Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể Like, Đánh Dấu, Chuyển Giao Diện Đọc... Chỉ mất 40 giây của bạn thôi nhưng còn nhiều đều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 56 NHỮNG NGƯỜI TRÚNG CỔ ĐỘC

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã

Phiên bản Dịch · 19068 chữ · khoảng 69 phút đọc

CHƯƠNG 56:

NHỮNG NGƯỜI TRÚNG CỔ ĐỘC

Cho tới khi tảng đá cử động, vụn đá rơi xuống “lạo xạo”, bọn họ mới phát hiện đó là một con người, ai nấy đều giật thót mình. Người này toàn thân mọc kín một thứ vật chất trông như sỏi, cả phần đầu và mặt cũng bị thứ đó bao phủ, thân mình dựa vào vách đá, nếu không nhìn kỹ thì không thể nào phát hiện ra được. Bộ mặt đó, không thể nào gọi là dữ tợn, phải nói là kinh khủng khiếp mới đúng!

Những người trúng cổ độc

Nhóm người Trác Mộc Cường Ba tìm được Địch ô An Cát Mẫu, nói rõ ý định. Địch ô đại nhân gật đầu, dẫn họ ra khỏi cổng làng, đi về hướng họ đã tới lúc đầu. Dọc đường gặp dân làng, ai nấy đều mỉm cười chào hỏi, giờ dân làng Công Nhật Lạp đã không còn thù địch với họ nữa rồi. Nhưng Nhạc Dương lại phát hiện, có ba người bộ dạng trông như lão nông, lúc đi qua gặp họ, nét mặt hoàn toàn không lộ cảm xúc gì, không vồn vã cũng chẳng lạnh lùng, ánh mắt đượm vẻ cảnh giác. Có lẽ họ không biết hôm qua Mẫn Mẫn và giáo quan đã phân phát lương thực cứu trợ dân làng cũng nên, hoặc là không phát cho họ, dân làng đông như vậy, thế nào chẳng bị sót. Nhạc Dương cũng chưa kịp nghĩ ngợi nhiều, chỉ thấy ba người ấy có hai người cụt một chân, một người cụt tay trái, nhìn cứ quái quái làm sao, lúc lướt người qua mới không nén được ngoảnh đầu lại nhìn thêm lần nữa, vừa khéo trông thấy người cụt hoàn toàn từ gối trái trở xuống đang chằm chằm nhìn mình, ánh mắt hung hãn lạ thường, Nhạc Dương vội quay đầu lại, trong lòng vẫn chưa hết sợ.

Vừa đi, Nhạc Dương vừa âm thầm ghi nhớ vị trí, nơi này ở sâu trong rừng, không xa chỗ Trương Lập gặp Mã Cát hôm qua lắm, đằng trước có một hang động trông rất kỳ lạ. Địch ô An Cát Mẫu nói: “Chính là chỗ này, bọn họ đều là những người trúng phải cổ độc trong chiến tranh. Thuật sử dụng cổ độc của vương quốc chúng tôi và vương quốc Yaca khác nhau, vì vậy chúng tôi cũng không có cách nào giải trừ được. Hôm qua tôi thấy các vị chữa trị cho dân làng, biết đâu lại giúp được điều gì đó. Mà tìm hiểu thêm một chút về cổ độc, biết đâu lại giúp được cho các vị ít nhiều.”

“Nơi này bị cách ly hoàn toàn phải không?” Lữ CánhNam nhìn cảnh trí xung quanh, cất tiếng hỏi.

Địch ô đại nhân đáp: “Đúng thế, vì sợ bị truyền nhiễm, mà cũng tránh để dân làng sợ hãi, họ đều bị cách ly ở nơi này. Ngoài làm như vậy, chúng tôi cũng chẳng còn cách nào tốt hơn nữa.”

“Vậy họ ăn uống như thế nào?” Đường Mẫn hỏi.

Địch ô đại nhân mỉm cười đáp: “Mã Cát, mỗi ngày Mã Cát đều mang đồ ăn đến cho họ. Sự thực là, cũng chỉ có tôi và Mã Cát là sẵn lòng đến nơi này. Tất cả dân làng đều không dám đến gần Mã Cát quá, họ sợ bị truyền nhiễm. Kỳ thực, Mã Cát chắc là không bị nhiễm phải những thứ cổ độc đáng sợ ấy đâu, tôi biết chứ. Một đứa bé thiện lương như nó, làm sao lại bị truyền nhiễm cho được?”

Ở cửa hang, Địch ô lại nhấn mạnh thêm một lần nữa: “Hy vọng các vị đừng phát ra những âm thanh quá kinh ngạc, dẫu sao thì những người ở trong đó, cũng hơi... đáng sợ!”

Sự thực là, không cần Địch ô An Cát Mẫu phải nhấn mạnh như thế, khi đứng ngoài cửa hang, họ đã cảm nhận được điều đó rồi. Một luồng hôi thối nồng nặc bên trong xộc ra, đó là mùi thịt thối rữa mưng mủ pha lẫn với mùi của chất bài tiết; trong hang rất tối tăm, chỉ có những tia sáng yếu ớt từ trên đỉnh rót xuống, không khí bên trong những trụ sáng ấy tưởng chừng như đã biến thành một dạng chất keo kết dính, đục ngầu lên; đủ thứ tiếng rên rỉ yếu ớt và đau đớn vẳng ra, nghe như những mũi dùi nhọn đâm vào tai.

Mới đi vào được nửa đường, Mẫn Mẫn đã phải chau mày, mùi không khí ở đây quả thực là rất kinh khủng. Không chỉ mình cô, cả nét mặt Nhạc Dương cũng không lấy gì làm dễ chịu cho lắm, mỗi người đều đang cố đè nén cảm giác buồn nôn mửa xuống. Lúc này, Địch ô đại nhân đã dừng lại, cất lời: “Bạc Ca, chúng tôi đến thăm cậu đây, cậu khỏe không?”

Bọn Trác Mộc Cường Ba đưa mắt nhìn quanh quất khắp bốn phía, nhưng không thấy người nào, xung quanh chỉ có vách đá xám xịt, Địch ô An Cát Mẫu đang nói chuyện với ai vậy? Chỉ có Lữ Cánh Nam và pháp sư Á La là chú ý thấy, ở một góc tường, có hơi thở rất yếu ớt, đó cũng là nơi ánh mắt của Địch ô An Cát Mẫu dừng lại. Có điều, nhìn kỹ lại, thì đó cũng chỉ là một đống đá mà thôi.

“Địch ô đại nhân... hôm nay, Mã Cát không đến ạ?” Nơi góc tường vang lên tiếng hồi đáp yếu ớt, giọng nói rất già nua mệt mỏi. Nhưng bọn Trác Mộc Cường Ba trợn tròn hết cả mắt lên cũng vẫn chẳng thấy người nào hết!

Cho tới khi tảng đá cử động, vụn đá rơi xuống “lạo xạo”, bọn họ mới phát hiện đó là một con người, ai nấy đều giật thót mình. Người này toàn thân mọc đầy một thứ vật chất trông như sỏi, cả phần đầu và mặt cũng bị thứ đó bao phủ, thân mình dựa vào vách đá, nếu không nhìn kỹ thì không thể nào phát hiện được. Bộ mặt đó, không thể nào gọi là dữ tợn được, phải nói là kinh khủng khiếp mới đúng!

“Mã Cát nói, đã tìm cho tôi một nơi rất tốt, bao giờ thì đưa tôi đi vậy?” Người đàn ông tên là Bạc Ca ấy vừa cất tiếng, vụn đá trên mặt liền rơi xuống lả tả. Anh ta khẽ nhúc nhích một chút, trên người cũng có từng mảng từng mảng sỏi lớn rơi xuống, lộ ra phần thịt màu đỏ tươi, có chỗ, lại còn lộ ra cả xương trắng hếu.

Địch ô An Cát Mẫu nói với Bạc Ca: “À, một hai hôm nữa đi, sức khỏe cậu vẫn còn trụ được, trong thời gian ngắn thì chắc không sao đâu. Chỗ ấy ta cũng xem qua rồi, được lắm, đích thân Mã Cát chọn đấy.”

Khi nghe thấy Mã Cát đã đích thân chọn nơi đó, ánh mắt Bạc Ca thoáng lộ ra một tia hy vọng, khẽ mấp máy môi nói: “Đi được thì tốt, đi là tốt, khỏi phải liên lụy mọi người. Mã Cát vẫn khỏe chứ, sao hôm nay không đến?”

Địch ô An Cát Mẫu đáp: “Có bệnh nhân mới, Mã Cát phải chăm sóc cho người đó.”

“Ồ.” Trên gương mặt đáng sợ của Bạc Ca, không ngờ lại nở được một nụ cười ấm áp.

Địch ô An Cát Mẫu lấy một thùng nước, đổ từng gáo từng gáo lên người Bạc Ca, rồi nói: “Đây là Na Nhật Bạc Ca, từng là dũng sĩ của vương quốc Langbu chúng tôi, sau một lần hành thích thất bại, cậu ấy bị trúng phải Nham cổ, thân thể đang hóa thành nham thạch. Cả người cậu ấy sẽ dần dần biến thành một tảng đá, giờ đã đến thời kỳ cuối rồi, không thể đi đâu được nữa, giờ thì cả thức ăn cũng chẳng nuốt được, mỗi ngày đều phải dùng nước tưới ba đến bốn lần, bằng không thân thể sẽ cứng đơ, giống như các vị vừa trông thấy đó, nhúc nhích một chút là nứt toác ra.”

Đường Mẫn lấy cái kẹp nhỏ gắp lên một miếng vụn đá rơi dưới đất, kinh ngạc thốt lên: “Đây là... đây là tầng chất sừng, bọc bên ngoài tổ chức xương. Thân thể anh ấy không phải đang biến thành đá, mà là biến thành xương! Đợi một chút, hình như em có biết chứng bệnh này, hình như ở đâu đó cũng có ca tương tự như thế thì phải.”

Đội trưởng Hồ Dương liền nhắc nhở: “Tra tư liệu.”

Trác Mộc Cường Ba quỳ một chân xuống, lấy máy tính xách tay ra, nhập vào các từ khóa “cốt hóa”, “các cơ quan tổ chức trên cơ thể cốt hóa” để tìm kiếm. Không lâu sau, máy tính liền cho ra mấy kết quả, trong đó “chứng cốt hóa cơ bắp” khá phù hợp với tình trạng của người đang ở trước mặt họ lúc này.

Đường Mẫn nói: “Đúng rồi, chính là nó đấy, em nhớ những người đó được gọi là người san hô. Đây là một loại biến dị gene di truyền, cơ bắp và các tổ chức mềm trên cơ thể người, thậm chí cả các cơ quan nội tạng, mạch máu, đều dần dần hóa thành xương! Khi bệnh đến giai đoạn cuối, thân thể người bệnh không thể hoạt động gì được nữa, toàn bộ đều biến thành xương hết.”

Trác Mộc Cường Ba gấp máy tính lại, những người khác cơ hồ cũng thầm thở phào nhẹ nhõm, có thể dùng phương pháp khoa học để biết đây là chứng bệnh gì, xem ra cổ độc và y học hiện đại cũng vẫn có liên quan đến nhau. Địch ô An Cát Mẫu thoáng thấy một tia hy vọng, vội hỏi: “Sao rồi? Có cách chữa trị không?”

Đường Mẫn lí nhí nói: “Chúng tôi biết đó là bệnh gì, nhưng cũng không có cách nào cứu chữa cho anh ấy được.” Sự thực là, với kỹ thuật y học hiện nay, vẫn chưa có phương pháp nào thực sự hữu hiệu để chữa trị chứng bệnh này cả. Đường Mẫn thở phào, đồng thời cũng tăng thêm mấy phần sợ hãi, lẽ nào loại cổ độc này đã đạt đến mức có thể gây biến dị trong gene rồi hay sao? Đây là thuật phù thủy được phát minh bởi những con người từ một nghìn năm trước đó thật sao?

Địch ô An Cát Mẫu gật đầu: “Ừm, Bạc Ca cũng đã có chuẩn bị rồi, nơi này cũng chỉ có mình cậu ấy là ‘nham nhân’ thôi, Mã Cát đã tìm cho cậu ấy một nơi sơn thanh thủy tú để yên nghỉ rồi.”

Nhạc Dương buột miệng hỏi: “Không phải sẽ thiên táng sao?”

Sắc mặt Địch ô An Cát Mẫu trầm xuống, rồi lập tức mỉm cười nói: “Thiên táng, chỉ những người có phẩm đức cao quý mới được hưởng đãi ngộ đó thôi, không phải tùy tiện ai cũng được, hơn nữa, những người trúng cổ độc chỉ có thể dùng thổ táng hoặc hỏa táng thôi. Vì vậy, có thể tìm được một nơi thanh tĩnh vắng vẻ, cảnh sắc tươi đẹp, đã là tốt nhất cho họ rồi.” Nói đoạn, ánh mắt dò hỏi lại hướng về phía pháp sư Á La và Trác Mộc Cường Ba, tựa như đang hỏi: “Lẽ nào cả chuyện này mà các vị cũng không biết ư?”

Sắp xếp cho Bạc Ca xong, họ lại tiếp tục đi vào trong. Không ai nói năng gì nữa, đặc biệt là Mẫn Mẫn, chẳng có chuyện gì khiến cô khó chịu hơn là nhìn thấy người bệnh nặng mà mình lại không thể giúp được gì cho họ. Người thứ hai ở cách đó cũng không xa lắm, nằm trên một chiếc giường bằng đá, những tiếng rên rỉ yếu ớt họ nghe thấy ban nãy chính là phát ra từ đây. Bước lại gần, họ mới phát hiện người trên giường là một bà già đầu tóc bạc phơ, trong lòng lại thầm thở phào một tiếng, ít nhất thì mặt mũi bà già này cũng không bị biến đổi gì, chỉ có phần từ cổ trở xuống là dường như bị làm sao đó, thân thể phình to hoàn toàn không hợp tỉ lệ với phần đầu. Trên người bà đắp tượng trưng một tấm chăn màu đen.

Bà già nằm trên giường đá không nhúc nhích được, miệng không ngừng phát ra những âm thanh khiến người ta nổi da gà: “Ôi cha... ôi cha...”

Địch ô An Cát Mẫu nói: “Bà Đan Châu là mẹ của Đôi Vượng, con trai bà ấy không hiểu sao bị trúng phải Vạn Xà Thực Tâm cổ trong chiến tranh. Đôi Vượng trở về thôn làng đã bị thương rất nặng, cổ độc chưa phát thì đã rời khỏi thế gian này. Mẹ già ôm xác con khóc suốt một ngày một đêm, tôi không biết loại cổ độc này lại truyền nhiễm, không ngờ bà Đan Châu cũng bị trúng phải Vạn Xà Thực Tâm cổ, giờ thì giống như có một vạn con rắn đang cắn xé thịt da bà ấy, gặm xương bà ấy vậy.”

Dường như nghe thấy tiếng người nói chuyện, tiếng rên rỉ của bà Đan Châu nhỏ đi nhiều, bà gắng gượng cất giọng dịu dàng hỏi: “Mã Cát, Mã Cát đến phải không?” Trên gương mặt đau đớn ấy không ngờ lại nở ra một nụ cười rạng rỡ vô cùng.

Không hiểu vì sao, Lữ Cánh Nam nhìn thấy cảnh ấy, trái tim bỗng quặn thắt.

Địch ô An Cát Mẫu nói: “Bà Đan Châu, tôi đây, An Cát Mẫu, chúng tôi đến thăm bà.”

Bà Đan Châu mở to đôi mắt đục ngầu, chăm chú quan sát đám người mới đến, nhìn thấy bóng Đường Mẫn lấp ló phía sau, liền tươi cười nói: “An Cát Mẫu à, ông gạt tôi, đó không phải là Mã Cát thì là ai chứ.” Đến khi nhìn rõ đó không phải Mã Cát, bà Đan Châu lại gượng cười đau đớn, nói: “Xin lỗi, tôi nhìn nhầm người rồi.”

Địch ô An Cát Mẫu nói: “Họ là Bạch Độ Mẫu được thượng thiên phái đến thăm bệnh cho bà đấy.” Nói rồi, ông chuẩn bị nhấc tấm chăn trên người bà Đan Châu xuống, để bọn Trác Mộc Cường Ba nhìn rõ tổn thương do Vạn Xà Thực Tâm cổ gây ra với cơ thể. Nhưng, bà Đan Châu thấy có nhiều người, liền hoảng hốt kéo chặt đầu chăn bên kia, và lại bắt đầu rên rỉ “ôi cha... ôi cha...”

Đội trưởng Hồ Dương phát hiện ra điều gì đó, liền đề nghị: “Mấy người chúng ta sang bên kia xem đi.” Nói rồi, anh quay sang bảo Địch ô An Cát Mẫu: “Chúng tôi không đi lung tung, cũng không đụng chạm gì đâu.”

Đám đàn ông bọn Trác Mộc Cường Ba đều tránh đi hết, chỉ để lại Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam, Địch ô đại nhân lúc ấy mới cẩn thận nhấc tấm chăn phủ lên thân thể bà Đan Châu ra. “Á!” Đường Mẫn đã gắng hết sức để kiềm chế bản thân rồi mà vẫn không sao nén nổi, phải đưa hai tay lên bịt miệng phát ra một tiếng kêu khe khẽ.

Bên dưới tấm chăn, không thể gọi là một thân thể, mà chỉ có thể nói là một đống thịt, giống như phần sau của con kiến vậy, một phần thân lớn đến mức vượt quá sức tưởng tượng bình thường, có bảo đấy là một quả núi nhỏ cũng chẳng quá đáng. Nếu Trác Mộc Cường Ba có thể coi là lưng hùm eo gấu, vậy thì một cái bắp tay của bà Đan Châu này cũng to ngang với cả thân người gã rồi; vòng ngực của bà giống như đeo thêm một cái phao bơi làm bằng lốp ô tô, lớp da nhăn nheo phủ lên trên; phần thịt lồi ở bụng che xuống tận đầu gối, để lộ ra cặp đùi to như hai cái trống; bàn chân giống như quả bong bóng được thổi căng phồng, ít nhất cũng phải to gấp bốn năm lần chân người thường, sưng phồng bóng cả lên! Chẳng những vậy, khắp người bà lão này tỏa ra một thứ mùi cực kỳ khó ngửi!

Địch ô An Cát Mẫu giải thích: “Trúng phải Vạn Xà Thực Tâm cổ, vì lũ rắn trong người mỗi lúc một nhiều, nên thân thể sẽ từ từ phình to ra, thông thường bắt đầu từ phần thân dưới, đến cuối cùng thì cả người vỡ toang, vạn con rắn cùng đổ về tim. Như Bà Đan Châu thì đã đến thời kỳ cuối rồi.”

Lữ Cánh Nam lấy hết can đảm, khe khẽ ấn nhẹ lên đùi của bà Đan Châu, cảm giác như thể đang ấn vào một quả bóng da bên trong đầy nước. Cô lại kiểm tra những triệu chứng khác trên cơ thể, rồi nói với Đường Mẫn: “Trong cơ thể không có mỡ tích tụ, cũng không phải sẹo thịt lồi, mà hoàn toàn là phình trướng lên. Tôi nghĩ, triệu trứng này không phải xa lạ với chúng ta, chỉ là chưa bao giờ gặp trường hợp nào nghiêm trọng như vậy thôi.”

Đường Mẫn cũng thử kiểm tra lại mấy triệu chứng khác, rồi đưa ra kết luận: “Phù thũng, bệnh sán chỉ!” Lữ Cánh Nam gật đầu, cô cũng cho là vậy. Tuy nhiên, cô vẫn giữ thái độ cẩn trọng, nói: “Ít nhất cũng là thứ gì đó tương tự như vậy. Tôi nhớ pháp sư Á La từng nói, ký sinh trùng chính là loại cổ độc nguyên thủy nhất, cơ bản nhất, cơ chế phát bệnh của loại cổ độc này có lẽ là tương đồng với bệnh sán chỉ mà chúng ta đã biết.”

“Nếu là sán chỉ, đã phù thũng đến mức này, trong cơ thể sao thể chỉ có một vạn con được, sợ rằng phải đến cả mười vạn con ấy chứ.” Đường Mẫn nghĩ ngợi giây lát, đoạn nói: “Trong đống trang bị của Merkin cung cấp, cũng có thuốc trị ký sinh trùng, chỉ là không biết có hiệu quả hay không thôi, nhưng chúng ta cũng có thể thử xem sao.”

Đường Mẫn nói với Địch ô An Cát Mẫu: “Bệnh của bà Đan Châu, chúng tôi có thể thử một phen, nhưng cũng không dám bảo đảm đâu.”

Địch ô An Cát Mẫu nói: “Thật cảm ơn các vị quá... thượng thiên sẽ bảo vệ các vị, sẽ bảo vệ bà Đan Châu.” Kế đó, ông lại có vẻ hơi khó xử nhìn Đường Mẫn và Lữ CánhNam, nói: “Phải lau rửa người cho bà Đan Châu, ngày nào Mã Cát cũng giúp bà ấy chuyện này. Nhưng tôi...” Nhìn nụ cười của vị Địch ô đại nhân, Đường Mẫn và Lữ Cánh Nambèn tiếp lấy thùng nước và khăn bông.

Bà Đan Châu không cử động được, đại tiểu tiện đều tại chỗ, chất thải dính đầy lên người, có điều không hiểu Mã Cát tìm ở đâu được một loại cỏ giống như cỏ lau, kê vào những chỗ da nhăn nheo đùn lên thành đống của bà Đan Châu, lại trải một lớp dày bên trên giường đá. Loại thực vật này vừa thoáng khí lại hút nước rất tốt, bà già đó nằm trong hang này không biết đã bao lâu rồi, vậy mà không hề bị hoại tử chút nào cả.

“Đây là gì thế?” Đường Mẫn hỏi.

Địch ô An Cát Mẫu đáp: “Đây là cỏ lác, cứ ba tháng là có thể thu hoạch một lần, Mã Cát đã chất hết số cỏ mà con bé có thể thu thập được ở đây.” Ông chỉ vào một góc hang, quả nhiên thấy một đống cỏ chất lên như trái núi nhỏ trong đó.

Giúp bà Đan Châu rửa sạch thân thể không phải chuyện dễ dàng, chỉ được một chốc, Lữ Cánh Nam và Đường Mẫn đã lấm tấm mồ hôi. Đặc biệt là lúc rửa sạch những chất thải ô uế kia, họ đều chưa từng làm bao giờ, cả hai đều phải chau mày, cố nén nhịn cảm giác buồn nôn. Vậy mà bà Đan Châu còn không hài lòng lắm với hai “người mới” này. “Ôi cha... tay Mã Cát nhẹ hơn các cô nhiều lắm...”

“Ây... ây a..., tôi sắp rụng ra rồi... ai ya...”

“Ôi chao ôi... tay các cô bấm vào thịt tôi rồi...”

Cuối cùng cũng rửa sạch người cho bà già ấy, thay một lớp cỏ mới, Đường Mẫn khẽ thở dốc, hỏi: “Mã Cát, cô ấy, ngày nào cũng đến thay rửa cho bà Đan Châu một lần ạ?” Nhận được câu trả lời khẳng định của Địch ô An Cát Mẫu, cô không khỏi thầm nhủ, cô bé ấy, phải lật cả một tấm thân to như trái núi nhỏ thế này lên, làm sao cô ấy làm được nhỉ?”

Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam cho bà Đan Châu dùng một liều nhỏ thuốc trừ giun sán diện rộng trước, sau đó dặn dò Địch ô An Cát Mẫu cách dùng và liều dùng, cũng như cách quan sát hiệu quả trị liệu, rồi mới đi sâu vào trong hang tìm bọn Trác Mộc Cường Ba.

Mấy người đám Trác Mộc Cường Ba đang ở phía bên kia hang động, vây quanh hai người thân thể bị biến dạng một cách kỳ quái. Cả hai người này đều mặt mũi vặn vẹo biến dạng, xương cốt hoại tử, thân thể lọm khọm gù hẳn xuống, khắp người đầy những vảy sẹo màu đen, mưng mủ, chảy máu, cơ thể tỏa ra một thứ mùi khiến người ta chỉ muốn nôn ọe. Thấy Đường Mẫn, Lữ Cánh Nam và Địch ô An Cát Mẫu đi tới, đội trưởng Hồ Dương cất tiếng: “Hai người này bị bệnh phong.” Họ đã dùng máy tính kiểm tra lại các thông tin liên quan rồi.

Địch ô đại nhân nói: “Họ trúng phải Quỷ Diện cổ. Người trúng thứ cổ độc này, thân thể sẽ bị biến dạng nghiêm trọng, mặt mũi trở nên cực kỳ đáng sợ. Loại cổ độc này rất ác hiểm, nghe nói, nếu họ sinh con, thì con cái cũng sẽ bị như vậy, thậm chí cả con của con cái họ cũng thế, đời đời tiếp nối, không bao giờ chấm dứt cả.”

Mặc dù đã biết đó là bệnh phong, nhưng họ cũng không có cách nào trị liệu, chỉ biết bày tỏ sự tiếc nuối với Địch ô An Cát Mẫu. Vị Địch ô già cũng không nói gì, bởi sự thực là, chỉ cần cứu được một người ở đây thì cũng là điều hết sức đáng mừng rồi.

Địch ô An Cát Mẫu lại dẫn họ đi thăm mấy người trúng cổ độc khác cũng được an trí trong hang động, mỗi người lại mỗi khác, tuy nhiên, cũng có một vài người họ có thể tìm được trong máy tính tư liệu về các ca bệnh tương tự để đối chiếu. Chẳng hạn, có một người bàn tay bàn chân bị biến dạng nghiêm trọng, trên da mọc đầy các sẹo thịt, tựa như những nụ hoa đỏ. Địch ô An Cát Mẫu nói đó là Vạn Hoa cổ, nhưng thông qua đối chiếu trên máy tính, họ cho rằng đó là một dạng biến thể của u độc đầu vú. Phương pháp trị liệu hiện nay thông thường là dùng tia laser đốt hết những khối u thừa đó đi, nhưng không thể trị tận gốc được, vì sau đó chúng sẽ mọc trở lại.

Còn hai người nữa trúng phải Đầu Diện cổ, trong đó có một người đầu to như cái đấu. Thật khó mà tưởng tượng nổi, nếu một người có khoang miệng lộ hẳn ra bên ngoài, má hóp vào bên trong, mũi mọc ngược vào trong, hai mắt không đối xứng thì sẽ như thế nào; còn người kia cũng có một bộ mặt rất khó hình dung, miêu tả chuẩn xác một chút, thì như thể người ấy quấn cả một bộ lòng ruột lên mặt mình, ngũ quan hoàn toàn biến mất. Theo quan sát của họ và sự phân tích của máy tính, tổ chức xương đầu của người thứ nhất dường như đã bị biến dị, còn người thứ hai thì tổ chức mạch máu trên đầu bị mọc khối u. Thật không sao tưởng tượng nổi, cùng một loại cổ độc tại sao lại có thể gây ra hai trạng thái biến dạng hoàn toàn khác nhau như thế.

Họ cũng gặp những “thụ nhân” giống như “người” mà Mã Cát chào hỏi lúc ở cổng làng, một người đã bị xâm thực lên đến đùi non, hai chân chỉ còn màu xám xịt mục ruỗng, mới chạm khẽ vào, đã có chất bột lả tả rơi xuống như được gắn bằng thạch cao, để lộ ra những mạch máu đỏ tươi và rễ thực vật màu đen bên trong, hai bàn chân thì giống như giẫm lên hai đống tóc đen nháy, toàn bộ đều là những sợi rễ cây. Theo lời Địch ô An Cát Mẫu, người này đã không thể nào đi lại được nữa, hai chân cũng không thể chạm đất quá lâu, bằng không hai búi lùng bùng trông như búi tóc ấy sẽ xuyên qua gan bàn chân xuống đất. Một khi chúng đã bám rễ vào mặt đất, thì sẽ sinh trưởng càng nhanh. Còn người kia thì đã bị thực vật hóa lên đến phần eo, hai chân đã hoàn toàn mất cảm giác. Địch ô đại nhân nói, người này vẫn còn bốn năm tháng nữa, khi nào phần màu xám xịt kia lên đến ngực, thì cơ hội sống sót gần như là bằng không.

Đường Mẫn định lấy một hai sợi rễ cây nhỏ như sợi tóc ấy về nghiên cứu, ban đầu Địch ô An Cát Mẫu tỏ ra hơi do dự, nhưng nghĩ đến việc biết đâu họ lại tìm ra được nguyên nhân người biến thành cây, cuối cùng ông và mấy “thụ nhân” kia cũng miễn cưỡng đồng ý.

Kết quả là “thụ nhân” ấy bị đau đến nghiến răng nghiến lợi, suýt chút nữa thì ngất xỉu. Bấy giờ Địch ô An Cát Mẫu mới cho họ biết, trước đây cũng có người từng làm vậy, giật đứt hết những thứ mọc chìa ra như tóc ấy đi, kết quả là đau đớn đến chết đi sống lại, nhưng chẳng bao lâu sau những “sợi tóc” bị nhổ đi ấy lại mọc ra như cũ. Từ đó trở đi, không còn ai làm như vậy nữa. Cuối cùng, Đường Mẫn phát hiện ra, thứ trông như tóc ấy thực ra là một kết cấu có tế bào thực vật bám vào các dây thần kinh, nhổ một “sợi tóc” ấy cũng bằng như trực tiếp giật đứt một dây thần kinh, cảm giác gần như lấy búa đập nát đầu ngón tay vậy, chẳng trách người kia lại đau đến cơ hồ muốn ngất đi như thế.

Còn mấy người trúng cổ độc khác lại càng khó hình dung hơn, không chỉ hình dạng khó thể dùng ngôn ngữ miêu tả cho rõ ràng, mà Đường Mẫn cùng Lữ Cánh Nam tra hết các tư liệu trong máy tính cũng không có đầu mối gì, thậm chí cả thứ gì gây nên biến dị cũng không rõ. Có điều, dựa vào những loại cổ độc mà họ đã tiếp xúc cho đến lúc này, đủ thấy cổ độc đã bao hàm từ động thực vật, đến ký sinh trùng, nấm khuẩn, virus, thậm chí cả sinh vật biến đổi gene. Thực khó mà tin nổi, đây là những thứ mà cổ nhân từ nghìn năm trước đã tiến hành nghiên cứu.

Nhìn những người bệnh hình thù dị dạng, sẹo lồi sẹo lõm mọc khắp người, mùi hôi thối, lở loét bốc nên nồng nặc, Đường Mẫn cảm thấy thật khó tin, lẽ nào tất cả những người này đều do cô bé tên là Mã Cát ấy một tay chăm sóc hay sao? Cô nghĩ thế, bèn hỏi luôn ra miệng.

Địch ô An Cát Mẫu gượng cười đáp: “Đương nhiên, ngoài tôi và Mã Cát, làm gì còn ai dám đến nơi này nữa đâu?”

“Vậy... nếu có ngày nào Mã Cát không tới thì sao?”

“Thì họ sẽ lặng lẽ chờ đợi, chờ đợi cái chết, hoặc là chờ đợi Mã Cát.” Địch ô An Cát Mẫu bất giác nở ra một nụ cười hiền hòa, nói với những người khách lạ: “Thực ra, số phận của những người trúng cổ độc này lẽ ra phải bị bỏ ở trong rừng Xương Trắng bên ngoài thôn làng cho tự sinh tự diệt. Mã Cát đã phát hiện ra hang động này, rồi chuyển những người đó vào đây, hàng ngày đều đưa nước và thức ăn tới, dốc lòng chăm sóc họ như chăm sóc thân nhân của chính mình vậy. Mã Cát là con bé rất có quyết tâm, chuyện mà nó muốn làm, thì phải làm cho bằng được, từ nhỏ nó đã như vậy rồi.”

“Không ai dạy cô ấy, tự cô ấy nghĩ là cần làm chuyện này à?” Đường Mẫn không tin có ai vừa sinh ra đã có tấm lòng Bồ tát, mới ngần ấy tuổi mà đã chăm sóc bao nhiêu người mắc bệnh nặng như vậy, đó không phải là chuyện người bình thường có thể làm được.

Địch ô An Cát Mẫu mỉm cười nói: “Thực ra, mới đầu Mã Cát cũng không ngờ sẽ thành ra như vậy, chỉ là cô Ương Kim của con bé bị trúng phải Thất Tâm cổ, Mã Cát và cô Ương Kim của nó rất thân thiết, nó không cho dân làng đuổi cô Ương Kim đi, liền tìm ra nơi này, hằng ngày đều đến chăm sóc cô ấy. Người trúng phải Thất Tâm cổ, bình thời thì chẳng khác nào người thường cả, nhưng khi cổ độc phát tác thì chẳng còn nhận ra người thân người quen gì nữa, đầu óc trở nên điên cuồng, không thể dùng lý lẽ của người bình thường để lý giải được. Từ năm mười tuổi, Mã Cát đã bắt đầu chăm sóc Ương Kim, suốt năm năm ròng cho tới khi cô ấy qua đời. Lúc ấy, người trong làng không ai tin con bé ấy có thể kiên trì được đến cùng. Ngày nào Mã Cát cũng bị thương, không phải bị cào cấu, thì là bị cắn xé, nhưng nó không hé răng than van lấy nửa lời. Mã Cát chăm sóc cho Ương Kim được nửa năm thì trong làng lại đưa tới đó người trúng cổ độc thứ hai, chính là “thụ nhân” ở đầu làng, tên là Thứ Nhân Lang Ca. Mã Cát cũng không từ chối, hoặc có lẽ, đối với nó, một hay hai người cũng chẳng có gì khác biệt cả. Về sau, lại có người thứ ba, thứ tư. Thực ra, trong làng chúng tôi cũng chỉ có khoảng ba bốn người trúng cổ độc đó thôi. Về sau các thôn làng khác nghe được tin này, những người trúng cổ độc ở những nơi ấy cũng đều tới đây hết. Tôi nghĩ, chắc rằng chẳng có ai muốn chịu đói chịu khát, chịu đựng nỗi cô đơn và sợ hãi trong rừng Xương Trắng tối tăm lạnh lẽo ấy cả. Mã Cát đối xử với mọi người đều như nhau, dường như nó đã quên mất ban đầu tại sao mình lại tới đây rồi, nó cũng không có lấy một lời oán trách, chỉ lặng lẽ tiếp tục công việc của mình, để những người ấy được bớt đi phần nào đau khổ.”

Nhạc Dương thấy tim mình nhói lên, tựa hồ đã ý thức được mình vừa phạm phải sai lầm gì. Trác Mộc Cường Ba cũng cảm nhận được, những người trúng cổ độc ấy, chỉ cần nghe thấy tên Mã Cát, cho dù đau đớn đến mấy, trên gương mặt họ cũng đều nở một nụ cười. Nghe câu chuyện tưởng chừng rất đỗi bình thường ấy, Ba Tang cũng không khỏi động dung, anh ta thực sự không có cách nào liên tưởng cô gái trong câu chuyện với cô bé Mã Cát mình gặp bên hồ hôm trước, với nụ cười thuần khiết như hài đồng, khiến người ta nhìn một lần là khó thể nào quên của cô. Anh ta không thể hiểu nổi: trên đời này lại có người như vậy sao? Cô ấy còn vui vẻ được sao? Còn hạnh phúc được sao? Tại sao cô ấy vẫn có thể cười vui như thế?

Mã Cát và Trương Lập

Trên đường trở về làng, Nhạc Dương tò mò hỏi về cái nồi lớn đặt ở cổng làng, Địch ô An Cát Mẫu cười cười, rồi giải thích: “Chuyện về cái nồi lớn đó hả, truyền thuyết kể rằng, từ rất lâu rất lâu trước đây, trên tầng thứ hai của Thánh vực này có Lâm quốc và Trạch quốc, hai nước giao chiến liên miên. Có một lần, vương tử của Lâm quốc bị thương rất nặng, một mình chạy đến vùng này. Năm đó cũng mất mùa đói kém, Vương tử bị thương nặng, lại không có gì ăn, tưởng chừng không sống nổi. Lúc ấy, có một cô gái xinh đẹp lương thiện cư trú ở vùng này tên là Như Thu Kiệt Mẫu đã cứu sống vương tử. Vương tử bị lạnh, nàng liền dùng thân thể mình ủ ấm, vương tử bị đói, nàng liền cắt thịt trên thân mình cho vương tử ăn, còn bản thân nàng thì chỉ nhai cỏ khô cầm hơi. Được Như Thu Kiệt Mẫu tận tình chăm sóc, vương tử đã sống lại, chàng đã nặng lòng yêu say đắm người con gái cứu sống mình ấy. Còn Như Thu Kiệt Mẫu cũng sớm đã đem lòng yêu vương tử, hai người bèn kết tình chồng vợ, hẹn ước trăm năm. Chỉ có điều, chiến tranh vẫn đang tiếp diễn, không kịp nói lời từ biệt, vương tử đã lại khoác chiến bào lên đường ra trận. Đến khi chiến tranh kết thúc, vị vương tử ấy chợt nhận ra mình không thể tìm được nơi người vợ năm xưa đã cứu mạng mình. Chàng chỉ lờ mờ nhớ được, dáng núi nơi ấy giống như một cái vạc, vì vậy vương tử một mặt phái người đi khắp nơi tìm kiếm, đồng thời lại sai người dựa theo ký ức của mình đúc nên một cái vạc lớn, đặt trước cổng lớn của vương thành, thông báo nếu có người biết được nơi này sẽ ban thưởng lớn. Cuối cùng, vương tử cũng tìm được người vợ đang khổ sở đợi chờ chàng, khi ấy chàng đã trở thành quốc vương của Lâm quốc, hai vợ chồng họ sống hạnh phúc bên nhau tới lúc bạc đầu. Cái vạc lớn ấy được đưa trở lại nơi hai người lần đầu gặp mặt để làm chứng cho tình yêu của họ. Về sau, khi quốc vương băng hà, vương phi cũng không muốn sống tiếp, bèn nhờ Đại Địch ô của vương quốc đưa quốc vương tới đây, dùng cái vạc lớn này để tiến hành nghi thức hợp nhất linh hồn, cùng nhau nắm tay về trời, mãi mãi không lìa xa nhau nữa. Sau đó, người Vi Đạt chúng tôi di cư tới đây, chọn đất cắm bia, lập nên thôn làng này, cái vạc này trở thành Vạc Hạnh Phúc được dân làng truyền tụng từ đời này sang đời khác. Những đôi nam nữ luyến ái nhau, đều len lén ra trước vạc phát nguyện hẹn thề, bày tỏ tình yêu.”

Nói xong, Địch ô An Cát Mẫu mỉm cười nhìn Nhạc Dương, tựa hồ muốn nói, đây là một câu chuyện tình đẹp lắm phải không, sau lại bổ sung thêm: “Đương nhiên, đây cũng chỉ là truyền thuyết, rốt cuộc là thôn Công Nhật Lạp chúng ta có trước hay cái vạc này có trước, trong các thư tịch cổ xưa của thôn làng không hề có ghi chép rõ ràng.”

Nhạc Dương lại hỏi thêm: “Vậy nghi thức linh hồn hợp nhất đó, rốt cuộc là như thế nào vậy?”

Địch ô An Cát Mẫu thu lại nụ cười, nói: “Đó là một nghi thức rất cổ xưa của chúng tôi.” Nhạc Dương thấy nét mặt của Địch ô đại nhân, thầm đoán chắc đây là một loại nghi thức không thể tùy tiện cho người ngoài biết, bèn không hỏi thêm nữa. Địch ô An Cát Mẫu thầm khen cho sự nhạy bén và khả năng lý giải của anh chàng trẻ tuổi này, nghĩ ngợi một chút, rồi chuyển qua chủ đề khác: “Kể ra thì, câu chuyện của Mã Cát cũng khá giống với truyền thuyết đấy chứ.”

“Hả?” Nhạc Dương thốt lên: “A Mễ cũng từng cứu được vương tử à?”

Địch ô An Cát Mẫu cười cười, còn chưa kịp trả lời thì đã có người dân trong làng chạy đến tìm hỏi chuyện gì đó, Nhạc Dương đành tạm gác chuyện kia lại.

Về đến trong làng, Đường Mẫn mới phát hiện Mã Cát đang ở trong phòng Trương Lập bối rối điều chỉnh vặn đi vặn lại thiết bị thông tấn, rồi lại chống cằm ủ rũ. Một điệu bộ hết sức bình thường như thế, nhưng khi cô thể hiện ra lại sao mà đáng yêu, khiến người ta phải thương xót đến lạ thường. Thì ra Trương Lập vẫn chưa tỉnh, chốc chốc lại nói mớ vài câu, Mã Cát nghe chẳng hiểu gì cả, cô liền nhớ đến thiết bị liên lạc mà Đường Mẫn để lại, nhưng lần này rõ là đã làm theo hướng dẫn rồi mà chẳng có tác dụng gì cả.

Thấy mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba trở về, Mã Cát nhảy bật lên, cầm thiết bị liên lạc đưa cho Đường Mẫn nói: “Chị Mẫn Mẫn, cái này, cái này, không có tiếng nữa rồi...” bộ dạng trông hết sức tủi thân. Đường Mẫn nhìn lại mới phát hiện ra, không hiểu ai đã rút dây điện nối giữa thiết bị liên lạc với thiết bị nguồn ra rồi, cô chỉ liếc về phía Lữ Cánh Nam một cái, nhưng cũng không nói gì, rồi chỉ cho Mã Cát biết nguyên nhân tại sao thiết bị không hoạt động. Có điều, Mã Cát lại phát hiện ra, sau khi trở về, người nào người nấy đều nhìn mình với ánh mắt khác hẳn, cô bèn hỏi: “Mọi người, sao vậy ạ? Lẽ nào các cô các chú ấy khiến mọi người không vui ư?”

Cả bọn rõ ràng đều không ngờ Mã Cát lại hỏi thẳng như vậy. Nhạc Dương vội vàng cười cười giải thích: “À, không, không, làm gì có, nhưng mà, chúng tôi cũng không giúp được gì nhiều, có hơi áy náy một chút.”

“Ồ, không sao đâu.” Mã Cát ngược lại còn an ủi họ: “Tấm lòng của mọi người, em hiểu mà...”

Đội trưởng Hồ Dương chợt hỏi: “Mã Cát, một mình cô chăm sóc những người này, làm sao... làm sao mà chăm sóc hết được?”

Mã Cát mở to mắt, lắc đầu nói: “Không phải một mình cháu đâu, còn có Địch ô đại nhân nữa. Nhưng mà, người trong thôn đều không biết đâu, nếu phát hiện Địch ô đại nhân cũng đến đó, chắc họ không dám đến nhờ Địch ô đại nhân thăm bệnh nữa mất.” Nói tới đây, cô nhoẻn miệng nở một nụ cười ranh mãnh.

“Cô không mệt sao?” Ba Tang cất giọng khàn khan hỏi.

Đây mới là lần đầu tiên Mã Cát nghe thấy Ba Tang lên tiếng, cô giật mình, thoáng ngẩn ra, rồi khe khẽ bặm môi, tròng mắt đảo tròn, tựa như đang nghĩ ngợi xem “mệt” rốt cuộc là ý gì. “Tại sao phải mệt chứ?” Mã Cát trả lời: “Được ở bên mọi người, không phải là một điều rất vui hay sao?”

Thế rồi Mã Cát bắt đầu kể, như thể đang đếm các đồ quý trong nhà ra vậy: “Lời khen của bà Đan Châu, giống như đóa tuyết liên nở rộ trên đỉnh núi quanh năm băng giá, chú Bạc Ca biết rất nhiều câu chuyện hay; bàn tay chú Tố Lang còn khéo léo hơn cả..., chú ấy biết làm rất nhiều món đồ chơi nhỏ thú vị bằng gỗ; à... còn nữa còn nữa, tiếng hát của chú Lang Ca, có thể sánh ngang với chim bách linh trong rừng, cô Ương Giang còn biết kết giỏ hoa bằng cỏ lác nữa...”

Câu trả lời của Mã Cát, khiến cả đám người đến từ thế kỷ hai mươi mốt ấy đều rịn mồ hôi. Khi gặp những người trúng cổ độc đó, họ căn bản không thể nào coi đó là con người giống mình, mà cùng lắm chỉ có sự thương hại mà thôi. Nếu đổi lại để họ đi chăm sóc những người ấy, bản thân họ cũng không dám đảm bảo mình có oán thán hay không. Nhưng Mã Cát thì khác, cô thực sự đã đạt đến cảnh giới coi ai cũng như ai. Một cô bé cùng chuyện trò tán gẫu, vui vẻ kể chuyện, hát ca với các cô các chú, có gì mà phải mệt chứ? Đúng vậy, tại sao phải mệt chứ? Giống như một người mẹ, cả ngày phải thay tã lót cho đứa con mới ra đời của mình mười mấy hai mươi lần; hoặc như người con trẻ tuổi khỏe mạnh, cõng mẹ già sáu bảy mươi tuổi lên phố đi dạo, tại sao phải mệt chứ? Phải thấy hoan hỉ mừng vui mới đúng chứ!

Thấy mọi người không ai nói gì, Mã Cát lại nói tiếp suy nghĩ của mình: “Thực ra, bọn họ cũng đáng thương lắm, nếu Mã Cát không chăm lo cho họ, thì chẳng ai để ý đến họ nữa cả. Thỏ trắng con bị thương, thì thỏ mẹ sẽ mang cỏ non về cho nó; dê con bị thương, dê mẹ sẽ liếm vết thương cho nó; dân làng Công Nhật Lạp bị thương, Mã Cát sẽ chăm sóc cho họ. Sau này Mã Cát sẽ trở thành Đại Địch ô của vương quốc Langbu, lúc ấy cả vương quốc sẽ không còn ai bị thương, cũng không còn ai phải chịu khổ nữa. Mọi người đều có thể sống thật vui vẻ bên nhau.”

Đường Mẫn không nén được đưa tay lên âu yếm xoa đầu Mã Cát, cô bé này tuyệt đối có khả năng và tiềm lực trở thành một y tá giỏi.

Còn Ba Tang, anh ta đanh mặt lại, chầm chậm bước ra ngoài. Anh ta căm ghét thứ cảm giác ấy, ở cái thế giới này, kẻ mạnh làm vua, kẻ nào thích ứng được thì sẽ sinh tồn, những con người và sự vật đến chính bản thân mình cũng không thể tự chăm sóc ấy, lẽ ra cần phải bị đào thải mới đúng. “Chuyện gì xảy ra thế này, tại sao chỉ vì một cô bé con, lại khiến lòng mình thấp thỏm bất an như vậy?”

Hai ngày sau, không ngờ Trương Lập vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm, tiếp tục sốt cao, miệng thì lẩm bẩm nói mớ, lúc khóc lúc cười. Nhạc Dương là người lo lắng nhất, không biết Trương Lập có bị nhiễm phải loại ký sinh trùng đáng sợ như của Sean hay không. Có điều cả Lữ Cánh Nam và Mẫn Mẫn đều khẳng định rằng, bệnh của Trương Lập và Sean hoàn toàn khác nhau, thế nhưng, đúng là có liên quan đến Sean thật. Lữ Cánh Nam nói với Nhạc Dương, vì cái chết của Sean mà Trương Lập luôn tự trách mình, tâm trạng cực kỳ ức chế. Sau khi Sean chết, anh luôn dùng quá sức mình, cố gắng quan sát cẩn thận hơn một chút, bày bố cạm bẫy nghiêm mật hơn nữa. Rồi bận gặp phải bầy gián khổng lồ hôm trước, Trương Lập lấy thân mình mạo hiểm, chủ động dẫn dụ một đám đông nhất, việc làm ấy đã vượt quá cực hạn chịu đựng của cơ thể anh. Vài vết thương trên người vốn chỉ là chuyện nhỏ, nhưng sau khi gặp được Mã Cát, tâm trạng Trương Lập biến đổi đột ngột, chính sự thay đổi đột ngột từ bi thương sang hoan hỉ, cộng với cơ thể thoắt nóng thoắt lạnh sau khi bị thương, mới là nguyên nhân khiến Trương Lập bất ngờ đổ bệnh nặng như thế.

Mẫn Mẫn ở bên nói: “Có điều, đây biết đâu lại là một chuyện tốt. Nếu Trương Lập cứ tiếp tục đè nén cảm xúc trong lòng mình xuống, cho tới khi cơ thể không thể nào chịu đựng được nữa mới bùng phát ra thì hậu quả càng nghiêm trọng hơn nhiều. Trận ốm này, có thể coi như đào thải độc tố, tháo gỡ đi phần nào những khúc mắc u uất trong lòng Trương Lập, khiến gánh nặng trong lòng anh ấy nhẹ bớt, sau này mới có thể từ từ điều chỉnh được.”

Hai ngày này, Mã Cát trở thành người chăm sóc chính cho Trương Lập, đến cả người chẳng hiểu gì chuyện tình ái như Nhạc Dương cũng nhìn ra, cô bé này đối xử với Trương Lập khác hẳn với những người khác. Phải nói thế nào nhỉ? Nhạc Dương lờ mờ cảm thấy hơi giông giống như hồi đó Babatou chăm chóc cho Cường Ba thiếu gia, nhưng lại không hoàn toàn giống thế. Babatou nhiệt tình cởi mở, vui buồn gì đều lộ ra mặt hết, giống như một cô em gái chăm sóc cho người anh trai bị ốm; còn Mã Cát thì lại thu giấu cảm xúc vào trong, giống như một người mẹ chăm lo con thơ, yêu thương, lo lắng, hân hoan, bao nhiêu cảm xúc thảy đều dồn cả lại. Vẻ đẹp của hai người cũng hoàn toàn khác biệt, nếu nói Babatou giống như một đóa mẫu đơn nở rộ dưới vầng dương diễm lệ, thì Mã Cát chính là một bông sen còn đang hé nụ giữa ngày hè, mang đến cho người xung quanh một cảm giác mát mẻ dễ chịu. Lúc cô chống cằm mỉm cười, bộ dạng thật khó diễn tả, chỉ hơi nhíu mày một chút thôi đã khiến người ta thần hồn mê mẩn rồi. Nhạc Dương xưa nay vẫn tự phụ là người ý chí kiên định, vậy mà trước mặt Mã Cát cũng không thể cầm cự được, thường hay đưa mắt liếc nhìn, cũng chẳng biết là đang nhìn Trương Lập hay nhìn cô nữa, tâm tư lại lơ lửng bay đến tận châu Mỹ xa xôi diệu vợi.

Ngoài ra, pháp sư Á La và Địch ô An Cát Mẫu thường bàn luận về tôn giáo, cũng thăm dò được khá nhiều điều về Shangri-la. Còn bốn người bọn Trác Mộc Cường Ba, thân thể cường tráng, tự nhiên là đảm nhận các công việc nặng nhọc như chặt củi, săn bắn, kiếm thêm đồ dự trữ cho cô nhi quả phụ trong làng. Nói theo cách của Nhạc Dương, cả nhóm đã thành một đội cứu trợ tình nguyện rồi.

Đến ngày thứ ba, Trương Lập mới hồi phục được ý thức, câu đầu tiên sau khi tỉnh lại của anh chàng là: “Hôm nay Mã Cát không đến à?” Làm Nhạc Dương ngồi trông bên cạnh gần hai tiếng đồng hồ suýt nữa thì mắc nghẹn, tức tối chỉ thẳng vào mặt Trương Lập ngoác miệng ra mắng: “Người trọng sắc khinh bạn thì tôi gặp nhiều rồi, nhưng đến mức như anh thì mới là lần đầu tiên tôi gặp đấy, hừ!”

Trương Lập nửa đùa nửa thật nói: “Được rồi, được rồi, tôi biết cậu trông ở đây đã lâu lắm rồi, nhưng mà tôi nhớ loáng thoáng hình như hai ngày nay toàn là Mã Cát ngồi ở đầu giường cơ mà nhỉ?”

Nhạc Dương lại kêu lên: “Cái đồ này, sao anh biết giỏi thế? Giả bộ hôn mê chắc?”

Trương Lập lảng đi không trả lời, cười hì hì nói: “Chà chà, giờ mới cảm nhận được sự hưởng thụ của Cường Ba thiếu gia lúc ở bộ tộc Kukuer đấy nhé. Chẳng trách Cường Ba thiếu gia lại hôn mê lâu thế, nếu đổi lại là tôi, dù có hôn mê cả tháng cũng thấy đáng ấy chứ.”

Nhạc Dương không nói gì, ngẩn người ra một lúc lâu, mới lên tiếng: “Tôi bảo này, hãy rời xa Mã Cát đi.”

“Hả? Cậu nói cái gì?”

“Tôi nói là, anh không thể ở bên Mã Cát được.”

“Hả! Cậu nói vậy là ý gì hả, đồ nhãi nhép!” Trương Lập chụp lấy cổ áo Nhạc Dương, ngồi bật dậy chất vấn: “Cậu nói vậy là có ý gì? Nói đi! Có phải cậu ganh tị với tôi không? Nếu cậu cũng thích Mã Cát, thì có thể quang minh chính đại cạnh tranh công bằng với tôi! Giỏi thì giở hết bản lĩnh ra đi! Đừng làm bộ làm tịch nữa, tôi biết cậu chẳng tử tế gì từ lâu rồi! Nói đi! Lúc cậu đi tìm cô Babatou của cậu, tôi có cản cậu hay không hả? Tôi còn giúp cậu ghép cái từ tiếng Anh ấy còn gì! Hừ, giờ đến lượt tôi rồi, cậu giỏi lắm, chẳng những không giúp, còn ngăn cản tôi nữa, còn là anh em không hả, phì phì!”

Nhạc Dương đợi Trương Lập nói hết, mới chậm rãi nhắc lại: “Nói thực lòng, bởi vì tôi cảm thấy, anh không xứng ở bên cô ấy.”

“Tôi không xứng! Cậu xứng chắc?”

“Tôi cũng không xứng! Anh có biết cô gái anh yêu là người như thế nào không? Cô ấy là tiên nữ đấy.”

“Tiên nữ? Tôi mặc xác cô ấy là cái gì nữ! Tôi hỏi cậu, cô ấy không phải là phụ nữ à? Tôi có phải là đàn ông không? Thế không phải là xong rồi à! Tiên nữ! Tiên nữ thì không cần người yêu chắc! Tiên nữ thì không thể yêu con người chắc! Tôi không xứng! Hừ! Người đẹp và quái thú, tiên nữ và ma quỷ! Thế chẳng xứng quá còn gì!”

“Quái thú? Ma quỷ?” Nhìn bộ dạng nghiến răng kèn kẹt của Trương Lập, xem ra cũng có vài phần dữ tợn của lũ ma quỷ.

Trương Lập lại nói: “Cậu không biết à, ở nước ngoài, bộ đội đặc chủng được gọi là quân lính của quỷ đấy. Nói gì thì nói, tôi cũng được coi là một nửa ma quỷ rồi.” Nói đoạn, anh chàng ngẩn ngơ ngửa mặt lên trần nhà mơ mộng: “Nghĩ lại thì, tôi và Mã Cát cũng xứng đôi lắm đấy chứ.”

Nhạc Dương chưa bao giờ ngờ rằng, vừa nhắc tới Mã Cát, Trương Lập liền như biến thành một con người hoàn toàn khác, tư duy nhạy bén, ứng biến nhanh nhẹn, đến cả mình cũng nhất thời tắc tị chưa tìm được lời nào đối đáp kịp. Anh chỉ đành thở dài nói: “Giáo quan nói không sai chút nào, chúng ta đến đây là để thực hiện sứ mệnh của mình. Ở một nơi phía trước có mãnh thú, phía sau có truy binh, không thể gây thêm rắc rối nữa. Anh và Mã Cát cách nhau cả nghìn năm văn minh, lại có rất nhiều khác biệt về tập tục thói quen, hai người vốn không thích hợp...”

Trương Lập tức thì lớn tiếng ngắt lời: “Hợp hay không hợp, đấy là chuyện của hai người chúng tôi chứ! Tôi vốn không tin vào chuyện mới gặp đã yêu, nhất kiến chung tình, nhưng kể từ khoảnh khắc nhìn thấy Mã Cát lần đầu tiên, tôi đã tin rồi! Lẽ nào yêu là phải phân biệt tuổi tác, quốc tịch, phong tục và tín ngưỡng hay sao? Lẽ nào tình yêu có thể dùng quan niệm vật chất và giá trị để đo đếm hay sao? Tôi mặc xác là giáo quan hay là Cường Ba thiếu gia, họ có thể mệnh lệnh cho tôi làm bất cứ nhiệm vụ gì, nhưng không thể ngăn cản tôi yêu một người được! Tôi cứ yêu Mã Cát đấy! Tôi yêu Mã Cát! Bất cứ ai cũng không thể thay đổi suy nghĩ của tôi hết!” Trương Lập mặt đỏ tía tai, thái độ cứng rắn kiên quyết, hai câu cuối cùng gần như là gầm lên vậy.

Vừa khéo lúc ấy Mã Cát cũng đi đến cửa, còn chưa vào trong phòng đã nghe thấy Trương Lập ở bên trong gầm lên, cô chỉ nghe được hai ba câu cuối cùng, rõ ràng là Trương Lập lại lớn tiếng gọi tên mình ra, nhưng không hiểu câu ấy là ý gì. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu, liền ngay sau đó, cô đã có chủ ý.

“Mã... Mã... Mã... Mã Cát!” Vừa thấy Mã Cát xuất hiện ngoài cửa, Nhạc Dương liền lắp ba lắp bắp gọi tên cô, dẫu sao thì anh cũng đang đóng vai không đẹp cho lắm. Trương Lập thì vẫn nhìn Nhạc Dương với ánh mắt khiêu khích, như thể muốn nói: Tôi nhất quyết ở bên Mã Cát đấy, cậu làm gì được nào?

Mã Cát cầm đến một cái hộp nhỏ, cẩn thận đi đến bên chiếc giường lót bằng mấy tấm thảm, quỳ một chân xuống đất, chầm chậm mở nắp ra, rồi bảo Trương Lập: “Anh Trương Lập, cái này, cái này là... uống vào, bệnh của anh sẽ khỏi nhanh thôi.”

Nhạc Dương liếc mắt ngó vào xong, cũng chẳng buồn tranh luận với Trương Lập nữa, chỉ cố nhịn cười “hích hích”, nói: “Hình... hình như là phân chó thì phải!”

Mới đầu vừa nhìn thấy thứ trong hộp, Trương Lập đã hơi chau mày rồi, giờ còn bị Nhạc Dương lớn tiếng nói toạc ra lại càng cảm thấy khó mà nuốt được. Anh khó nhọc ngước nhìn Mã Cát hỏi: “Đây... đây là cái gì thế?”

Mã Cát nghiêm nghị trả lời: “Đây là Mật Lộ hoàn, mỗi năm Địch ô đại nhân cũng chỉ xin được của Đại Địch ô một viên...” Mã Cát giải thích chừng mười lăm phút đồng hồ, Trương Lập và Nhạc Dương rốt cuộc cũng hiểu ra, cái viên Mật Lộ hoàn trông giống cục phân chó này về cơ bản thì giống như một loại linh đơn diệu dược có thể trị được bách bệnh, khởi tử hồi sinh, chỉ có điều ngoại hình quả thực là...

Trương Lập nhìn viên Mật Lộ hoàn ấy, cầm lên rồi lại đặt xuống, cầm lên rồi lại đặt xuống, khoảng cách càng gần lại càng thấy khó mà nuốt được, cuối cùng đành thẽ thọt hỏi: “Cái này... cái này... thành phần như thế nào vậy?”

Mã Cát liền tỏ vẻ không vui, giận dỗi nói: “Em mặc kệ, người ta khó khăn lắm mới xin được cho anh một viên linh dược, anh lại còn chê bai đùn đẩy. Bây giờ em phải đi một chút, khi nào quay lại anh nhất định phải uống rồi đấy nhé. Anh Nhạc Dương, giám sát anh ấy hộ em nhé!” Mã Cát vừa dứt lời liền quay người đi luôn.

Trương Lập đần thối mặt ra nhìn Nhạc Dương, chỉ thấy Nhạc Dương cười cười bảo: “Nuốt đi, còn đợi gì nữa? Linh dược đấy.”

Trương Lập cầm “viên thuốc” ấy lên, đưa lại gần quan sát, rồi lại ngửi ngửi, sau đó đặt trở lại vào hộp, lồng ngực phập phồng, điều chỉnh hơi thở một hồi, đoạn nghiến răng nói: “Uống thì uống, của Mã Cát đưa cho, dù là thuốc độc tôi cũng chẳng từ.” Nói xong, anh chàng lại ngước mắt lên nhìn Nhạc Dương, hỏi: “Cậu... cậu có thể quay mặt đi không?”

“Không dược,” Nhạc Dương nói, “Mã Cát đã bảo rồi, tôi phải giám sát anh, nhất định phải tận mắt nhìn thấy anh uống hết thuốc mới được.”

Trương Lập lấy hết dũng khí và can đảm, nhắm tịt mắt lại...

Cùng lúc đó, Mã Cát len lén tìm gặp Đường Mẫn, nói: “Chị Mẫn Mẫn, à, có chuyện này... chúng ta có phải bạn tốt của nhau không?”

“Đương nhiên, chúng ta đương nhiên là bạn tốt rồi.”

“Thế, chị có thể giữ bí mật hộ em được không?” Cô mở to đôi mắt tròn nhìn Đường Mẫn đầy mong đợi.

“Tất nhiên rồi.”

“Ưm, em biết mọi người có thể nói nhiều thứ tiếng nữa, chị... chị có thể giảng cho em, câu này... câu này có nghĩa là gì không... nhưng không được nói với ai khác đâu đấy!”

“Được rồi, em cứ nói ra nghe xem nào.”

“Không được nói với ai đâu đấy nhé!”

“Biết rồi mà, em thấy chị Mẫn Mẫn giống người thích buôn chuyện lung tung lắm à?”

Mã Cát liền bắt chước giọng của Trương Lập, rồi bỏ đi tên của mình, lặp lại một lượt: “Tôi cứ yêu đấy, không ai có thể thay đổi suy nghĩ của tôi cả!”

“À.” Mẫn Mẫn vừa nghe đã bật cười. Mã Cát vội căng thẳng hỏi: “Nghĩa... nghĩa là gì thế? Chị Mẫn Mẫn, chị đừng cười mà, câu ấy nghĩa là gì thế?”

Đường Mẫn bèn mỉm cười giải thích: “Câu đó ấy à, là các anh chàng ở chỗ chị, bày tỏ tấm lòng trung trinh với cô gái của lòng mình, cả đời cũng không bao giờ phân ly. Có phải Trương Lập nói không?” Cuối cùng, Đường Mẫn đột nhiên hỏi.

“Không, không, không, không phải đâu... em đi trước đây. Nhớ giữ bí mật đấy nhé, chị Mẫn Mẫn!” Mã Cát xua tay lia lịa, nhưng gương mặt nhỏ nhắn đỏ bừng lên vì xấu hổ kia đã bán đứng cô, Mã Cát cuống cuồng bỏ chạy.

Nhìn bóng Mã Cát đi xa dần, Đường Mẫn cứ bật cười khúc khích mãi không thôi.

Cùng lúc ấy, Trương Lập và Nhạc Dương đang thảo luận một chuyện khác. “Ý cậu là, ba ngày nay mọi người đều đi chặt củi gánh nước, săn bắn, tích trữ lương thực à?”

Nhạc Dương gật đầu: “Chứ còn gì, cứ như đội cứu trợ ở châu Phi ấy.”

Trương Lập lại hỏi: “Vậy, mọi người không gia cố thêm các cạm bẫy ở ngoài làng à?”

“Tại sao phải gia cố thêm cạm bẫy ở ngoài làng?”

“Ngu thế! Cậu nghĩ xem, chúng ta có thể tìm được chỗ này, vậy thì bọn Merkin nhất định cũng có thể tìm được, mấy cái bẫy ngoài kia chỉ có thể dùng để ngăn cản lũ dã thú, làm sao ngăn được bọn người như Merkin chứ? Cậu nghĩ là chúng sẽ ở đây chặt củi gánh nước, trị bệnh cứu người như chúng ta chắc?”

Nhạc Dương sực hiểu ra: “Cũng phải, bọn chúng không đến cướp bóc đã là may lắm rồi.”

Trương Lập đanh mặt lại nói: “Nếu bọn chúng định cướp bóc thật, thì dân làng ở đây làm sao chống lại súng ống hiện đại được!”

Nhạc Dương lập tức đứng dậy: “Tôi phải báo cho Cường Ba thiếu gia ngay mới được.”

Lúc này, Mã Cát cũng trở lại, cô đến kiểm tra cái hộp nhỏ để ở đầu giường, rồi nhướng mày lên chất vấn như một bà chủ nhà khó tính: “Uống rồi chứ?”

Trương Lập gật gật đầu, cảm giác ấy thực sự rất khó quên. Mã Cát lại nhìn sang phía Nhạc Dương, Nhạc Dương vội vàng cam đoan: “Uống rồi, uống hết cả rồi.” Mã Cát giờ mới nhoẻn miệng cười tươi tắn, cúi người nhẹ nhàng nói với Trương Lập: “Anh Lập, bệnh của anh sẽ mau chóng khỏi thôi.” Nói xong, liền đặt lên trán Trương Lập một nụ hôn thật sâu.

Biến chuyển ấy thật quá đỗi bất ngờ, cả Trương Lập cũng không thể ngờ đến, Nhạc Dương lại càng chỉ biết lẳng lặng rút lui, trong lòng thầm than không ổn: nghe nói Bản giáo có một loại Tình cổ, sau khi nuốt vào, đàn ông có muốn hối hận cũng không được nữa, giống như bị bà xã nắm hết quyền lực kinh tế vậy. Cái thứ Mã Cát cho Trương Lập uống, lẽ nào chính là thứ đó?

Ba người bọn Trác Mộc Cường Ba, Ba Tang, đội trưởng Hồ Dương mồ hôi vã ra như tắm, từng khối gỗ tròn to tướng bị bổ thành những thanh củi đều đặn rộng bằng chừng ba ngón tay chập lại. Thấy Nhạc Dương hộc tốc chạy đến, đội trưởng Hồ Dương liền hỏi: “Gì thế?”

Nhạc Dương lắc đầu nói: “Anh ta trúng độc nặng quá rồi, không thuyết phục nổi.”

Trác Mộc Cường Ba thở dài: “Thực ra, những chuyện này vốn không phải chúng ta nói mà được, cũng không phải việc chúng ta có thể can dự vào.”

Nhạc Dương lại nói: “Cường Ba thiếu gia, Trương Lập có nhắc đến một chuyện mà chúng ta hơi sơ xuất.”

“Hả...”

Nhạc Dương liền nhắc lại điều Trương Lập lo lắng.

“Trên bản đồ có nhiều thôn làng như vậy, chẳng lẽ bọn chúng lại đồ sát hết toàn bộ cư dân ở Shangri-la này hay sao? Vả lại, trang bị của chúng ta cũng có hạn, không thể nào đến nơi nào là liền tăng cường phòng ngự cho nơi ấy được? Chúng ta chỉ là những người qua đường, lẽ nào lại gượng ép thay đổi trật tự và kết cấu vốn có của nơi đây?” đội trưởng Hồ Dương phân tích.

Nhạc Dương nói: “Nhưng mà, đây dù sao cũng là thôn làng đầu tiên có người mà chúng ta gặp phải, nếu bọn Merkin ở trong rừng bị ức chế, muốn phát tiết một phen, vậy thì ngôi làng này chắc chắn sẽ là mục tiêu đầu tiên của chúng. Hơn nữa, Địch ô đại nhân ở đây đã chỉ cho Cường Ba thiếu gia con đường hy vọng chữa trị được cổ độc trong người, lại còn là làng của Mã Cát, việc này...”

“Có đặt bẫy hay không, chủ yếu phải xem Trương Lập thế nào.” Về những việc này thì Ba Tang cũng rất có quyền phát ngôn, tuy rằng anh ta không nói nhiều, chỉ điểm đến là dừng.

Trác Mộc Cường Ba nói: “Đúng thế, không biết Trương Lập còn cần bao nhiêu ngày nữa mới có thể hồi phục. Mà bọn Merkin ở phía sau đuổi rất rát, dù vì mình hay vì ai, cũng cần phải tăng cường phòng ngự cho ngôi làng.”

Ba Tang nói: “Ở bên ngoài cần đặt thêm mấy cạm bẫy nữa. Giờ Trương Lập vẫn chưa thể dậy được, bảo Lữ CánhNam đi, bẫy rập phải sắp đặt cho kín đáo một chút!”

Nhạc Dương lại hỏi: “Vậy, có cần phải báo cho dân làng không nhỉ?”

Đội trưởng Hồ Dương gật đầu: “Có chứ, vì sự an toàn của họ, đương nhiên phải báo cho họ biết rồi.”

Ba Tang cũng nói: “Tốt nhất là bảo với họ, đám người ấy là lũ ác ma giết người không chớp mắt!” Trên gương mặt anh ta hiện lên một nụ cười lạnh lẽo.

Sau hôm đó, bệnh tình Trương Lập cũng dần thuyên giảm, chẳng những vậy, không hiểu có phải bị trúng tà hay không mà anh chàng đột nhiên bắt đầu chăm chỉ học tiếng Tạng cổ, trình độ tăng tiến một cách rõ rệt, giỏi hơn hồi huấn luyện đặc biệt ở căn cứ bí mật nhiều. Cũng trong thời gian này, vẫn có dân làng đến xin khám bệnh, Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam đều dốc hết sức cứu chữa cho những nạn nhân của cổ độc và người bệnh khác, Mã Cát thì chạy đi chạy lại giữa hang động và phòng bệnh của Trương Lập. Có một điều khiến ai nấy đều hân hoan, đó là bà Đan Châu sau khi dùng thuốc, không ngờ đã dần dần có dấu hiệu thuyên giảm. Cả Địch ô An Cát Mẫu cũng không thể ngờ lại có người giải được Vạn Xà Thực Tâm cổ, giờ đã nhìn Mẫn Mẫn và Lữ Cánh Nam với ánh mắt hoàn toàn khác trước.

Nhiệt độ của Trương Lập luôn được khống chế ở mức độ sốt nhẹ, có điều vẫn chưa hoàn toàn khỏi hẳn, lúc mệt lúc không, người đông tụ tập thì bệnh tình của anh lại xấu đi, lúc nào chỉ có anh và Mã Cát thì bệnh lại thuyên giảm nhiều. Những lúc chỉ có một mình, anh sẽ nắm tay Mã Cát, kể cho cô nghe những chuyện ở bên ngoài. Anh kéo cô lại phía mình mỗi lúc một gần, đến nỗi về sau thành ra Mã Cát hai tay chống cằm, đè hẳn lên người Trương Lập mà nghe anh kể về thế giới ở ngoài kia. Còn nguyên do tại sao bỗng dưng trở nên táo gan như vậy thì chính bản thân Trương Lập cũng không nói ra được, chỉ biết quy kết đó thành phản xạ có điều kiện của cơ thể. Hoặc cũng có thể tại Mã Cát chưa bao giờ phản kháng, nên đã khiến lá gan của Trương Lập to ra cũng nên. Nhìn đôi mắt biết nói ấy của cô, hoặc những lúc được Mã Cát rờ trán, nghe nhịp tim, Trương Lập hạnh phúc lắm. Chỉ những lúc nào có người ở bên cạnh, hai người mới tách nhau ra.

Bên ngoài vốn đầy màu sắc và hấp dẫn, diễn tiến hơn một nghìn năm đã tạo nên một thế giới văn minh hoàn toàn khác với vùng đất bị phong bế kín mít này, Trương Lập không cần phải thêm mắm dặm muối một chút nào, thế giới ấy cũng đủ khiến Mã Cát đắm đuối mê say rồi. Đặc biệt là khi nghe Trương Lập kể về thành phố Thượng Hải, đôi mắt Mã Cát chớp chớp, sáng bừng lên, luôn miệng trầm trồ kinh ngạc: “Thế gian này lại có nơi như thế sao? Có tòa thành đẹp như vậy thật ư? Trời ơi, ước gì em được tận mắt trông thấy nơi đó! Những người ở đó, chắc chắn là phải hạnh phúc lắm đấy nhỉ!”

Trương Lập không khỏi nở một nụ cười gượng gạo, trong lòng thầm nhủ, nếu để Mã Cát biết, niềm khao khát của những người sống ở thế giới bên ngoài kia đối với Shangri-la cũng chẳng kém gì sự ngưỡng mộ của cô dành cho Thượng Hải, thật không biết cô sẽ nghĩ thế nào nữa.

Thế nhưng, sau khi Trương Lập kể chuyện anh cùng bọn Cường Ba thiếu gia cùng vượt bao gian khổ tìm đến nơi đây, ánh mắt của cô thiếu nữ ấy liền từ ngưỡng mộ chuyển sang sùng bái tuyệt đối. Bấy giờ cô mới biết, thì ra những người này đã vượt qua biết bao khó khăn khổ nạn, thì ra người đàn ông trước mắt cô đây lại anh dũng vô địch đến thế. Ánh mắt ấy, trăm phần trăm là ánh mắt của giai nhân nhìn bậc anh hùng của lòng mình. Trương Lập nhất thời kích động, lại không kìm được ôm lấy Mã Cát hôn đắm đuối. Sự thực là, trong vụ “tai nạn” bất ngờ lần đó, Mã Cát cũng không thể nào kháng cự lại cảm giác kích thích hoàn toàn mới mẻ ấy, nàng sơn nữ trẻ tuổi đắm chìm trong nụ hôn nóng bỏng, nhiệt tình đáp trả.

Lại thêm hai ngày nữa, cuối cùng Trương Lập cũng có thể ra khỏi giường đi lại, xơi một bát canh thịt to tướng, rồi lại thêm một ít bánh nữa. Địch ô An Cát Mẫu kiến nghị anh nên ra ngoài vận động cho giãn gân cốt, hít thở không khí trong lành, Lữ Cánh Nam và Mẫn Mẫn cũng đều có ý này. Nhưng khi trông thấy Mã Cát dìu Trương Lập đi ra, cùng ánh mắt quan thiết mà âu yếm của cô gái dành cho anh, Lữ Cánh Nam không khỏi chau mày, khe khẽ thở dài một tiếng.

Hôm sau, Nhạc Dương chuyển lời đến: “Giáo quan bảo, anh đã hoàn toàn bình phục rồi, ngày mai chúng ta sẽ xuất phát, cô ấy kêu tôi hỏi xem anh tính thế nào?”

“Ngày... ngày mai đã đi rồi à?” Mấy ngày này, Trương Lập cảm giác như thể mình đang sống trên thiên đường, trận ốm này không ngờ lại kết thúc nhanh thế, thật là khiến người ta thất vọng. Đồng thời, anh cũng hiểu rõ, dù thế nào Mã Cát cũng không thể cùng họ lên đường được, chưa nói đến chuyện dọc đường nguy cơ rình rập khắp bốn bề tám hướng, dẫu là dọc đường mọi sự đều thuận lợi thì cô bé cũng không thể chịu nổi với tốc độ hành quân thần tốc của bọn họ được.

Nhạc Dương thấy Trương Lập ngần ngừ, lại bổ sung thêm: “Cường Ba thiếu gia cũng nói rồi, ngày mai chúng ta sẽ đi, nhưng anh có thể lựa chọn.”

Trương Lập cười khổ, đương nhiên anh không quên mục đích mình đến nơi này, chỉ là không biết phải từ biệt với Mã Cát như thế nào mà thôi, mấy ngày này, tuy rằng hai người chưa có hành động gì thân mật hơn, nhưng anh đã được nếm trải cảm giác ngọt ngào phát xuất từ đáy lòng. Một ánh mắt, một thoáng lướt qua, một tiếng gọi, cũng đều khiến toàn thân anh thấy ấm áp vô ngần. Trương Lập giờ đã cảm nhận được, ý nghĩa thực sự của hai chữ “ái tình” rồi.

“Tôi biết rồi.” Trương Lập là người thế nào, Nhạc Dương hiểu rõ nhất, anh vỗ vỗ lên vai Trương Lập, nhìn bạn với ánh mắt thông cảm pha lẫn tiếc nuối, ý như muốn bảo: “Tôi đã nói trước, bảo anh đừng để lún sâu quá rồi mà.”

Chiều hôm ấy, Trương Lập cẩn thận kiểm tra hết một loạt các cạm bẫy bên ngoài làng, để tránh dân làng không may giẫm phải bẫy, họ chỉ bổ sung thêm một số sản phẩm khoa học kỹ thuật cao vào những chỗ cạm bẫy ban đầu. Trương Lập chỉ lẳng lặng cắm đầu làm, không nói một lời nào, Mã Cát cũng cảm nhận được có chuyện gì đó sắp xảy ra, cô nghi hoặc nhìn Trương Lập chăm chú kiểm tra từng chốt bẫy một.

Cuối cùng, sau khi chắc chắn tất cả các bẫy rập đều hoạt động bình thường, anh mới đứng lên, thở dài một tiếng, quay lưng về phía Mã Cát nói: “Ngày mai, bọn anh phải đi rồi, Mã Cát.” Nói xong câu ấy, Trương Lập cảm thấy sau lưng mình chìm vào tĩnh lặng, dường như đã trầm mặc suốt cả một thế kỷ dài.

Sau đó, anh cảm nhận được, một đôi bàn tay nhỏ nhắn từ phía sau vòng qua, ôm chặt lấy hông mình. Mã Cát áp mặt vào lưng Trương Lập, thủ thỉ: “Anh Lập, em muốn bay thêm một lần nữa. Đêm nay.”

“Được, đêm nay, anh sẽ đưa em bay!” Trương Lập không biết làm sao mà mình thốt lên mấy chữ ấy được, chỉ có cảm giác sau khi nói ra, trái tim cũng như bị móc khỏi lồng ngực.

“Cái này, tặng cho anh đấy.” Mã Cát lấy ra một đóa hoa nhỏ màu hồng, nhẹ nhàng gài lên ngực Trương Lập. Trương Lập không hiểu gì, lại hồ đồ tháo đóa hoa xuống: “Cái này, cài trên tóc Mã Cát thì mới đẹp chứ!”

Gài đóa hoa đó xong, Mã Cát tựa như chú thỏ trắng kinh hãi, ngượng ngùng đỏ bừng mặt chạy đi, được một đoạn mới quay đầu lại, thẹn thùng nói: “Nhớ đấy nhé! Tối nay đến tìm em!” Nụ cười ấy tựa như nụ hoa xuân chờ hé nở, giọng nói ấy thực chẳng khác nào tiếng chuông bạc ngân lên trong gió.

Hẹn hò xong xuôi, Trương Lập nghĩ đi nghĩ lại, cảm thấy buổi tối không có ánh sáng gì hơi nguy hiểm, bèn lấy lý do đó đề nghị với Mã Cát xem có thể chuyển sang buổi chiều hay không. Nhưng Mã Cát không chịu, kiên quyết một mực đòi bay buổi tối, lại còn nói, chỉ cần kiên trì khấn nguyện, kỳ tích nhất định sẽ xuất hiện.

Màn đêm sớm đã buông xuống Shangri-la, bốn bề chỉ còn lại tiếng côn trùng kêu rỉ rả, duy chỉ còn những thành viên đoàn thám hiểm sớm mai phải rời khỏi ngôi làng này là không sao ngủ được. Đến thời gian ước hẹn, Trương Lập nhẹ nhàng gõ lên cửa phòng Mã Cát, cô sơn nữ ấy liền lao bổ vào lòng anh như chú chim nhỏ về rừng. Trương Lập vươn tay ra, để Mã Cát ngