếp tục phát hiện thêm những huyền cơ ẩn chứa sau bức họa này đã, xem nó còn có thể mang đến cho chúng ta niềm vui bất ngờ nào nữa hay không.” Bấy giờ, tất cả mới lại tiếp tục tập trung chú ý vào bức tranh phản chiếu trên tường.

Lần này ai nấy đều quan sát hết sức cẩn thận, nhìn thật kỹ từng chi tiết xem bức mật quang bảo giám thần bí này còn ẩn chứa điều bí mật gì nữa, nhưng rất đáng tiếc, dường như không thể tìm ra điểm nào đặc biệt hơn nữa. Cả căn phòng chìm vào tĩnh lặng một hồi rất lâu, chợt nghe giáo sư Phương Tân cất tiếng: “Dường như bí mật đã được phát hiện hết rồi, chi bằng đợi chuyển các hình ảnh quay được vào máy tính, sau khi xử lý xong xuôi chúng ta sẽ xem lại lần nữa xem có phát hiện gì mới hay không. Nhạc Dương, ghi hình đến đâu rồi? Này, Nhạc Dương, Nhạc Dương, tôi gọi cậu đấy. Hôm nay sao cậu không phát biểu ý kiến gì cả, như vậy đâu có giống với cậu, năng lực quan sát của cậu đâu rồi?”

Nhạc Dương dịch chiếc máy quay trước mắt ra, cười nói: “Bởi vì đó đều là những chỗ tương đối rõ ràng và nổi bật, tôi nghĩ mọi người chắc chắn nhận ra được. Tôi muốn tìm những chỗ khác biệt bị ẩn đi giống như giáo sư và pháp sư Á Lacơ.” Trương Lập cười hì hì: “Chẳng thành thật chút nào cả, không tìm được thì bảo là không tìm được đi cho rồi.” Khóe miệng Nhạc Dương hơi nhếch lên, để lộ nụ cười tự tin và ngập tràn ánh nắng đặc biệt của mình, nói: “Tôi tìm thấy rồi đấy.”

“Ồ, nói ra cho mọi người nghe xem nào.” Giáo sư Phương Tân và những người còn lại cùng dỏng tai lên.

Nhạc Dương lại không nói gì, cứ nhìn chăm chăm vào bức họa thần kỳ kia một lúc lâu, những người khác cũng chăm chú dõi theo ánh mắt của anh chàng, trong chốc lát cả gian phòng lại lặng như tờ, chỉ còn nghe có tiếng lẩm bẩm của Trương Lập: “Thằng nhóc này, sao mà lắm trò thế không biết.”

Cuối cùng, Nhạc Dương cũng giơ một tay lên, chỉ vào chính giữa bức họa: “Cây ở chỗ này, rất to lớn.” “Phì!” Trương Lập không nhịn được phá lên cười ha hả, hỏi Nhạc Dương: “Đây… đây là phát hiện của cậu đấy à? Ha ha, tôi còn tưởng cậu nhìn thấy cái gì nữa chứ, ha ha!”

“Gượm đã nào,” giáo sư Phương Tân gí sát mặt lại gần bức tường, cẩn thận nhấc gọng kính lên, rồi lại chăm chú quan sát chỗ Nhạc Dương chỉ tay đến. “Ồ…” pháp sư Á La cũng lộ vẻ nghi hoặc. Trương Lập không cười được nữa, anh chàng cũng gí mặt lại gần, cây là cây, cung điện là cung điện, cây rất cao, điều này ai cũng biết, có thấy gì đặc biệt nữa đâu?

Giáo sư Phương Tân trịnh trọng nói: “Nhạc Dương nói chính xác đấy, đây không phải vấn đề đơn giản, chỉ nhìn bề ngoài thì không thể nhận ra được, nếu không phân tích kỹ, căn bản không thể nào thấy được điểm này đâu.”

“Ừm…” Trương Lập trợn tròn mắt, thầm tự nhủ sao mọi người đều nhận ra, mà mình lại không thấy gì thế nhỉ? Có điều, vừa ngoảnh đầu lại, anh liền thấy ngay vẻ mặt cũng đang hết sức hoang mang của Mẫn Mẫn. Cuối cùng, không nhịn được, anh chàng đành mở miệng hỏi: “Rốt cuộc là như thế nào vậy, giáo sư?”

Giáo sư Phương Tân quan sát một lúc thật lâu, cuối cùng mới nói: “Nếu thật vậy, thì đây là một thông tin rất có giá trị. Tôi cũng để ý thấy rồi, nhưng rốt cuộc cũng không nghĩ đến chuyện này. Mọi người xem, đúng như vừa nãy tôi nói, các kiến trúc kiểu cung điện này đều ẩn hiện sau cây cối và đá núi, lẽ nào người xưa muốn dùng thủ pháp nghệ thuật để khiến chúng toát lên vẻ thần bí hơn, xa xôi diệu vợi hơn? Không, không cần thiết phải làm thế. Rất rõ ràng, ngoài mục đích để người có khả năng quan sát phát hiện ra lối vào Bạc Ba La thần miếu và con đường dẫn đến đó, bọn họ còn muốn nhấn mạnh thêm một điều… cây cối ở nơi ấy!”

Giáo sư Phương Tân lại gần thêm chút nữa, chỉ vào nửa tòa cung điện trong hình phản chiếu, hỏi Trương Lập: “Cậu xem chỗ này đi, tòa cung điện này chỉ lộ ra ba tầng và một đỉnh vòm, thử quan sát kỹ một chút nữa xem, một tầng cao chừng nào? Theo chiều cao đó, bên dưới nó có thể còn bao nhiêu tầng nữa? Còn tòa này, bên trên đã bị che lấp, chỉ lộ ra bên dưới, đếm từ nền lên tổng cộng có bảy tầng, bảy tầng lộ ra ngoài này so với thân cây bên cạnh nó thì sao, cậu nhìn rõ chưa? Chưa cao bằng một phần ba. Giờ cậu lại tiếp tục so sánh thêm chiều cao của một số cung điện khác và cây cối xung quanh đi, cậu sẽ hiểu được, tại sao Nhạc Dương lại nói cây cối ở đây rất cao.”

Trương Lập nói: “Ừm, nói vậy thì cây cối ở đây cũng cao thật đấy nhỉ, ba bảy hai mốt, hai ba là sáu, ít nhất cũng phải cao sáu mươi mét đấy.”

Giáo sư Phương Tân lắc đầu: “Không chỉ vậy thôi đâu, một tầng ba mét ba là tiêu chuẩn của nhà hiện đại, thời cổ đại, thông thường chiều cao mỗi tầng không dưới năm mét đâu.” Trương Lập lẩm bẩm: “Bảy năm ba lăm, không phải vậychứ!” “Không sai, nếu người xưa muốn thông qua tỉ lệ này nói cho chúng ta biết diện mạo chân thực của Shangri-la, vậy thì, chiều cao trung bình của cây cối ở đó… đều hơn một trăm mét!” giáo sư Phương Tân nghiêm túc nói. Một trăm mét! Trương Lập tức thì nhớ đến khu rừng Mãng xà âm u lạnh lẽo, toàn thân bất giác nổi da gà, không hiểu sao bỗng lạnh toát sống lưng.

Giáo sư Phương Tân nói: “Cây cao một trăm mét không hề đáng sợ, đáng sợ nhất là trong rừng cây có độ cao trung bình một trăm mét trở lên sẽ ẩn chứa rất nhiều nguy cơ khác nhau. Cần phải biết là, theo thói quen sinh sống tự nhiên của các loài động vật hoang dã, rừng cây càng lớn, cây cối càng cao, sẽ càng chứa chấp nhiều động vật hoang dã thể hình to lớn.”

Về điểm này, những người từng gặp phải cá sấu chúa và trăn khổng lồ Anaconda ở rừng Mãng xà bên châu Mỹ như Trác Mộc Cường Ba, Trương Lập đều có cảm nhận hết sức sâu sắc.

Đường Mẫn nói: “Nhưng trong truyền thuyết, ở Shangri-la đâu có động vật hoang dã chứ?”

Giáo sư Phương Tân bật cười nói: “Đương nhiên, ai mà chẳng hy vọng Shangri-la giống như trong truyền thuyết, nhưng chúng ta cũng đều biết, Shangri-la không thể nào giống hệt như trong truyền thuyết miêu tả được. Có câu, rừng xanh rộng lớn, chim gỉ chim gi chim gì cũng có. Huống hồ cả một khu rừng vĩ đại thế này, không thể nào không có động vật hoang dã được, chẳng những vậy, trong bức họa này không phải đã nêu ra rất rõ ràng rồi hay sao?”

Giáo sư Phương Tân chỉ tay lên tường, ở đó, có một con chim trông rất giống tiên hạc trong truyền thuyết bay lượn giữa tầng không, tuy chỉ nhỏ bằng hạt vừng, nhưng nếu dựa theo tỉ lệ bức tranh này, dường như đó không còn là một con chim nhỏ nữa rồi. Trương Lập nói: “Nếu tính toán theo kiểu như vậy, con chim đó, dường như cũng hơi to thì phải?”

Đường Mẫn tự an ủi mình, nói: “Chưa chắc đâu, đó chỉ là suy nghĩ chủ quan của chúng ta cho đó là con chim mà thôi, cũng có khả năng đó chính là một áng mây, còn cả thứ trông giống con hươu này nữa, mọi người xem đi, chỗ này đều là màu đỏ cả, đó rất có thể là một tảng đá, tóm lại, động vật xuất hiện trong bức họa này rất ít, nói không chừng là thật sự không có động vật hoang dã gì đâu.”

Nhạc Dương nói: “Hy vọng đúng như Mẫn Mẫn nói, chỉ có điều… làm ơn nhớ lại anh trai cô, và cả anh Ba Tang nữa.”

Vừa nghe nhắc đến Đường Thọ, Đường Mẫn liền không nói năng gì nữa, Trác Mộc Cường Ba kéo cô lại, ôm vào lòng, nhẹ nhàng vuốt sống lưng. Trương Lập vốn định phá lên cười, cũng không khỏi giật mình đờ người ra. Từ sau khi nhặt được cuốn nhật ký của Đường Thọ, anh gần như đã đọc ngấu nghiến cả ngày lẫn đêm, càng xem càng thấy kinh hãi, càng thêm phục Đường Thọ sát đất. Một con người như vậy, sau khi đến nơi này liền trở nên điên loạn, ở nơi thần bí ấy rốt cuộc còn ẩn giấu gì nữa chứ? Còn cả Ba Tang – người đàn ông lạnh lùng, anh và Nhạc Dương mỗi khi ở cạnh Ba Tang đều như thỏ đi với sói, trong lòng thấp thỏm không yên. Thân hình khỏe mạnh tráng kiện, tính cách khát máu ấy, nếu thật sự gặp nhau trên chiến trường, chỉ sợ mười Trương Lập cũng không giết nổi một Ba Tang. Nhưng công cụ giết người đã bị chiến tranh mài giũa thành một cỗ máy sắt thép ấy, khi đến vùng đất thần bí kia, không ngờ cũng bị làm cho kinh hoảng mà mất cả ký ức, rốt cuộc là đã xảy ra chuyện gì mà cả người có thần kinh thép như anh ta cũng không chịu đựng nổi nhưthế.

Giáo sư Phương Tân nói: “Được rồi được rồi, chúng ta đừng tự dọa mình nữa, cũng tuyệt đối chớ nên bỏ qua bất cứ nhân tố nào có thể dẫn đến nguy cơ. Tóm lại, chỉ cần chúng ta làm tốt công tác chuẩn bị để ứng phó với mọi khả năng có thể xảy ra, thì không chuyện gì làm khó được chúng ta nữa. Giờ chi bằng hãy tiếp tục quan sát xem cổ nhân còn muốn nói gì với chúng ta nữa đi. Cường Ba, Cường Ba à…”

“Vâng?” Trác Mộc Cường Ba hơi giật mình luống cuống. Giáo sư Phương Tân nói: “Sao vậy, từ lúc nhìn thấy Hương Ba La mật quang bảo giám, cậu cứ như Từ Thứ vào doanh trại quân Tào vậy, không có ý kiến gì hả?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Ừm, tôi… tôi vẫn đang nghĩ, vừa nãy hình như có cảm thấy gì đó, nhưng lại không sao nhớ ra được, đặc biệt là lúc nghe Mẫn Mẫn nói phần bên dưới bức tranh này lẽ ra phải có rất nhiều nước, tôi đã cảm thấy mình nắm bắt được thứ gì đó rồi, nhưng từ nãy đến giờ vẫn không biết mình muốn nắm bắt thứ gì, vì vậy tôi vẫn đang lục tìm trong trí nhớ, có điều, những gì mọi người thảo luận tôi đều nghe cả. Bằng bức tranh mật quang bảo giám này, cổ nhân đã dùng trí tuệ của họ bày ra trước mắt chúng ta một Shangri-la chân thực hết mức. Nhưng điều tôi muốn biết hơn nữa là, làm sao chúng ta đến được nơi đó. Tôi vẫn luôn nghiền ngẫm những lời thầy giáo đã nói, phải nhìn xuyên qua bề mặt của sự vật, nhìn thấy những thứ ẩn đằng sau chúng. Chúng ta hiện có rất nhiều đầu mối, thậm chí cả tấm bản đồ duy nhất cũng đang ở trong tay rồi. Nhưng chúng ta lại không thể tìm ra con đường dẫn đến Shangri-la từ những đầu mối ấy, rốt cuộc, trong những đầu mối đó đang ẩn chứa điều gì chứ? Có điều gì chúng ta đã sơ suất bỏ qua rồi? Tôi có cảm giác, tôi sắp nắm được thứ ấy rồi, khi nhìn bức họa này, cảm giác ấy lại càng mạnh bội phần. Chỉ còn một chút nữa thôi, một chút nữathôi…”

“Thật sao?” giáo sư Phương Tân ngồi thẳng người dậy, nói: “Đừng để cảm giác ấy trượt mất, tất cả mọi người sẽ cùng nghĩ giúp cậu.” Ông biết, có những lúc, cảm giác có một tia sáng lóe lên trong đầu ấy còn có hiệu quả trực tiếp hơn là phân tích lý tính nhiều lần, đặc biệt là đối với Trác Mộc Cường Ba. Từ lúc giáo sư quen biết gã, trực giác của anh chàng dân tộc Tạng này vẫn luôn luôn mang đến cho người ta những thu hoạch không thể nào ngờ đến. Ánh mắt giáo sư Phương Tân hướng về phía bức họa Trác Mộc Cường Ba đang nhìn chăm chú, nói: “Vậy chúng ta bắt đầu từ Shangri-la đi, Mẫn Mẫn, cháu và Cường Ba đã tập hợp được khá nhiều tài liệu về Shangri-la, giờ chúng ta sẽ đúc rút ra những phần quantrọng, mấu chốt nhất. Cháu nói xem, trong các tài liệu đó có đề cập đến phương pháp nào để đến được Shangri-la haykhông?”

Đường Mẫn nói: “Về điểm này, tuy có rất nhiều cách nói khác nhau, nhưng đại thể quy nạp lại thì có hai loại. Một là thuyết ‘giữa hồ’, cưỡi kim điểu, ngồi thuyền vàng, ngồi hoa sen, tóm lại chính là nói rằng Shangri-la ở giữa một cái hồ khổng lồ, muốn đến đó cần phải có một công cụ nào đó chứ không thể đi bộ được. Ngoài ra còn một thuyết ‘thông đạo’ nữa, rốn quả đất, trục trung tâm quả đất, mạch đất… tất cả đều nói rằng có một đường hầm bí mật dẫn đến Shangri-la, người ở Shangri-la có thể sử dụng để đến bất cứ nơi nào trên thế giới, còn người ở bên ngoài muốn đến được Shangri-la, trước tiên cần phải tìm thấy nó trước đã. Đường thông đạo ấy, đúng là cơ duyên chỉ có thể gặp chứ không thể cầu, người phàm không thể nào tìm được, chỉ có thể dựa vào cơ duyên mà thôi.”

Lữ Cánh Nam nói: “Trong Đại Tạng kinh, còn một cách nói nữa, tương tự như Đường Tam Tạng đi Tây Thiên lấy kinh, chúng tôi gọi là thuyết ‘tai ách’, người đầu tiên nêu rõ là Lục thế Ban Thiền. Lục thế Ban Thiền đã dựa vào miêu tả trong Đại Tạng kinh mà viết ra cuốn Shangri-la chỉ nam, trong đó nói muốn đến Shangri-la, cần phải trải qua trùng trùng kiếp nạn, phải vượt qua vô số núi tuyết, băng qua vô số dòng sông, còn phải chiến thắng rất nhiều ác ma ngăn cản người ta đến với Shangri-la, càng quan trọng hơn nữa là, cần phải được thần nhân sống trong Shangri-la công nhận, bằng không, con người vĩnh viễn không thể nào đặt chân lên vùng tịnh thổ ấy được.”

Đường Mẫn gật đầu. Giáo sư Phương Tân nói: “Thực ra, chúng ta còn một phiên bản tương đối đặc thù, có thể nói là cũng ủng hộ cho thuyết ‘thông đạo’. Cường Ba, còn nhớ quyển Ninh Mã cổ kinh của nhà cậu viết về Sáng thế sử của người Qua Ba như thế nào không? Các vị thần minh thuở trước vì muốn đem ánh sáng đến, chôn vùi bóng đêm, nên đã tìm lối vào địa ngục, trôi dạt trên dòng sông U Minh đen kịt như mực mấy nghìn vạn năm, lại xuyên qua địa ngục Man Hoang, quái thú ở đó cao bằng ba tầng nhà, da dày như giáp sắt, chim ở đó ăn thịt người và bò dê như gà mổ thóc, côn trùng ở đó còn cao hơn cả con người, muỗi to bằng con trâu… Những điều này, toàn là cậu nói cho tôi cả mà.”

Trác Mộc Cường Ba chăm chú lắng nghe, vô số thông tin chằng chịt hiện lên chồng chéo trong đầu óc gã, mặc dù không nói một lời nào, nhưng đồng tử gã bắt đầu dãn ra: “Trôi dạt trên dòng sông U Minh đen kịt như mực mấy nghìn vạn năm” câu nói này hóa thành một hình ảnh hết sức rõ nét trong óc gã, từng chiếc thuyền hình dáng kỳ lạ, những hàng mái chèo ngay ngắn chỉnh tề vươn ra khỏi thân thuyền, từng chiếc, từng chiếc tiến vào bóng đêm tăm tối vô cùng vô tận, hình ảnh ấy, gã đã thấy ở đâu rồi nhỉ? Tại sao lại đột nhiên xuất hiện trong óc gã như thế?

Giáo sư Phương Tân không biết gã nghĩ đến điều gì, nhưng ông biết, dòng tư duy của Trác Mộc Cường Ba quyết không thể bị đứt đoạn. Ông bèn đánh mắt ra hiệu, cả gian phòng lập tức lặng như tờ.

Trác Mộc Cường Ba nhìn hình ảnh phản chiếu lên tường, thấy nó tựa như đã biến thành hình lập thể, gã có thể đi qua mặt tường, cảm nhận được nước suối bắn tóe lên, nghe được cả tiếng chim hót, tiếng thú rừng. Đồng thời, tất cả những gì gã trải qua sau khi nhìn thấy tấm hình Tử kỳ lân dạo nào, giờ từ từ được lọc lại trong não bộ, tựa những dòng suối nhỏ đang tụ lại, hòa vào hồi ức của gã. Dưới chân Shangri-la, dòng suối nhỏ biến thành sông lớn, dòng chảy cuồn cuộn, vươn mãi vào bóng đêm vô tận. Trong hồi ức của Trác Mộc Cường Ba, dòng nước ấy chảy qua Khả Khả Tây Lý… Đội trưởng Hồ Dương rũ bộ râu bám đầy vụn băng, đầy e ngại nói với gã và Trương Lập: “Là dòng chảy ngầm, nói trắng ra là nướcngầm. Sông băng tan chảy thông qua phương thức này để đưa nước ra các nhánh sông, sau đó tụ thành hồ nước trên cao nguyên, cũng có khá nhiều dòng sông được hình thành từ đây. Bên dưới rốt cuộc sâu bao nhiêu không phải chuyện chúng ta có thể thăm dò ra được…”

Dòng nước ấy lại chảy đến rừng rậm châu Mỹ, vô số nhánh sông giao hội, chằng chịt dọc ngang… Giáo sư Phương Tân tản bộ trong hoa viên, nói với gã: “Phải biết rằng, chỉ số thông minh của người Maya vượt xa so với dự tính của các nhà khoa học, bởi vậy, việc họ khai thác những tảng đá trắng khổng lồ ở dãy Andes, lợi dụng dòng chảy đưa chúng vào sâu trong rừng cách đó cả nghìn dặm, đồng thời xây dựng thành trì lâu đài…”

Dòng sông lại chảy đến đại hiệp cốc dưới lòng đất ở Cổ Cách, ở đó mọi người đang hết sức thận trọng đi trên con đường nhỏ men theo vách đá tối om… Lữ Cánh Nam nói: “Không sai, đây chính là một đại hiệp cốc hoàn toàn nằm sâu dưới lòng đất, theo những gì chúng ta quan sát được lúc này, quy mô của nó chỉ sợ không kém sông Nhã Lỗ Tạng Bố đâu.”

Đèn chiếu của ai đó rơi xuống vực sâu, giáo sư Phương Tân kinh hãi: “Trong không gian hoàn toàn tối đen, ánh sáng đèn chiếu này có thể thấy được từ khoảng cách hơn nghìn mét, độ… độ sâu của khe nứt này… không ngờ lại… thật là, thật là gặp quỷ rồi!”

Pháp sư Á La cũng nói: “Lẽ nào thật sự thông đến suối vàng.” Ba Tang lạnh lùng lên tiếng: “Dù là suối vàng, đi thêm một lần nữa cũng có ngại gì đâu.” …

Trong tòa tháp ngược ở Đảo Huyền Không tự, pháp sư Á La đầy cảm xúc thốt lên rằng: “Trong các loại năng lượng tự nhiên, sức gió và sức nước là hai loại được cổ nhân sử dụng sớm nhất, lại là động lực vĩnh viễn tuần hoàn. Nếu tôi không lầm, dưới đáy khe nứt khổng lồ này, cũng vẫn là một dòng sông lớn cuồn cuộn chảy, chỉ có điều khoảng cách xa quá nên chúng ta không nghe thấy tiếng nước đó thôi…”

Đúng rồi! Nghĩ ra rồi, bức vẽ vô số con thuyền tiến vào bóng đêm ấy, gã đã thấy ở thạch thất trong Đảo Huyền Không tự! Nhưng vẫn chưa đủ…

Kế đó dòng chảy lại đến núi tuyết giá lạnh, tầng đất đông được tuyết đọng che phủ nứt toác, bên dưới đen ngòm như mực, không hiểu sâu đến mức nào, nghiêng tai lắng nghe, lờ mờ vẳng lên tiếng cuồn cuộn như sấm rền. Đường Mẫn lo lắng nói: “Bên dưới là gì vậy?”

Nhạc Dương nhún vai nói: “Ai biết được đâu, có lẽ lại là một tầng khe băng thôi, ai mà rơi xuống đấy chắc khó mà leo lên nổi nữa.”

“Dòng chảy ngầm!” Trương Lập làm ra vẻ rất kinh nghiệm giải thích… …

Tất cả những điều đã xảy ra, đều được tua ngược trở lại trong tâm trí Trác Mộc Cường Ba, gã biết, trong đó chắc chắn ẩn chứa một điều gì. Shangri-la, rốn quả đất, trục địa cầu, lênh đênh trên U Minh hà, gã chỉ còn thiếu một thứ gì đó khiến mình bỗng sực tỉnh ngộ. Tất cả những đầu mối này đều vây quanh thứ ấy mà trải rộng ra. Đó là một thứ rất quan trọng, nhưng, rốt cuộc đó là thứ gì chứ nhỉ? Trác Mộc Cường Ba nhắm mắt lại, “Bình tĩnh, nhất quyết phải bình tĩnh!” gã tự nói với bản thân mình như thế, “để tìm kiếm Shangri-la, tất cả các đầu mối đều là để tìm kiếm Shangri-la, chúng ta đã có tòathành được ánh sáng tỏa chiếu, còn thiếu gì nữa nhỉ? Bản đồ? Đúng rồi, bản đồ!”

Tấm bản đồ như mạng nhện lập tức hiện ra trong óc Trác Mộc Cường Ba, lời bình phẩm của đội trưởng Hồ Dương đồng thời vang lên: “Bản đồ thời cổ đại không chi tiết như thời nay đâu, thường chỉ phản ánh mạch núi, dòng sông, đường sá, nơi cư dân tập trung, mặc dù tỉ lệ không thể đến mức tuyệt đối, nhưng ít nhất cũng khiến người ta nhìn là hiểu ngay. Cái thứ này của anh là cái gì đây? Một yếu tố mà bản đồ cần phải chú thích cũng chẳng có, nếu bảo đây là thông đạo, vậy những cái chấm này là gì? Có nơi nào có cả hơn trăm lối ra lối vào không? Anh nhìn đi, đây, đây, đây cả đây nữa, đâu đâu cũng là đường à? Cuối cùng thì thông đến đâu đây? Chỗ nào cũng chui qua được hết à? Thế thì bản đồ cái nước mẹgì chứ?”

… Chính là nó! Trác Mộc Cường Ba mở bừng mắt ra, cuối cùng gã cũng hiểu, thứ mình tóm được kia là cái gì rồi! “Bản đồ, thầy giáo, thầy mở tấm bản đồ mà chúng ta xem không hiểu kia lên đi!” Trác Mộc Cường Ba lớn tiếng nói.

Tiền thân của Shangri-la

Giáo sư Phương Tân nói: “Gì hả? Tấm bản đồ đó à? Được, tôi mở lên ngay đây, đây rồi.” Giáo sư ngẩng đầu nhìn Trác Mộc Cường Ba hỏi: “Cậu phát hiện ra điều gì hả, Cường Ba?”

Nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ trên màn hình máy tính, Trác Mộc Cường Ba hít sâu một hơi không khí lành lạnh. Gã biết, suy nghĩ này thoạt tiên tưởng có vẻ hoang đường và còn tức cười, nhưng lại ẩn chứa một sự thực đáng sợ. Tim gã đang đập cuồng loạn, nếu đây là sự thực, vậy thì, đó sẽ là sự việc khó tin nhất mà những người thuộc tôn giáo bí mật kia đã làm được, kể từ khi bọn gã tiếp xúc với Bạc Ba La thần miếu tới giờ. Thế nhưng, tất cả các đầu mối đều chỉ về sự thật này, bất kể là truyền thuyết, hay những trải nghiệm của chính bản thân bọn họ, Trác Mộc Cường Ba chỉ vào máy tính, khó nhọc thốt lên từng lời: “Thầy giáo, thầy nói xem, tấm bản đồ này có khả năng nào là… bản đồ phân bố hệ thống nước ngầm ở cao nguyên Thanh Tạng không?”

“Hả!” Mặc dù giáo sư Phương Tân đã có chuẩn bị tâm lý, nhưng vẫn chấn động đến nỗi đánh rơi cả bộ điều khiển từ xa xuống đất, tất cả những người còn lại cũng đều trố mắt ra. Hệ thống nước ngầm ở cao nguyên Thanh Tạng, không ai dám tin vào tai mình nữa, người nào nghe thấy lần đầu tiên đều có cảm giác như vậy: không chỉ là hoang đường, mà phải nói là xằng bậy xằng bạ mới đúng! Đây là cao nguyên cao nhất thế giới, độ cao bình quân so với mực nước biển là 4.300 mét, diện tích 2.500.000 ki lô mét vuông, gần như chiếm trọn một phần năm lãnh thổ Trung Quốc rồi. Chẳng những vậy, nước ngầm là khái niệm như thế nào chứ, đó là lòng đất sâu không thấy ánh mặt trời, đúng là chỉ có trời mới biết tình trạng dòng chảy như thế nào, có tầng đứt gãy hay không, có chỗ nào rò rỉ hay không, ai có thể nắm được phương hướng ở dưới lòng đất tăm tối mù mịt ấy cơ chứ? Muốn vẽ được bản đồ phân bố hệ thống nước ngầm ở cao nguyên Thanh Tạng, đó chẳng phải là một chuyện quá đỗi viển vông hay sao?

Thế nhưng, nói đi cũng phải nói lại, nếu nói tấm bản đồ chằng chịt như mạng nhện này thực sự biểu đạt hiện tượng tự nhiên nào đó, thì cũng chỉ có hệ thống nước ngầm tứ thông bát đạt, trải ra muôn hướng mới là phù hợp nhất. Đồng thời, cao nguyên Thanh Tạng cũng đích thực là có tài nguyên nước ngầm hết sức phong phú, từ Khả Khả Tây Lý, đến Mặc Thoát, đến Cổ Cách, đến tuyết sơn, đâu đâu cũng có nước ngầm, ai biết được chúng có liên thông với nhau hay không. Nếu chẳng phải Trác Mộc Cường Ba đột nhiên giác ngộ trong khoảnh khắc, dẫu bọn họ có vắt óc nghĩ thêm một trăm năm nữa, e rằng cũng chẳng thể nào liên tưởng được đến điều đó. Dù đánh giá trí tuệ của người xưa cao đến mấy chăng nữa, cũng không thể nào đến mức ấy được.

Trác Mộc Cường Ba lo lắng hỏi: “Thế nào? Thầy giáo? Thầy nghĩ thế nào? Có khả năng ấy hay không?”

Giáo sư Phương Tân đã tháo chiếc kính lão xuống, day day sống mũi một hồi, đoạn nói: “Đợi chút đã, đợi chút đã rồi hãy hỏi tôi, Cường Ba à, tôi cần phải… tôi cần phải sắp xếp lại tư duy của mình một chút, cậu có biết mình vừa nói gì không hả? Cứ như là hai năm trước khi cậu đưa cho tôi xem tấm ảnh Tử kỳ lân kia vậy, vẫn trực tiếp như thế, vẫn khiến người ta phải kinh động như thế.”

Trương Lập nhìn Trác Mộc Cường Ba với ánh mắt hồ nghi pha lẫn kinh ngạc: “Cường Ba thiếu gia, làm sao anh nghĩ ra được vậy?”

Trác Mộc Cường Ba nhún vai: “Tôi không biết, khi Mẫn Mẫn nhắc tới nước, bỗng có một cảm giác rất mạnh mẽ dâng lên trong tôi. Tôi nghĩ, chắc hẳn phải liên quan đến nước, sau đó tôi liền xâu chuỗi tất cả hành trình của chúng ta trong hai năm nay lại, phát hiện ra rằng, bất kể chúng ta đi tới đâu cũng đều không tách rời khỏi nước. Nói chính xác hơn, thì là sông ngầm dưới lòng đất. Thêm nữa, tất cả các tài liệu về Shangri-la, về phương cách để đến Shangri-la mà chúng ta tìm được, đều nhắc đến nước, nước và thông đạo, liên hệ chúng với nhau, tôi liền nghĩ đến hệ thống nước ngầm. Có điều, tôi vẫn cứ nghĩ, hệ thống nước ngầm này rốt cuộc có thể gợi cho tôi điều gì, cứ nghĩ mãi, nghĩ đi nghĩ lại, cứ có cảm giác rằng hệ thống nước ngầm này chắc hẳn sẽ cho mình biết một điều gì đó. Sau đó, tôi lại liên hệ nó với Shangri-la, muốn đến được Shangri- la, liệu có phải cần thông qua hệ thống nước ngầm hay không? Vậy thì, chẳng phải chúng ta đang có trong tay tấm bản đồ duy nhất chỉ đường đến Shangri-la hay sao? Nhưng tấm bản đồ ấy chằng chịt như mạng nhện, mà hệ thống nước ngầm vừa khéo phù hợp với đặc tính này. Kỳ thực, ý nghĩ này chỉ lóe lên trong khoảnh khắc, bản thân tôi cũng không hiểu là chuyện gì nữa.”

Nhạc Dương không sao tin nổi thốt lên: “May mà anh nghĩ được ra đấy, Cường Ba thiếu gia, anh phải biết là, dù với trình độ khoa học kỹ thuật của ngày nay, người ta cũng không thể nào thăm dò được một cách hoàn chỉnh hệ thống nước ngầm ở cao nguyên Thanh Tạng đâu đấy. Cổ nhân từ một nghìn năm trước, làm sao có thể làm được điều đó? Tôi thật không sao tưởng tượng ra nổi.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Kỳ thực, lẽ ra tôi phải nghĩ đến từ trước rồi mới phải. Bởi người xưa đã nói rất rõ ràng với chúng ta, có điều tôi đã sơ suất bỏ qua mất mà thôi.” Nhạc Dương giật mình kinh ngạc: “Hả? Chuyện thế nào vậy?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Pháp sư Á La, còn nhớ những hình vẽ chúng ta thấy trong các thạch thất ở Đảo Huyền Không tự không? Trong đó có một bức, vẽ vô số con thuyền đi vào bóng đêm. Chúng ta không ghi hình lại, cũng không chú ý đến hàm nghĩa của những hình vẽ đó. Thực ra, qua những bức vẽ ấy chính là người xưa muốn cho chúng ta biết, họ đã đi đâu. Pháp sư có còn nhớ dạng thức của những con thuyền ấy không? Pháp sư Á La? Dòng sông ngầm bên dưới cao nguyên Thanh Tạng này, chỉ sợ còn lớn hơn trong tưởng tượng của chúng ta nhiều lắm.”

Pháp sư Á La nhìn tấm bản đồ ngang dọc chồng chéo, những đường nét mảnh như tơ nhện chằng chịt vào nhau, bất giác nhắm nghiền mắt lại. “Trôi dạt trên dòng sông U Minh đen kịt như mực mấy nghìn vạn năm…” “trôi dạt trên dòng sông U Minh đen kịt như mực mấy nghìn vạn năm…” – một câu nói đơn giản ấy mà lại ẩn chứa cả một chặng đường gian nan nhường nào, chọn lựa bóng đêm để vùi chôn bóng đêm ư? Từ bỏ ánh sáng mà mình khát vọng, đi vào bóng đêm tuyệt đối, con người, liệu có thể kiên trì được bao lâu? Nếu tất cả đều là sự thật, thì tấm bản đồ này, chính là thành quả của vô số cổ nhân đã đem tính mạng mình ra để vẽ lại. Bức bích họa trong Đảo Huyền Không tự một lần nữa lại xuất hiện trong tâm trí pháp sư Á La, ông chợt cảm thấy chấn động tự đáy lòng, bao nhiêu con người, bao nhiêu con thuyền, lần lượt tiến về bóng đêm xa xăm mờ mịt để tìm kiếm thánh địa trong truyền thuyết. Hành động ấy, cần lòng can đảm và quyết tâm lớn đến nhường nào. Các vị cổ nhân từ trăm nghìn năm trước, đúng là đã quyết tâm liều chết để theo đuổi hy vọng!

Nhạc Dương lên tiếng: “Cường Ba thiếu gia, anh muốn nói, những dòng sông ngầm ấy có thể đi thuyền được cơ à? Lớn vậy sao?”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu: “Ừm, ít nhất là bức bích họa đó vẽ như vậy. Còn nhớ Đảo Huyền Không tự ở Cổ Cách không? Cái khe sâu dưới lòng đất ấy, chiều rộng mà chúng ta cảm nhận được đã hơn hai trăm mét, ai biết được bên dưới còn lớn chừng nào, vì vậy tôi nghĩ, có thể người xưa hiểu biết gì đó về khe sâu bên dưới, nên mới dám ngồi thuyền lần mò trong bóng đêm, tiến lên phía trước, đồng thời dùng phương pháp của riêng họ vẽ và để lại cho chúng ta một tấm bản đồ phân bố sông ngầm. Tôi còn nhớ lúc đó, đội trưởng Hồ Dương đã đặt ra nghi vấn rằng, tấm bản đồ này đâu đâu cũng là lối vào, chỗ nào cũng là lối ra, không biết là đi từ đâu đến đâu. Nhưng mới rồi, chúng ta đã được pháp sư Á La cho biết,những đường nét màu sắc khác nhau, cộng với những ký hiệu con giáp khác nhau, biểu thị những giờ khác nhau trong ngày. Những số chỉ giờ này tăng từ trên xuống dưới, vậy cũng có nghĩa là, hướng thuyền đi là từ đầu này tới đầu kia. Chỗ đánh dấu thời gian sớm nhất, chính là lối vào, còn thời gian sau cùng, chính là thời gian chúng ta đến được điểm đích. Đích đến mà tấm bản đồ này chỉ đến chính là… Shangri-la!”

“Không sai.” Giáo sư Phương Tân cũng đã định thần lại, phân tích một cách rành mạch: “Tôi hiểu rồi, thứ người xưa vẽ ra ở đây không phải là bản đồ phân bố hệ thống nước ngầm của cao nguyên Thanh Tạng, hệ thống đó lớn quá, phức tạp quá, không bao giờ có thể thăm dò hết được. Tấm bản đồ này là bản đồ hệ thống sông ngầm từ thế giới bên ngoài, đi qua cái rốn của quả đất hay là thông đạo bí mật trong truyền thuyết để đến được Shangri-la. Sông ngầm và nước ngầm là hai khái niệm khác nhau, sông ngầm chỉ là một loại nước ngầm. Chỉ cần lòng sông đủ rộng để ngồi thuyền, việc đến được Shangri-la sẽ bớt khó khăn đi rất nhiều. Có điều, đó cũng tuyệt đối có thể coi là một hành động vĩ đại rồi, ít nhất thì, cổ nhân đã dám làm một chuyện mà chúng ta thậm chí cả nghĩ còn không dám nghĩ tới, hơn nữa, họ đã thành công!”

Nhạc Dương nói: “Nhưng, dù những đầu mối đó và suy đoán của chúng ta trùng khớp, thì cũng biết tìm những lối vào kia ở đâu bây giờ? Khe sâu ở Đảo Huyền Không tự đã sập xuống mất rồi, ít nhất trong vòng một hai năm tới chúng ta không thể đến chỗ ấy được.”

Giáo sư Phương Tân ngẩng đầu, ánh mắt thông tuệ tựa như xuyên thấu cả thời không, điềm đạm nói: “Không, ít nhất chúng ta cũng còn biết một lối vào nữa.”

“Ở đâu?” Trác Mộc Cường Ba vội vàng hỏi. “Cánh cửa Địa ngục!” giáo sư Phương Tân đáp.

“Cánh cửa Sinh mệnh đã khép lại, Cánh cửa Địa ngục sẽ mở ra, Cánh cửa Địa ngục mở ra, các sứ giả dũng cảm phải lên đường. Họ băng qua Minh hà, vượt qua hoang mạc, lội qua đầm lầy có vô số độc trùng, trải qua tất cả gian nan khổ nạn, đến được Thánh điện trên trời, tiên cảnh chốn nhân gian… Hương Ba La!” Tiếng ca thật quen thuộc, như tự trời cao vẳng xuống, lại như vang vang hồi vọng giữa sơn cốc rộng mênh mông, giọng nam trung cổ phác mà hồn hậu đang cất lên, hình ảnh Đa Cát với vẻ mặt không sợ trời không sợ đất lại thấp thoáng hiện lên trong óc Trác Mộc Cường Ba. Viên hồng bảo thạch đang đặt ở chính giữa căn phòng, phát ra thứ ánh sáng đỏ nhàn nhạt hắt lên bức tường, chiếu ra mật quang bảo giám. Chuyện Đa Cát tận tay trao viên hồng bảo thạch ấy cho gã ngỡ như chỉ vừa mới hôm qua.

“Cánh cửa Địa ngục,” Trác Mộc Cường Ba nhắm mắt, thậm chí còn cảm thấy hơi chóng mặt, bọn gã đã từng đến gần chân tướng sự thật gần đến thế, để rồi cuối cùng lại vòng một vòng lớn, phải chăng đây là trời cao đã sắp đặt? Đến tận cùng, gã vẫn không thể thoát ra khỏi cái vòng luân hồi ấy.

“Cánh cửa Địa ngục! Là Cánh cửa Địa ngục mà Đa Cát nhắc đến ấy à?” Nhạc Dương cũng sực nhớ ra, lúc đó anh còn chế giễu Đa Cát, chẳng lẽ cứ đi xuôi dòng Nhã Lỗ Tạng Bố là được à, thật không ngờ, thật không ngờ lại đúng là như thế! Giáo sư Phương Tân nói: “Ừm, chính là Cánh cửa Địa ngục đối lập với Cánh cửa Sinh mệnh ấy. Cường Ba, cậu vẫn chưa trở lại thôn Công Bố, đúng không?”

“Vâng.” Trác Mộc Cường Ba cúi đầu đáp. Sau khi Đa Cát qua đời, đã ủy thác gã mang viên Thiên châu và mảnh ngọc giao cho Ca Ca, không ngờ mấy lần định đến đó đều bị những chuyện đột xuất làm chậm trễ, cuối cùng không thể lên đường. Giờ nghĩ lại, gã không khỏi cảm thấy áy náy trong lòng.

Giáo sư Phương Tân nói: “Được rồi, chúng ta đã lần ra được đầu mối này, cậu cũng nên chuẩn bị trở lại thôn Công Bố đi, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm thêm các đầu mối trên bản đồ và bức mật quang bảo giám này, còn các cậu đi sâu tìm hiểu thêm chút nữa, khi nào trở về sẽ xác định kế hoạch chi tiết. Tôi nghĩ, lần này nhất định là sẽ có phát hiện mới đấy.”

Trác Mộc Cường Ba bước đến trước xe lăn của giáo sư Phương Tân, quỳ một chân xuống như kỵ sĩ châu Âu thời Trung cổ, ngước lên nhìn ông chăm chú: “Nhất định là như vậy.”

Thời gian có hạn, bốn người bọn Trác Mộc Cường Ba chuẩn bị một số công cụ để hành động dưới nước như thuyền bơm hơi, đồ lặn… rồi trở lại thôn Công Bố. Vì trực thăng quá kềnh càng, mà việc mượn hay điều động cũng rất nhiều thủ tục lằng nhằng, hơn nữa mục tiêu quá rõ ràng, để đề phòng vạn nhất, họ quyết định đi đường bộ đến đó. Thôn Công Bố vẫn chưa thông với đường quốc lộ, mà nhóm phải đi bộ đường dài, nên để Đường Mẫn ở lại giúp giáo sư Phương Tân sắp xếp các đầu mối vừa mới phát hiện được.

Dọc đường, chủ đề câu chuyện của mấy người bọn họ chỉ xoay quanh Shangri-la. Pháp sư Á La nói: “Các cậu có biết, tại sao trong khi đa phần mọi người cho rằng Shangri-la là vùng đất lý tưởng chỉ có trong truyền thuyết, vẫn có rất nhiều người dân tộc Tạng tin chắc rằng nó thực sự tồn tại hay không?”

Trương Lập đưa mắt nhìn Nhạc Dương, nói: “Đâu có, chúng tôi đều tin là thật cả mà.” “Thật sao?” Pháp sư Á La cười điềm đạm: “Trước khi nhìn thấy tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu, các cậu cũng nghĩ như vậy à?”

Trương Lập ngại ngùng gãi gãi đầu. Trác Mộc Cường Ba nói: “Đúng vậy, trước đây, tôi vẫn luôn cho rằng nó chỉ là vùng đất hư ảo, lý tưởng trong truyền thuyết, về bản chất không khác gì vườn Địa đàng của Thiên Chúa giáo, Thái Xung ảo cảnh của Đạo giáo, hay Cực lạc thế giới của Phật giáo cả. Hiện giờ, tôi hy vọng là mình đã sai.”

Pháp sư Á La nói: “Cường Ba thiếu gia, mọi người đã tra cứu tìm hiểu khá nhiều tài liệu về Shangri-la, có biết Shangri-la khởi nguồn từ đâu không?”

Trác Mộc Cường Ba đáp: “Theo những gì tôi tìm hiểu và kiểm chứng, thư tịch đầu tiên nhắc đến Shangri-la, làĐại Thiên Luân kinh, các truyền thuyết về Shangri- la sau này, đại để cũng đều từ bộ kinh thư này mà ra cả.”

Trương Lập ngạc nhiên thốt: “Đại Thiên Luân kinh? Hình như tôi nghe thấy tên này ở đâu rồi ấy nhỉ?”

Pháp sư Á La gật đầu: “Đúng thế, Đại Thiên Luân kinhlà pháp điển tối cao của Mật giáo, được vị đại tôn sư thời Hậu Hoằng kỳ, A Để Hiệp đại sư mang đến. Theo các ghi chép trong cổ tịch, A Để Hiệp đại sư khai đàn giảng kinh, đã nói rõ bộ kinh này chứa đựng toàn bộ đại thành tựu của Mật giáo, tinh thông kinh này, ắt sẽ lý giải được tất thảy mọi kinh văn khác, ngộ ra tất cả pháp môn của Mật truyền Phật giáo. Tư tưởng hạch tâm của tất cả Tạng truyền Phật giáo thời Hậu Hoằng kỳ, bất kể là phái biệt, giáo tông nào cũng đều diễn sinh từ bộ kinh thư này cả. Bộ kinh thư này miêu tả một vũ trụ và thế giới khác hẳn với Phật giáo Hiển tông. Shangri-la có vị trí rất quan trọng trong bộ Đại Thiên Luân kinh này.”

Trác Mộc Cường Ba tiếp lời: “Không sai, chính vì trong đó miêu tả một vùng thánh địa lý tưởng của Phật giáo, nên những người không phải là tín đồ như chúng ta tự nhiên sẽ cho rằng chỉ là truyền thuyết rồi.”

Pháp sư Á La nói: “Nhưng cũng đừng quên rằng, trước khi khai đàn giảng Đại Thiên Luân kinh, AĐể Hiệp đại sư từng nói rất rõ ràng rằng, bộ kinh thư này không phải do các học giả Ấn Độ soạn ra, mà truyền đi từ Tây Tạng, về sau đã thất truyền ở Tây Tạng, nên ông ấy mới mang cuốn kỳ thư khoáng thế này trở lại. Rất ít người coi trọng câu nói đó, thậm chí rất nhiều vị học giả cũng không hoàn toàn để tâm tìm hiểu. Những điều A Để Hiệp đại sư nói đều là sự thật, và trước khi bộ kinh thư này xuất hiện, còn tồn tại một cái tên khác, chính là tiền thân của Shangri-la, Nguy Ma Long Nhân!”

“Tiền thân của Shangri-la?” Trương Lập và Nhạc Dương đồng thanh kêu lên kinh ngạc. Shangri-la họ có nghe nói đến rồi, nhưng tiền thân hậu thân gì thì chưa bao giờ nghe ai nhắc tới cả.

Pháp sư Á La nói: “Các cậu nghe thử xem Nguy Ma Long Nhân được miêu tả thế nào rồi hãy kết luận. Nguy Ma Long Nhân là thánh địa của Bản giáo Tây Tạng, là tiếng Tượng Hùng, dịch nghĩa ra đại khái là vùng đất niết bàn, xung quanh có các đỉnh núi tuyết tựa như tám cánh hoa sen bao bọc, có thánh thú bảo vệ bốn phương canh giữ. Từ đây có bốn dòng sông chảy đi khắp nơi trên thế giới. Không một ai có thể vượt qua núi tuyết để đến được nơi ấy, lối ra vào duy nhất chính là một đường hầm tối tăm không thấy ánh mặt trời, vươn tay ra không nhìn thấy năm ngón. Tân Nhiêu, tổ sư của Bản giáo chính là được sinh ra ở vùng đất Nguy Ma Long Nhân đó. Ông ta đi ra từ đường hầm ấy, điểm hóa thế nhân. Vì vậy, vào thời thượng cổ, tất cả các tín đồ Bản giáo đều tin Nguy Ma Long Nhân thực sự tồn tại, giống như ngày nay chúng ta tin rằng Hoàng Đế, Viêm Đế, Đại Vũ thực sự tồn tại vậy. Lẽ ra Tượng Hùng có thể có những ghi chép miêu tả tường tận hơn về Nguy Ma Long Nhân, chỉ tiếc là trong lịch sử binh hỏa liên miên ấy, tất cả sử liệu của quốc gia bị diệt vong này cũng đều tan thành tro bụi cả rồi.”

Nhạc Dương nói: “Nghe pháp sư nói vậy thì cũng đúng là giống thật.” Trương Lập chợt hỏi: “Nhưng mà, nếu A Để Hiệp đại sư không nói thật thì sao?”

Pháp sư Á La nói: “Ừm, về điểm này không có gì để nghi ngờ, vì bản thân Đại Thiên Luân kinh đã nói rất rõ ràng rồi. Bộ kinh thư này chính là những điểm tâm đắc mà vị vương của Shangri-la ghi chép lại sau khi gặp và cùng thảo luận về thế gian đại đạo với tổ sư Phật giáo Thích Ca Mâu Ni. Tương truyền bộ kinh thư này tổng cộng có một vạn hai nghìn bài tụng, mỗi bài giảng một chuyện, thâu tóm tất thảy vạn vật trên thế gian, lớn thì như đại đạo sinh tử của trời đất, nhỏ thì đến sự sinh trưởng của loài trùng loài kiến, cây cỏ nảy mầm… không gì là không có. Chỉ đáng tiếc, khi truyền đến A Để Hiệp đại sư chỉ còn lại một nghìn hai trăm bài tụng. Chỉ một nghìn hai trăm bài tụng này thôi đã bao gồm tất cả ý nghĩa thâm ảo của Mật giáo, dung hòa thiên địa, nhất quán cổ kim. Các vị Phật học đại sư sau này, đa phần đều chỉ nghiên cứu bộ kinh thư này. Thật khó mà tưởng tượng nổi, một pho điển tịch đầy trí tuệ như thế có thể do người nào, hay một nhóm người nào viết ra.”

Nhạc Dương gật gù: “Nói như vậy thì bộ Đại Thiên Luân kinh này chính là kết tinh trí tuệ của nhân dân Shangri-la, do người Shangri-la đưa đến Tây Tạng, rồi lại từ Tây Tạng truyền đến Ấn Độ, mà Shangri-la lại chính là Nguy Ma Long Nhân trong Bản giáo, mà Nguy Ma Long Nhân lại là một nơi thực sự tồn tại trong lịch sử, đồng thời bất cứ người nào muốn băng qua núi tuyết đều không thể đến được nơi đó. Muốn đến, phải thông qua đường hầm, cũng chính là cái rốn địa cầu, đường hầm bí mật được nhắc đến trong các truyền thuyết về Shangri-la, phải vậy không, pháp sư?”

Trương Lập tiếp lời: “Chính là thứ mà giờ chúng ta đang tìm kiếm.” Pháp sư Á La lại nói: “Cường Ba thiếu gia, sao cậu không nói gì vậy? Lại nghĩ ra điều gì rồi à?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Pháp sư Á La, những gì ngài nói rất quan trọng, tôi có cảm giác như vừa nắm bắt được thứ gì đó rồi, có điều giờ vẫn chưa thể xâu chuỗi lại được, chắc là trở về sẽ phải tìm thêm tài liệu, nói không chừng sẽ có phát hiện mới nữa cũng nên. Pháp sư, ngài nói xem, tại sao Nguy Ma Long Nhân kia lại được gọi là vùng đất niết bàn?”

Pháp sư Á La đáp: “Là như vậy, tương truyền, từ thuở trời đất mới khai sinh, vùng đất Nguy Ma Long Nhân này đã tồn tại, và vĩnh viễn không bao giờ bị hủy diệt. Cứ cách một nghìn lẻ hai mươi tám năm, nó sẽ tái sinh trong ngọn lửa một lần, rửa sạch mọi thứ ở trong đó. Vào ngày hôm đó, cùng với sự tái sinh của thánh địa, tất cả những tín đồ Bản giáo kiền thành nhất sẽ được đến miền Cực lạc, đắc thành chính quả, bất sinh bất diệt, vì vậy mới gọi là vùng đất niết bàn.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Càng lúc tôi càng có niềm tin rằng, tất cả những gì chúng ta tiếp xúc, sẽ đưa chúng ta đến một Shangri-la chân thực, một vùng đất đã bị lãng quên trong góc khuất nào đó của lịch sử.”

Trở lại thôn Công Bố

Sau khi tiến vào khu vực huyện Mặc Thoát, Trác Mộc Cường Ba nhiều lần lấy ra con tằm ngọc Đa Cát giao vào tay gã hết ngắm nhìn rồi lại sờ nắn, nhìn một lúc lâu, lại trù trừ cho vào trong túi. Một lúc sau, gã lại lấy ra nhìn thẫn thờ. Pháp sư Á La trông thấy, bèn an ủi: “Không sao đâu, cô bé ấy rất kiên cường. Hơn nữa, người trong thôn Công Bố đều đã công nhận thân phận Thánh sứ đại nhân của cậu, cô ấy biết Đa Cát đã hy sinh để cứu Thánh sứ, trong lòng có lẽ không quá đau khổ lắm đâu.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Thế nhưng, chính vì nguyên nhân ấy, tôi mới càng cảm thấy mình khó có thể chối bỏ được trách nhiệm này.”

Trương Lập vỗ vỗ lên vai gã, Nhạc Dương đang đeo chiếc ba lô to tướng, cũng hướng ánh mắt đầy sự quan tâm nhìn sang như cổ vũ.

Trác Mộc Cường Ba gật đầu, lại cất con tằm ngọc, tiếp tục tiến về phía trước.

Núi xanh ngắt, bầu trời sáng bừng lên, rời xa khỏi ồn ào huyên náo và những mơ màng thế tục, mấy người họ sắp đến được tận cùng trời đất, thôn làng Công Bố đã lờ mờ hiện lên phía xa xa. Chỉ là, thứ Trác Mộc Cường Ba không muốn nhìn thấy nhất chính là áng mây hồng vẫn đợi chờ mãi nơi cổng làng, vẫn đỏ như giọt máu nhỏ xuống từ vầng dương lồng lộng trên cao, thấm vào núi xanh nước biếc, tựa như một bức tranh từ thuở hằng cổ xa xăm.

Tới gần hơn, bước chân Trác Mộc Cường Ba mỗi lúc một nặng nề, trước mắt gã dường như đã hiện ra bóng hình nhỏ nhắn ấy đang đứng trước cổng làng. Một cô thiếu nữ khoác áo Phổ Lỗ, đầu đội khăn đỏ như lửa, đàn cừu đã trở về thôn làng, nhưng cô vẫn quyến luyến nhìn về phương Đông, như đang đợi ai đó. Có điều, người mà cô chờ đợi, vĩnh viễn không bao giờ trở về nữa rồi.

Cảnh tượng màu áo đỏ, điểm giữa đàn cừu trắng hiện trên nền trời xanh, khiến trái tim Trác Mộc Cường Ba đau thắt lại.

Khi họ đi tới cổng làng, chỉ thấy cô thiếu nữ Ca Ca xinh xắn, my thanh mục tú kia vẫn sợ sệt đứng nơi ấy, hình như đã gầy hơn, vạt áo Phổ Lỗ đỏ rực như áng mây nơi cuối chân trời, nhưng khăn chít đầu đã cởi ra, để mái tóc dài chảy xuống như suối mây. Bàn tay cô đeo một miếng lót bằng da, thắt lưng quấn một chiếc váy da, đầu gối có miếng đệm, chân không giày để lộ ra đôi bàn chân thanh mảnh nhỏ nhắn. Trác Mộc Cường Ba thầm giật thót mình, gã quá quen thuộc với bộ trang phục này, vốn chuyên dùng khi dập đầu bái lạy. Kiểu dập đầu bái lạy này là nghi thức dân Tạng dùng để lễ tạ hoặc cầu xin thần minh bảo vệ. Theo truyền thống, ít nhất họ phải để chân trần liên tiếp dập đầu một vạn lần mới có thể được coi là thành tâm, trong lúc dập đầu phải tâm vô tạp niệm, như là giữa chốn không người vậy.

Chỉ thấy Ca Ca chắp hai tay trước ngực, mắt nhắm nghiền, từ từ giơ hai tay lên quá đỉnh đầu, rồi lại chầm chậm hạ xuống, chạm đến trán, chạm đến môi, kế đó là trước ngực, ba con đường thông đến linh hồn, đoạn lại chầm chậm quỳ rạp toàn thân, đến khi trán chạm đất, dùng hết sức lực toàn thân để hôn lên mảnh đất thánh thần thiêng liêng ấy.

Nhìn từ xa đã thấy giữa trán cô có một dấu vết hơi gồ lên, lại gần hơn mới phát hiện ra đó là một vết chai. Trác Mộc Cường Ba thầm run lên: mỗi ngày phải dập đầu quỳ lạy bao nhiêu lần mới có thể làm chai cả trán thế kia!

Vừa nhìn thấy cảnh tượng đó, cả Trương Lập và Nhạc Dương cũng không biết nên nói gì. Một đoàn bốn người đeo những chiếc ba lô nặng trĩu lặng lẽ đăm đăm nhìn Ca Ca, trong lòng dâng trào nỗi áy náy khôn nguôi. Họ cứ ngây ra nhìn cô thiếu nữ giơ bàn tay yếu ớt nhỏ nhắn cao quá đầu, vỗ vào nhau, rồi chầm chậm hạ xuống, chạm vào trán, vào môi, vào ngực, rồi thân người từ từ quỳ xuống, bò rạp ra, cánh tay vươn thẳng, trán chạm đất, rồi lại đứng lên, miệng lẩm nhẩm cầu nguyện, một lần, rồi lại một lần nữa. Khoảnh khắc ấy, cả trời đất dường như đều im tiếng, gió lạnh tiêu điều, chỉ nghe thấy tiếng hai mảnh da lồng ở tay cô đập vào nhau lúc vỗ tay, “bách, bách, bách…” những âm thanh như sợi roi da quất lên mặt Trác Mộc Cường Ba. Lúc Ca Ca đứng dậy, nom cô như một vị thánh nữ trang nghiêm, toát lên một vẻ cao quý, thuần khiết lạ thường. Bao nhiêu nỗi nhớ trong lòng cô, đều đã chuyển thành những tiếng “bách, bách, bách”, vang dội khắp cả trời đất.

Đã có mấy lần, khi nhìn thấy Ca Ca đứng lên, Trương Lập và Nhạc Dương cùng muốn quay đầu bỏ đi. Chuyện này, lẽ ra nên để một mình Cường Ba thiếu gia giải quyết, vẻ bình tĩnh và kiên nghị trên gương mặt yếu đuối mà xinh xắn ấy khiến mọi người thực không thể nào nỡ nhìn tiếp nữa. Họ không dám tưởng tượng, nếu Ca Ca biết rằng Đa Cát đã… không biết cô sẽ như thế nào.

Không biết là vì tiếng bước chân của bốn người, hay vì họ đã chắn mất ánh sáng, hay vì cảm giác gì đó, Ca Ca đột nhiên mở bừng mắt. Khi đôi mắt sáng trong ấy mở ra, không ai dám nhìn thẳng vào cô nữa. “A! Thánh sứ đại nhân!” Ca Ca ngượng ngùng ngừng dập đầu bái lạy, giấu bàn tay ra phía sau, nhưng đôi mắt đen lay láy thì nôn nóng nhìn xem phía sau lưng gã rốt cuộc có mấy người.

Trác Mộc Cường Ba vốn định nở một nụ cười hòa nhã, nhưng khóe miệng chỉ mấp máy được một chút, rồi không phát ra được âm thanh gì nữa, chứ đừng nói là cười. Những người khác cũng đều nghiêm trang đứng lặng lẽ một bên. Ca Ca dường như đã đoán ra được mấy phần, cô không nói gì, chót mũi như đã đỏ lựng lên, “Đa Cát đâu rồi?” cơ hồ cô phải dùng nhiều sức lực lắm mới thốt lên được bốn chữ ấy.

Không đợi Trác Mộc Cường Ba trả lời, Ca Ca đã như sực nhớ ra điều gì đó: “Xin lỗi, phiền Thánh sứ đại nhân chờ giây lát, tôi chỉ còn vài lạy nữa là đủ lễ rồi.” Nói đoạn, cô lại nhắm mắt, hai tay giơ cao, miệng lẩm bẩm: “Nam mô tam mãn đa mẫu đà nam, a bát la để gia đa sa bà nan am, đát chí tha, a, khư khư khư tư khư tư, ngư ngư…” nơi khóe mắt đã chảy ra những giọt lệ lóng lánh như pha lê, lã chã rơi xuống đất theo nhịp bái lạy. “…đem thân này…, hồi sinh miền Cực lạc!” Niệm xong, Ca Ca đứng lên, hai hàng nước mắt vẫn chưa khô, lồng ngực hơi phập phồng co thắt, nhưng vẻ bi thương trong ánh mắt đã giấu đi. “Anh ấy, có để lại gì không? Thánh sứ đại nhân.” “À.” Trác Mộc Cường Ba vội đưa chiếc Thiên châu và con tằm ngọc đã ướt đầy mồ hôi tay ra, giọng nói thấp dần: “Đa Cát nhờ tôi đưa cái này cho cô, và… và nói rằng, đừng đứng ở cổng làng, đợi anh ấy nữa…”

“Ư…” Ca Ca lau nước mắt nhận lấy hai món vật đó, nhìn vật nhớ người, lại không kìm được nỗi đau thương, ngón tay cô khẽ vuốt ve lên con tằm ngọc: “Đây là tín vật định tình tôi tặng anh ấy, anh ấy trả lại rồi, anh ấy trả lại rồi… ôi!” Ca Ca lấy hết sức lực ném con tằm ngọc ấy ra thật xa, đau xót nói: “Đều tại tôi cả, tôi không nên tặng nó cho Đa Cát. Người đó rõ ràng đã nói, vật định tình ấy đẹp thật, nhưng lại là kiệt tác của lũ ma quỷ.”

“Cô bảo thứ cô vừa ném đi ấy là gì? Người nào đã nói với cô?” Trác Mộc Cường Ba còn chưa nghĩ ra nên an ủi cô gái này thế nào, pháp sư Á La đã đột nhiên kích động hỏi.

Trác Mộc Cường Ba không hiểu, vội truy vấn: “Sao vậy? Pháp sư Á La?”

Pháp sư Á La nói: “Có lẽ Cường Ba thiếu gia không biết, chúng ta nói ngọc tằm hay ngọc trùng đều chẳng vấn đề gì cả. Nhưng đối với cô gái này, đó lại là một điều kỵ húy, đó là tên của ma quỷ, trong tôn giáo của chúng tôi, cũng không thể trực tiếp gọi ra được, nó sẽ mang đến điều bất hạnh và nạn tai.”

Ca Ca nói: “Tôi, tôi không biết. Người đó nói rằng, nói rằng đó là pháp thuật của ác ma, biến những thứ nó thích thành những viên đá rất đẹp, để giữ mãi mãi, ở chỗ họ có rất nhiều viên đá như thế, động vật biến ra, cây cối biến ra… tôi sớm biết vậy… tôi mà sớm biết như vậy…” cô lại đau lòng khóc òa lên.

Pháp sư Á La nói: “Chỗ bọn họ? Người đó không phải dân trong thôn này à? Cô gặp người đó ở đâu vậy?”

Ca Ca khóc nức nở nói: “Lúc tôi đi chăn cừu, lũ cừu đã tìm thấy anh ta. Khi ấy, anh ta đã đói đến sắp ngất đi rồi, cả người ướt sũng, lạnh run lên cầm cập ấy. Tôi lấy bánh tảm ba, túc mã và rượu Thanh Khoa cứu anh ta tỉnh lại. Anh ta rất hoảng sợ, bảo rằng mình vừa trốn từ địa ngục ra, cứ nói đi nói lại, bảo người ở đó chết hết rồi, cừu dê chết hết cả rồi, tôi cũng không biết tại sao anh ta biết nói tiếng của chúng tôi nữa…”

“Cô! Cô nói gì!” Lần này đến lượt Trác Mộc Cường Ba trợn tròn mắt, kinh hoảng nhìn Ca Ca thốt lên: “Người đó, người đó hình dáng ra sao?”

Trước câu hỏi của Thánh sứ đại nhân, Ca Ca cúi đầu nhớ lại: “Người đó… anh ta, tóc anh ta dài lắm, lúc ấy tôi chỉ lo cứu người thôi, không chú ý lắm.” Nghĩ một lúc nữa, cô lại nói: “À, trước ngực anh ta có tượng Quan Âm Bồ Tát sáu tay, tôn quý lắm.”

Trác Mộc Cường Ba hít một hơi không khí lạnh, xem ra không sai rồi, chính là người Qua Ba điên ấy, không ngờ anh ta lại từ đây đi ra. Vậy thì Cánh cửa Địa ngục mà anh ta nói, chắc chắn chính là Cánh cửa Địa ngục mà thôn Công Bố bảo vệ rồi. Lẽ nào Đường Thọ cũng từ nơi đây đi tới Shangri-la? Không, tuyệt đối không thể nào, Đường Thọ lái xe chạy ra cơ mà. Nói vậy nghĩa là, nơi Đường Thọ đi vốn không phải là chỗ của người điên ở Mông Hà đó hay sao? Nơi Tử kỳ lân cư ngụ không phải Bạc Ba La thần miếu, Bạc Ba La thần miếu cũng không có Tử kỳ lân canh gác, nói như vậy, ngay từ lúc ban đầu gã đã lầm rồi hay sao? Còn Ba Tang? Bọn họ lên núi tuyết, tình cờ lạc vào chỗ đó. Nơi ấy và nơi Đường Thọ đã đến có phải là cùng một nơi hay không? Hay là, đó là ba nơi hoàn toàn khác nhau, hoàn toàn cách biệt với thế gian? Không, bọn Ba Tang từng gặp người Qua Ba, nếu nói nơi bọn họ đến không phải là Shangri-la, sao lại gặp được người Qua Ba chứ? Lẽ nào có những nhánh khác nhau của cùng một tộc người? Nhất thời, đầu Trác Mộc Cường Ba như muốn nổ tung, ở Tây Tạng quả thực có quá nhiều khu vực không người, quá nhiều núi tuyết thần thánh, rốt cuộc trong đó ẩn chứa bao nhiêu điều bí mật thì không ai biết được. Ở đây, chỉ cần hơi không lưu ý một chút, là đã đặt chân vào một vùng thế ngoại đào nguyên, không tranh chấp gì với đời, hoặc giả là một chốn nhân gian thánh địa, lìa xa nhân thế. Ở đây, đâu đâu cũng là những tín đồ chân thành nhất, đâu đâu cũng là những bức tranh tuyệt mỹ của con người hòa nhập với tự nhiên. Có lẽ chính bởi nguyên nhân ấy, mà những người đã chán ghét những âm thanh ồn ã, những rừng bê tông cốt thép chốn thị thành mới hướng về mảnh đất này như thế. Thứ họ tìm kiếm, là một mảnh bình yên trong tâm hồn, họ muốn được gần hơn với thiên nhiên. Nhưng rốt cuộc nơi gã muốn tìm, là ở đâu chứ?

Nhạc Dương nói: “Pháp sư, Cường Ba thiếu gia, hai người bị làm sao vậy?” Trác Mộc Cường Ba nhìn Trương Lập nói: “Người điên ở Mông Hà, cậu còn nhớ không, Trương Lập, Trương Lập!” Tới đây, Trác Mộc Cường Ba lại cuống cuồng hỏi Ca Ca: “Người đó còn nói gì nữa? Cô gặp anh ta lúc nào thế? Cố nhớ thật kỹ tình hình lúc gặp anh ta lại đi! Ca Ca! Chuyện này quan trọng lắm! Cô làm ơn, nhất định, nhất định phải… phải nhớ rađó!”

Ca Ca vừa thút thít khóc, vừa nhớ lại tình cảnh lúc mình gặp người lạ kia khoảng ba năm về trước, lúc đó anh ta rất yếu ớt, tỉnh lại rồi nhưng người vẫn rũ rượi, cũng may là lúc đó anh ta rất tỉnh táo, còn cảm ơn Ca Ca đã cứu mạng, muốn báo đáp cô nữa. Ca Ca thấy con tằm bằng ngọc thì rất thích, anh ta liền tặng luôn nó cho cô. Nhưng người này không hề nói chuyện mình ở đâu tới, đang đi đâu, tại sao lại thành ra nông nỗi ấy, Ca Ca hỏi đi hỏi lại mấy lượt, anh ta liền tỏ ra hết sức đau khổ, rồi sau đó chìm vào nỗi kinh hoàng, cứ không ngừng lẩm bẩm nhắc đi nhắc lại mấy câu “đến rồi” và “chết hết cả rồi”. Anh ta ở với Ca Ca một lúc lâu, tới khi mặt trời xuống núi mới đi. Ca Ca đưa hết đồ ăn mang theo mình cho anh ta, nhưng cũng không biết anh ta đã đi đâu.

Trương Lập nhớ lại tình cảnh lúc mình lần đầu tiên hỏi han Ba Tang, liền nói: “Xem ra, lúc gặp Ca Ca, anh ta vẫn còn trong giai đoạn phát bệnh cách quãng, nhưng lúc gặp chúng ta, người này đã hoàn toàn điên dại, mất hết cả lý trí rồi.”

Ca Ca nói: “À, đúng rồi, người đó còn bảo anh ta ngồi cổ oa đến, đó là thứ gì vậy?” Mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba đều biết, cổ oa là tiếng Tạng cổ, nghĩa là cái thuyền. Chỉ có điều, người trong thôn Công Bố này chủ yếu sống bằng nghề chăn nuôi, thỉnh thoảng mới bắt cá ven sông, xưa nay chưa từng có con thuyền nào ra thuyền cả, hơn nữa đoạn sông Nhã Lỗ Tạng Bố ở gần thôn của họ này cũng không thể nào đi thuyền được, vì vậy Ca Ca không biết cũng là chuyện bìnhthường.

Nhạc Dương giải thích: “Là một thứ có thể ngồi được, giống như xe bò xe ngựa ấy, nhưng mà đi ở trên mặt nước.”

Trác Mộc Cường Ba trầm ngâm suy nghĩ: “Nếu người điên ở Mông Hà từ đây đi ra, Cánh cửa Địa ngục nhất định là ở đây, tuyệt đối không sai được nữa.” Gã lại đưa mắt nhìn theo hướng con tằm ngọc bị Ca Ca ném đi, nếu nói đó là thứ người điên ở Mông Hà mang bên mình, nói không chừng còn có giá trị nghiên cứu gì cũng nên. Nhưng phía trước là cả một bãi cỏ mênh mông, tìm ở đâu bây giờ?

Nhạc Dương nhìn ra được suy nghĩ của Trác Mộc Cường Ba, bèn nói: “Để tôi tìm lại con tằm bằng ngọc ấy cho.” Trác Mộc Cường Ba khẽ gật đầu đồng ý.

Pháp sư Á La cả quyết nói: “Đã vậy, giờ chúng ta hãy lập tức đi tìm các vị trưởng lão, hỏi thăm chuyện về Cánh cửa Địa ngục. Ca Ca, đừng quá thương tâm, Đa Cát là một chiến sĩ dũng cảm, cậu ấy đã hy sinh để bảo vệ Thánh sứ đại nhân, ắt sẽ được luân hồi vào thế giới Cực lạc. Cậu ấy giao lại vật định tình cô tặng cùng với vật tùy thân của mình, chứng tỏ rằng cậu ấy đã buông bỏ những lưu luyến với nhân thế rồi. Nhất định là cậu ấy đã được Đức Ma Hê Thủ La vạn năng triệu gọi, giờ đây linh hồn đã thăng vào cõi bất sinh bất diệt, nói không chừng có khi đang ở cõi xa xăm ấy chúc phúc cho cô và hạnh phúc tương lai của cô đó.”

Quả nhiên, những lời khuyên giải ấy của pháp sư Á La hết sức hiệu quả, Ca Ca đã nín khóc, nhìn chằm chằm vào Thiên châu Đa Cát để lại, cuối cùng cũng kiên định gật gật đầu, nói: “Ưm, tôi biết rồi, đi thôi, tôi sẽ dẫn mọi người đi gặp các vị trưởng lão.”

Điều làm bọn Trác Mộc Cường Ba cảm thấy bất ngờ là, dường như các trưởng lão thôn Công Bố sớm đã biết mấy người bọn họ sẽ đến, phòng ốc, đồ ăn, người phục vụ đều đã được sắp xếp đâu ra đó, dân trong thôn đã dựng chảo đá lên nướng chuột núi, thịt chảy mỡ reo xèo xèo, mùi hương khen khét xộc vào mũi mọi người.

Ở đây không có đường quốc lộ, cũng không có điện thoại, Trác Mộc Cường Ba thật không sao hiểu nổi, tại sao các vị trưởng lão trong thôn lại biết bọn gã sẽ đến.

Trưởng lão Đơn Ba nói: “Về Cánh cửa Địa ngục, dựa theo các ghi chép cổ xưa nhất của chúng tôi, ngôi làng này được dựng lên chính là để bảo vệ cánh cửa ấy. Cánh cửa Sinh mệnh thì sau này mới được xây dựng lên theo ý chỉ của một vị Thánh sứ, vì đã trải qua vô số năm, ý nghĩa thực sự của việc bảo vệ và xây dựng ban đầu đã hoàn toàn bị quên lãng. Còn sứ mệnh của chúng tôi, chỉ là bảo vệ vùng đất này, đợi chờ một vị Thánh sứ khác đến. Hơn nghìn năm nay, theo các ghi chép trong thôn, tổng cộng đã có ba mươi sáu vị Thánh sứ lần lượt đến đây, nhưng chỉ có mười vị thực sự đến được Cánh cửa Sinh mệnh, từ trong đó sống sót trở ra, e chỉ có hai người. Đó là ngài, và vị Thánh sứ đến trước ngài chỉ mấyngày. Còn người hỏi chúng tôi về Cánh cửa Địa ngục chỉ có mình ngài mà thôi. Trưởng lão Cách Liệt là người nắm các văn thư của thôn làng, ông ấy sẽ gắng hết sức mình, nói cho các vị biết mọi điều về Cánh cửa Địa ngục.”

Trưởng lão Cách Liệt nhướng mày, khẽ hắng giọng nói: “Cánh cửa Địa ngục mà Thánh sứ đại nhân từng đến ấy, đích thực là nơi chúng tôi bảo vệ, chỉ có điều lối vào ở đâu thì thực sự không một ai trong chúng tôi biết được cả. Theo các ghi chép cổ, nơi đó từng là chỗ giao giới của địa ngục và thế giới của chúng ta, vô số ác ma, xác chết, máu tanh đều từ nơi ấychảy tràn ra thế gian này. Bọn chúng mang theo bệnh dịch, chém giết và máu tanh, khiến người dân Tạng thời kỳ viễn cổ phải chịu đựng bóng đêm và nỗi sợ hãi, bị bệnh tật giày vò trong đau đớn, chết trong những cuộc chém giết vô nghĩa lý. Nhưng họ lại không thể tìm được nguyên nhân, chỉ có thể đời đời nối nhau gánh chịu nỗi khổ mà sống trong gian lao vất vả. Các vị thần minh tiên hiền thuở trước, vì muốn đem lại ánh sáng, chôn vùi bóng đêm, nên đã tìm ra lối vào địa ngục, bắt đầu lần mò tìm đường ra trong dòng U Minh tối tăm vô biên vô tận. Họ phiêu dạt trên dòng sông đen tối ấy mấy nghìn, mấy vạn năm, vô số bậc tiên hiền đã phải trả giá bằng cả tính mạng mình. Nhưng vì để con cháu đời sau được sống bình yên, các vị dũng sĩ vẫn không ngớt nối nhau lên đường…”

Trương Lập đã không sao ngồi yên nổi nữa, đây chẳng phải giống hệt như Ninh Mã cổ kinh mà Trác Mộc Cường Ba đã từng nhắc đến hay sao, anh nhấp nhổm nói: “Cường Ba thiếu gia…”

Trác Mộc Cường Ba ra hiệu cho Trương Lập đừng ngắt lời. Chỉ nghe trưởng lão Cách Liệt tiếp tục nói: “Hậu nhân sau này để cảm tạ và tưởng niệm những dũng sĩ đã cam tâm tình nguyện dùng mạng sống của mình đổi lấy tự do và hạnh phúc của muôn người, đã dựng lên một tượng thần thông thiên triệt địa ở nơi các vị dũng sĩ xuất phát, trấn áp tất cả tà ma bên dưới tượng thần, từ đó Tây Tạng mới được yên bình.”

“Đợi chút đã,” Trác Mộc Cường Ba cũng không kìm được, lên tiếng ngắt lời: “Không phải Cánh cửa Địa ngục ở gần thôn làng này hay sao? Vậy thì nơi các vị dũng sĩ xuất phát cũng là lối vào của Cánh cửa Địa ngục, đồng thời cũng là nơi xây tượng thần khổng lồ ở di chỉ của vương triều Tượng Hùng ư? Hai nơi này sao lại cách nhau xa đến vậy?”

Trưởng lão Cách Liệt mỉm cười nói: “Đây đều là nội dung ghi chép trong các sách cổ, kỳ thực chúng tôi đều chưa hề thấy qua tượng thần thông thiên triệt địa gì, cũng chưa từng đặt chân ra khỏi thôn làng này bao giờ. Tuy chúng tôi biết đến vương triều Tượng Hùng mà Thánh sứ đại nhân nhắc tới, nhưng chưa ai đi đến đó cả. Đương nhiên, chuyện về Cánh cửa Địa ngục này cũng không khó giải thích lắm. Người xưa nói các vị dũng sĩ tìm được lối vào địa ngục, nhưng đâu nói địa ngục chỉ có một lối vào duy nhất đâu? Địa ngục, vốn bao gồm tám địa ngục lớn, mỗi địa ngục lớn lại có bốn cánh cửa, trong cánh cửa ấy lại có bốn địa ngục nhỏ, mỗi địa ngục lớn có mười sáu địa ngục nhỏ, cộng thêm bản thân tám địa ngục lớn, tổng cộng là có một trăm ba mươi sáu địa ngục, về sau lại chia tám địa ngục lớn ra làm tám nhiệt địa ngục và tám hàn địa ngục, thêm các địa ngục nhỏ, tổng cộng thành ra hai trăm bảy mươi hai địa ngục, về sau nữa lại thêm cả địa ngục Cô độc. Ngoài ra còn có sách chép rằng, các địa ngục thuộc A Tỳ Vô Gian Địa ngục bao gồm mười tám hàn địa ngục, mười tám nhiệt địa ngục, mười tám đao luân địa ngục, mười tám kiếm luân địa ngục, thực là nhiều không đếm xuể, bởi vậy, các lối vào địa ngục tự nhiên cũng rất nhiều. Nơi dân làng Công Bố chúng tôi đời đời bảo vệ, chính là một trong các lối vàoấy, chỉ có vậy mà thôi.”

Vừa nghe thấy lời giải thích này, Trác Mộc Cường Ba lập tức nhớ đến tấm bản đồ có vô số lối vào lối ra kia, gã thật chỉ muốn vỗ trán mà mắng mình mấy câu ngu xuẩn, một đạo lý đơn giản như vậy mà nghĩ mãi cũng không ra. Đồng thời, gã cũng lại nghĩ: cũng có thể nói, Ba Tang, Đường Thọ và người điên kia, rất có khả năng đã từ cùng một nơi chạy ra, chỉ là theo những con đường khác nhau mà thôi. Ba Tang và Đường Thọ vượt núi, còn người điên bộ tộc Qua Ba lại ngồi thuyền. Nghĩ tới đây, gã đứng dậy nói: “Vậy thì, chúng tôi sẽ tự đi tìm lối vào Cánh cửa Địa ngục, nếu ba vị trưởng lão thấy rằng còn điều gì có thể cho chúng tôi biết nữa, xin cố gắng nói hết, chúng tôi thực sự rất cần đến sự giúp đỡ của cácvị.”

Trưởng lão Đạt Kiệt nói: “Điều này là dĩ nhiên, bao đời chúng tôi canh giữ nơi này chính là để đợi Thánh sứ đại nhân đến đây, chúng tôi biết gì, tất nhiên sẽ nói hết với Thánh sứ đại nhân.”

Trác Mộc Cường Ba bỗng hỏi: “Vậy thì, có thể hỏi lại một lần nữa, tại sao tôi lại là Thánh sứ của các vị được không?”

Lối vào

Trưởng lão Đạt Kiệt nở một nụ cười hữu hảo, khe khẽ lắc đầu, rồi ngập ngừng nói: “Có lẽ, khi Thánh sứ đại nhân đến được Bạc Ba La thần miếu, khi Mạn Đà La vĩ đại trùng hiện quang minh… tự nhiên ngài sẽ hiểu được thôi.”

Ông nghĩ ngợi giây lát, rồi nói: “Phải rồi, còn một việc tôi phải nói với ngài. Về lời nguyền đó, có lẽ ít nhiều ngài cũng biết một chút rồi phải không. Chính là lời nguyền nói rằng, một khi để máu tanh vấy bẩn bậc thang Thánh miếu, vô số tai ương sẽ ùn ùn kéo đến như tuyết lở, giáng xuống tất thảy mọi nơi. Tất cả thành thị đều sẽ biến thành nơi hoang phế không một bóng người, giống sài lang an cư bên dưới thánh đàn, lũ độc xà phơi nắng trên bậc cấp, lưới nhện bịt kín khung cửa, loài hoa chết chóc nở khắp mặt đất mênh mông…”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu: “Tôi đã biết.” Trưởng lão Đạt Kiệt bèn nói: “Theo các văn thư ghi chép trong thôn, lời nguyền ấy, chỉ e còn đáng sợ hơn những gì chúng ta có thể diễn giải gấp bội phần, mong rằng Thánh sứ đại nhân phải hết sức cẩn thận.” Trác Mộc Cường Ba gật đầu nói: “Tôi biết rồi, vậy, vậy thì ngày mai chúng tôi sẽ xuất phát!” Gã thầm nhủ: “Chắc lại là thứ gì kiểu như cổ độc là cùng, tôi đã nếm mùi lợi hại rồi.”

Cách Liệt trưởng lão nói: “Na Thâm, tiễn Thánh sứ đại nhân về phòng.” Na Thâm liền nhận lệnh bước đi trước.

Nhạc Dương đã tìm thấy con tằm ngọc, sau khi được Ca Ca đồng ý, họ giữ nó lại, nghỉ ngơi một đêm trong thôn Công Bố, sau đó lên đường tới Cánh cửa Địa ngục mà những người dân ở đây canh giữ. Đoàn chỉ có năm người, nhưng Na Thâm lại chuẩn bị đến mười con la, ban đầu bọn Trác Mộc Cường Ba còn chưa hiểu tại sao, đi được nửa đường mới biết dụng ý của anh ta. Đường núi ở đây gập ghềnh khúc khuỷu, lúc lên lúc xuống, khoảng cách thì tương đương với đường tới Cánh cửa Sinh mệnh, nhưng lộ trình hết sức vất vả gian nan, nếu không có lũ la thồ bớt hành lý, e rằng lúc đến được Cánh cửa Địa ngục, bọn họ sẽ sức cùng lực kiệt.

Dọc đường cảnh sắc tú lệ mê hồn, nhưng cả bốn người đều chẳng còn lòng dạ nào mà thưởng thức. Sự tĩnh lặng của núi rừng khiến tâm hồn họ bình lặng trở lại, nỗi nhớ Đa Cát và cảm giác áy náy với Ca Ca cũng dần dần lắng xuống giữa khung cảnh thiên nhiên bát ngát, đồng thời tâm trạng nôn nóng muốn đến được Bạc Ba La thần miếu, muốn nghiên cứu tỏ tường Cánh cửa Địa ngục cũng theo làn gió nhẹ từ từ lắng xuống. Đi trên con đường nhỏ lưng chừng núi, chỉ nghe tiếng vó ngựa và gót giày giẫm lên lá rụng “lạo xạo lạo xạo”, Trác Mộc Cường Ba cảm nhận được một cách rất rõ rệt, không khí hít vào qua mũi chảy đến phổi, rồi theo các kinh mạch đi khắp toàn thân, từng lỗ chân lông mở ra, tham lam hưởng thụ dưỡng khí của tự nhiên ban tặng. Nhạc Dương và Trương Lập cũng không nhốn nhào làm ồn như mọi khi, cả đoàn người cứ lẳng lặng đi như vậy, từng bước, từng bước đến gần Cánh cửa Địa ngục, trở lại chỗ thác nước tựa như một dải lụa bạc khổng lồ, tiếng thác đổ nghe ầm ầm như sấm.

Tựa như chỉ mới hôm qua, Đa Cát đứng ở đó, hai tay chống nạnh, trợn trừng mắt lên nói: “Tôi đi Tượng Hùng với mọi người!” “Tôi là thợ săn giỏi nhất trong thôn Công Bố, sẽ không làm liên lụy mọi người đâu! Hơn nữa… hơn nữa còn có thể giúp mọi người rất nhiều nữa!” Khẩu khí tự phụ ấy của anh dường như còn văng vẳng giữa núi rừng bát ngát. Trác Mộc Cường Ba bước lên hai bước, ở đây, chính là nơi Đa Cát và Ba Tang đấu võ hôm ấy. Giờ đây, cây càng xanh hơn, cỏ càng biếc hơn, chỉ có người thợ săn ưu tú đã không còn nữa.

Trác Mộc Cường Ba đi tới mép bình đài. Chỗ vươn ra khỏi vách núi này, xung quanh có núi non vây bọc, dưới có thác nước chảy tràn, thật giống cảnh trong Hương Ba La mật quang bảo giám, thực chẳng khác nào một Shangri-la được thu nhỏ lại trăm nghìn lần. Trác Mộc Cường Ba bất giác nhớ đến lúc tra tìm tài liệu về Shangri-la, gã từng đọc được lời của một vị trí giả viết rằng: “Shangri-la ở trong lòng mỗi người, không cần phải cố công đi tìm kiếm, nó vẫn luôn lặng lẽ đứng ở sau lưng ta. Khi ta vô ý ngoảnh đầu lại, nói không chừng sẽ thấy nó cũng nên.”

Dòng nước bên dưới bình đài ước chừng hai trăm mét, ngọn núi phía sau chắc cũng phải cao cả nghìn mét, thác nước năm tầng kia, từ trên xuống dưới e cũng phải cao tới mấy trăm mét, nếu nói Cánh cửa Địa ngục chính là lối vào của hệ thống nước ngầm, thì lối vào này có lẽ nằm ở chỗ giáp ranh giữa mặt nước và vách đá dựng đứng, hoặc là… Tóm lại, bọn họ cần phải xuống mặt sông bên dưới kia mới tìm hiểu cho kỹ càng được.

Tuy nhiên, xuống bên dưới bình đài không phải chuyện dễ, đáy sông bị dòng nước xiết xối vào làm cho trở nên rất rộng. Mà bình đài và đáy sông tạo thành một hình thang cân, bên dưới không có chỗ đặt chân, phải thả dây từ trên bình đài đu xuống. Mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba mở ba lô, lắp thiết bị tăng cường tín hiệu, đeo các công cụ liên lạc, rồi lấy thiết bị leo núi ra. Trương Lập và Nhạc Dương xung phong bám vào vách đá vát về phía trong để trượt xuống trước. Vách đá bị nước xối trong suốt một thời gian dài, nên hết sức trơn nhẵn, lại có rất nhiều thực vật ưa ẩm ướt mọc, nên càng không có chỗ nào mà bám tay. Bọn Nhạc Dương cứ mười bước đóng một cái đinh, năm bước cài thêm một cái chốt, cuối cùng cũng xuống được mép sông. Màn bụi nước hình thành do thác nước xối xuống lan đến tận chỗ đó, hơi nước mù mịt khắp mặt sông, tầm nhìn đại khái chỉ khoảng bảy đến tám mét. Trương Lập và Nhạc Dương bật đèn chiếu sương mù lên, bắt đầu chia hai bên tìm kiếm theo hình rẻ quạt. Trương Lập lần đến tận chân thác nước, còn Nhạc Dương cũng đi chừng trăm mét, nhìn bằng mắt thường không có phát hiện gì mới, nhưng thiết bị đo trong tay họ đã truyền số liệu thăm dò lên bình đài. Trác Mộc Cường Ba và pháp sư Á La ở bên trên vừa quan sát mặt sông, vừa sắp xếp phân tích số liệu. Na Thâm đứng bất động sau lưng họ như một pho tượng đá. Bởi vì đã có tiền lệ của Đa Cát, lần này bọn Trác Mộc Cường Ba nửa như vô tình nửa như cố ý giữ một khoảng cách nhất định với Na Thâm, lúc nói chuyện cũng sử dụng tiếng phổ thông mà anh ta không hiểu. Họ không muốn để Na Thâm tham dự quá sâu vào hành động lần này, để rồi lại trở thành Đa Cát thứ hai.

Một lúc sau, trong ống nghe vang lên giọng của Nhạc Dương: “Cường Ba thiếu gia, dưới này bọn tôi không có phát hiện gì đâu, e rằng phải sang phía bên kia khe núi xem sao.”

Trác Mộc Cường Ba đưa mắt nhìn số liệu thiết bị điện tử truyền về trên màn hình, đoạn trả lời: “Biết rồi, các cậu tiếp tục thăm dò đi, dây thừng đã kéo hết chưa? Nếu vẫn còn không gian, tiếp tục vươn sang hai bên nữa thử xem.” Trác Mộc Cường Ba lại nhìn xuống màn hình thiết bị, hỏi pháp sư Á La: “Sao rồi pháp sư? Có kết quả gì chưa?” Pháp sư Á La lắc đầu: “Đã đo khoảng cách bằng tia laser, không phát hiện ra phía đối diện có khe nứt nào. Có điều, cậu xem hình ảnh tái tạo từ sóng âm này xem, ở đây này.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Có bóng đen?” Pháp sư Á La gật đầu. Trác Mộc Cường Ba lại hỏi: “Thông đạo ngầm dưới nước?”

Pháp sư Á La đáp: “Có lẽ vậy, có điều hang động này hơi nhỏ một chút, nhìn tỉ lệ thì chỉ một người qua được, hơn nữa vào trong rồi rất khó trở ra, bên trong không thể xoay người được.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Vậy chúng ta xuống chỗ cửa hang đó trước, rồi dùng máy đo đạc thêm lần nữa, dựa theo kết quả ấy mới tính tiếp.” Pháp sư Á La cũng đồng ý với đề nghị này. Trác Mộc Cường Ba lại hỏi: “Nhưng nước chảy xiết thế này có xuống được đó không nhỉ?”

Pháp sư Á La lắc đầu: “Chưa rõ, để xem có thể tìm được lối nào dưới lòng sông không, rồi chúng ta sẽ bò từ lòng sông qua vậy.”

Nhạc Dương ở dưới nói: “Cường Ba thiếu gia, pháp sư Á La, dây thừng kéo hết rồi, có phát hiện gì không? Nếu không thì ném thêm dây thừng xuống đi, chúng tôi sẽ tiếp tục di chuyển theo phương ngang.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Tôi hiểu rồi, các cậu ở dưới ấy chớ làm bừa, tạm thời không cần di chuyển theo chiều ngang nữa, sóng siêu âm tìm được một khu vực có bóng đen, tôi sẽ buông dây xuống đó.” Nói đoạn, gã đưa mắt nhìn pháp sư Á La, nói: “Công việc giám sát ở trên này đành nhờ pháp sư lo vậy.”

Pháp sư Á La nói: “Cẩn thận một chút, mặt sông ở đây rộng khoảng một trăm mét, tốc độ dòng chảy đã đạt đến mười lăm mét/giây – tín hiệu từ thiết bị thăm dò bằng tia laser của bọn Nhạc Dương, Trương Lập gửi về hiển thị. Chỗ cậu xuống, tuy nước chỉ sâu chừng hai lăm mét, nhưng dưới lòng sông lại có rất nhiều tảng đá lớn, có tảng còn nhô lên gần mặt nước, cẩn thận dây thừng bị cứa đứt đó.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Tôi biết rồi, sẽ hết sức cẩn thận.” Gã bắt đầu khoác đồ lặn lên người, cầm theo các thiết bị thăm dò, đeo túi công cụ, hai bên túi công cụ là bình dưỡng khí nén dạng lỏng sáu lít, tầng trên là một chiếc dù nhỏ có thể tách ra, tầng dưới đựng các công cụ thăm dò hang động, bao gồm cả máy đo khoảng cách bằng laser có thể hoạt động dưới nước, máy dò sóng âm, máy ảnh, máy tính sử dụng được dưới nước, ở thắt lưng cài một chuỗi móc khóa và chốt an toàn, trên vai đeo một cuộn dây thừng hai trăm mét, một đầu dây cột chắc vào người, đầu kia cột vào khẩu súng bắn dây móc cầm trên tay. Chuẩn bị xong xuôi, gã quay sang hỏi pháp sư Á La: “Tốc độ gió thế nào?”

Pháp sư Á La nhìn số liệu trên màn hình thiết bị, nói: “Có thể nhảy được.” Trác Mộc Cường Ba lại hỏi Nhạc Dương và Trương Lập bên dưới: “Chuẩn bị xong chưa? Tôi xuống đây.” Trương Lập đáp: “Không vấn đề, chúng tôi đã chuẩn bị xong.”

Trác Mộc Cường Ba nhìn lại vị trí của Trương Lập và Nhạc Dương trên màn hình ra đa lần cuối, rồi dợm bước đến mép bình đài, hít sâu một hơi, chúc đầu lao xuống dòng sông đang cuồn cuộn chảy sâu hai trăm mét bên dưới. Vừa rời khỏi bình đài, Trác Mộc Cường Ba đã chỉnh lại vị trí thân thể, sau khi xác định có đủ không gian, liền lập tức bật dù ra. Tốc độ rơi tự do rất nhanh, nên khi chiếc dù bật mở, gã chỉ còn cách mặt nước chưa đầy năm chục mét. Trên mặt sông rộng mênh mang, gã đã nhìn thấy bộ phát tín hiệu của Trương Lập và Nhạc Dương lắp đặt. Trác Mộc Cường Ba vươn tay, mũi tên mang theo sợi dây thừng bắn vọt ra khỏi nòng súng, cắm vào vách đá. Thân thể Trác Mộc Cường Ba trên không trungvẫn tiếp tục từ từ rơi xuống, đến khi nhìn Nhạc Dương hay Trương Lập bắn ra một quả pháo hiệu, biểu thị mũi tên mang theo dây thừng đã cắm chuẩn xác vào vị trí định trước, gã mới không chút do dự kéo mạnh nút thắt sợi thừng thứ hai, cắt đứt dây nối với chiếc dù. Chiếc dù liền bị gió thổi bay tít xuống hạ du, còn cả người Trác Mộc Cường Ba đã lao vào dòng nước xiết.

Nước sông lành lạnh, bên tai tiếng nước chảy “ùng ục ùng ục” vang lên không ngớt, nước sông Nhã Lỗ Tạng Bố chảy xiết lạ thường, vừa xuống nước, Trác Mộc Cường Ba đã cảm thấy dây thừng trên vai mình không ngừng bị kéo ra phía ngoài, gã vận hết sức quạt nước, nhưng cũng không ích lợi gì lắm, loay hoay hồi lâu mới tìm được một tảng đá lớn, dựa lưng vào đó nghỉ ngơi giây lát cho lại hơi, đồng thời xác định lại vị trí của mình. Lúc này một đầu dây thừng đã truyền lại cảm giác giật giật, kéo đi kéo lại ba lượt, đây là tín hiệu của Trương Lập và Nhạc Dương, biểu thị hai người đã cố định lại dây thừng cho chắc chắn rồi, không cần lo bị dòng nước xiết đánh bật ra khỏi vách đá. Ở dưới đáy sông, Trác Mộc Cường Ba bật đèn chiếu gắn trên đầu lên mức sáng nhất, gã cần phải tìm một con đường để sang được bờ đối diện. Chỉ dựa vào sức người bơi, không thể nào chống lại được dòng nước xiết cuồn cuộn, gã đành lựa chọn cách đi ngầm, bên dưới lòng sông có rất nhiều tảng đá lớn giúp gã trụ vững thân hình lúc tiến bước. Bên cạnh bóng đèn gắn trên mũ đội đầu là ống kính máy quay, tất cả dữ liệu ghi lại được đều lưu trữ trong máy tính xách tay chịu nước, chỉ cần kết nối thành công, tất cả những gì Trác Mộc Cường Ba nhìn thấy dưới nước, pháp sư Á La ở trên bình đài cũng có thể thấy rõ mồn một. Trác Mộc Cường Ba thử kiểm tra lại tín hiệu vô tuyến, thấy liên lạc không có vấn đề gì, bèn trao đổi nhanh mấy câu với pháp sư Á La. Pháp sư cho gã biết lưu lượng và tốc độ dòng chảy dưới đáy sông, đồng thời bảo gã nên chọn tuyến đường nào thì thích hợpnhất.

Vì bản đồ địa hình lòng sông do thiết bị thăm dò bằng sóng âm truyền về phát huy tác dụng, nên điểm đặt chân của Trác Mộc Cường Ba hết sức chuẩn xác. Trước mặt Trác Mộc Cường Ba có mấy tảng đá lớn đứng sừng sững, thành cột trụ cho gã bám vào trong dòng nước xiết. Dưới sự chỉ huy của pháp sư Á La, Trác Mộc Cường Ba bám vào các góc cạnh của những tảng đá ngầm khổng lồ, len lỏi qua khoảng trống giữa dòng nước xiết và đá tảng. Tuy làm vậy hơi tốn thời gian một chút, nhưng bình không khí lỏng đã được Trương Lập cải tiến gắn trên lưng Trác Mộc Cường Ba chứa đủ dưỡng khí cho gã thở dưới nước bốn giờ đồng hồ, vì vậy, gã hoàn toàn không cần lo lắng về vấn đề thời gian dưới nước này.

Trác Mộc Cường Ba lặn một mạch đến phía bên kia vách đá, ngẩng đầu nhìn từ đáy nước lên, mặt sông tựa như một dải lụa màu xám đang không ngừng quẫy động. Dưới ánh sáng ngọn đèn gắn trên mũ, gã thấy vách đá bám đầy các loài cỏ nước cùng chảy dạt về một hướng dưới nước, trông tựa như lông của loài động vật nào đó. Khu vực bóng đen như cửa hang trong hình ảnh máy định vị sóng âm gửi về nằm phía trên chừng mười mét. Trác Mộc Cường Ba chỉnh đèn cho phát ra chùm sáng mạnh nhất, cũng chỉ có thể nhìn thấy một quầng mờ ảo. Gã thử tiến lên gần cửa hang, không ngờ, thân thể vừa mới rời lòng sông, đã không tự chủ được mà bị dòng nước cuốn đi. Cũng may gã còn phản ứng kịp thời, mới chỉ trượt đi chưa đầy một mét đã trụ vững lại được.

Trác Mộc Cường Ba lại tiếp tục tìm kiếm khe nứt, cắm chốt, cố định dây thừng, rồi một lần nữa bám vách đá leo lên trong nước. Mặc dù gã đã hết sức cẩn thận, nhưng lúc sắp tiếp cận được khu vực bóng đen vẫn có hơi sơ suất một chút. Bóng đen trên bản đồ sóng âm ấy, giống như một cái lỗ đen vũ trụ, có sức hút rất lớn, tựa như muốn hút hết mọi thứ xung quanh nó vào bên trong. Cũng may cửa hang rất nhỏ, Trác Mộc Cường Ba mất thăng bằng, nhưng vẫn kịp dùng sức đạp mạnh vào hai bên, mới không bị lực hút đó làm cho cắm đầu vào. Loay hoay một hồi lâu xung quanh cửa hang, thể lực gã đã tiêu hao một phần đáng kể. Nghe thấy tiếng thở hơi gấp gáp của Trác Mộc Cường Ba, pháp sư Á La liền phát tín hiệuliên lạc: “Sao vậy? Có phải có một cửa hang không?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Đúng là có một cửa hang.” Pháp sư Á La lại hỏi: “Có vào được không?”

Trác Mộc Cường Ba đáp: “Không được, sức hút lớn quá, hơn nữa lại ở sâu dưới nước chừng mười lăm mét, mắt thường không quan sát được bất cứ thứ gì. Vả lại, cửa hang rất nhỏ, vai tôi chui vào chỉ thừa ra chừng mười lăm xăng ti mét, nếu thêm cả bình dưỡng khí nữa… dù vào được e rằng cũng khó mà ra được.”

Pháp sư Á La nói: “Ừm, còn cách nào để thăm dò không, chúng ta cần phải tìm hiểu rõ tình hình bên trong cửa hang trước đã.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Giờ tôi đang buộc thiết bị thăm dò bằng tia laser và sóng âm vào dây thừng, thả vào trong hang, còn cả hình ảnh nữa, tôi đang truy cập dữ liệu, pháp sư ở trên đó có nhận được tín hiệu không?”

Pháp sư Á La đáp: “Yếu lắm, phải điều chỉnh lại một chút.” “Sao rồi? Có cần chúng tôi giúp không? Cường Ba thiếu gia?” Nhạc Dương hỏi. “Đợi chút đã.” Pháp sư Á La nói: “Một người lên đây, ai gầy hơn ấy.” “Rõ rồi.” Nhạc Dương reo lên trong bộ đàm. Trác Mộc Cường Ba ở bên dưới hỏi: “Đã thấy gì rồi? Pháp sư?”

Pháp sư Á La nói: “Không được rõ cho lắm, nhưng thiết bị phát sóng âm đã gửi về bản đồ địa hình, hang động ấy rất sâu, là rất sâu đấy. Đường kính bên trong cửa hang tương đương với suy đoán của cậu, đại khái khoảng sáu mươi cho đến bảy mươi xăng ti mét, đo khoảng cách bằng tia laser thấy đại khái khoảng trên dưới trăm mét. Nhưng vẫn còn vấn đề, bên trong không còn lối thông nữa, tôi cần các cậu vào đó xem sao. Nhiệt độ nước 6 độ C, tốc độ dòng chảy 11 mét/giây, được rồi, Nhạc Dương đã lên đây, cậu ấy sẽ thay trang bị rồi đi cùng với cậu. Cẩn thận đấy.”

Nhạc Dương nói: “Cường Ba thiếu gia, tôi xuống ngay đây.”Nhạc Dương thay một bộ đồ lặn, rồi đem theo một cuộn dây dài hai trăm mét nữa xuống nước. Hai người lần dọc theo sợi dây Trác Mộc Cường Ba đã cố định dưới đáy nước, tiến đền gần cửa hang, sức hút mạnh khiến thân thể họ không tự chủ được mà tự động dịch chuyển về phía ấy. Nhạc Dương nói: “Cửa hang này hình thoi, hơi hẹp một chút, tôi nghĩ tôi có thể vào được.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Phải hết sức cẩn thận, tôi sẽ cố định dây thừng cho chắc, nếu gặp chuyện gì dị thường lập tức giật dây, tôi sẽ kéo cậu ra.”

Nhạc Dương giơ tay làm dấu “OK”. Trác Mộc Cường Ba liền vỗ lên mũ Nhạc Dương một cái. Anh chàng buộc chặt dây thừng, hai tay cầm hai chiếc dùi chuyên dụng, cẩn thận chèo chống thân thể, lần mò trượt vào bóng đêm vào tận bên trong. Trác Mộc Cường Ba canh chừng bên ngoài cửa hang, tay nắm chặt sợi dây thừng đã cố định thật chặt, chầm chậm thả từng chút một. Sau khi Nhạc Dương vào hang, Trác Mộc Cường Ba thấy ngọn đèn trên đầu, và đèn tín hiệu chỉ dẫn ở gót chân anh biến mất dần trong bóng tối, kế đó, việc liên lạc cũng hết sức khó khăn, chẳng mấy chốc đã không thể nào trao đổi bằng lời với Nhạc Dương được nữa. Nhưng khi giật giật dây thừng, Nhạc Dương vẫn không ngừng yêu cầu đòi thả dây dài thêm nữa.

Không ngờ, thả một mạch hết cả cuộn dây, Nhạc Dương mới ở bên trong giật dây ra hiệu muốn trở lại. Trác Mộc Cường Ba kéo Nhạc Dương ra bên ngoài, chỉ nghe anh chàng lắc đầu nói: “Không được, bên trong còn sâu hơn khoảng cách chúng ta có thể thăm dò nữa, cả hang động này chếch xuống dưới, nhưng góc nghiêng rất nhỏ, không biết là còn sâu bao nhiêu. Ngoài ra, bên trong có lối rẽ, chúng ta cần có ống huỳnh quang để đánh dấu đường. Tôi sẽ truyền số liệu lên trên đó, pháp sư Á La, ngài xem máy tính phân tích thế nào.”

Pháp sư Á La đáp: “Ừm, vẫn đang xử lý, hai người lên nghỉ ngơi một chút đi.” Trương Lập nói: “Tôi cũng lên trên này rồi, cậu ở trong đó có thấy gì không?” Nhạc Dương đáp: “Bên trong có rất nhiều đá vụn lèn chặt, dường như do sức người chặn lại…” Trác Mộc Cường Ba lẩm bẩm: “Cánh cửa Sinh mệnh khép lại. Cánh cửa Địa ngục sẽ mở ra…” “Còn ở đó không?” Giọng pháp sư Á La hơi run run. Trương Lập dường như cũng nhìn thấy gì đó, khẽ “a” lên một tiếng. “Vẫn còn.” Trác Mộc Cường Ba và Nhạc Dương đều đã dựa sát người vào vách đá.

Pháp sư Á La nói: “Mặc dù số liệu Nhạc Dương gửi về không được rõ lắm, nhưng địa hình cơ bản có rồi, máy tính đã xử lý vẽ lại, nếu như chuẩn xác thì ở chỗ Nhạc Dương rẽ lần cuối cùng, vẫn còn một đường hầm dài chừng hai trăm mét nữa, toàn bộ thông đạo này hơi dốc nghiêng xuống dưới, độ dốc chưa đến một độ.”

Nhạc Dương kinh ngạc kêu lên: “Không phải chứ, còn những hai trăm mét nữa cơ à?” Trương Lập nói: “Đúng đấy, hơn nữa hình ảnh tạo thành từ sóng âm còn cho thấy đoạn thông đạo ấy thẳng tăm tắp, như là có dấu vết đục đẽo của con người vậy.”

Pháp sư Á La nói: “Phân tích dựa trên hình ảnh gửi về, có thể thấy trước đây thông đạo này đã bị bít kín, khi niêm phong người ta dùng kỹ xảo đặc biệt nào đó, giống như là trò xây tháp gỗ vậy, chỉ cần rút đi khối gỗ ở tầng dưới cùng, các khối gỗ ở những tầng trên tự động sụp đổ. Hoặc cũng có thể họ đã lợi dụng lực xung kích của bản thân dòng chảy. Tóm lại, chúng ta không biết cổ nhân đã dùng cách thức gì, cũng không đoán ra được, nhưng kết quả cuối cùng là hình thành nên con đường hầm mà chúng ta đang thấy ở đây. Vấn đề là, sau hai trăm mét thông đạo dưới đáy nước này, vẫn chưa đến điểm cuối, hình ảnh sóng âm gửi về cho thấy đến đó thể tích thông đạo lớn hẳn lên. Cũng có nghĩa là, sau đấy có không gian lớn hơn nữa. Có điều, vì chỉ có thể phát sóng âm trong hang động, nên chúng ta thăm dò được phạm vi rất nhỏ thôi.”

Trác Mộc Cường Ba tiếp lời: “Cũng có nghĩa là, phía sau thông đạo, rất có khả năng chính là dòng sông ngầm có thể đi thuyền được?”

Pháp sư Á La nói: “Chỉ là có khả năng thôi, nhưng máy đo khoảng cách bằng tia laser chưa có tín hiệu gửi về, nên chúng ta vẫn chưa biết bên dưới còn sâu bao nhiêu nữa…”

Trác Mộc Cường Ba hấp tấp nói: “Vậy tôi và Nhạc Dương sẽ đi xem sao.”

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 16

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự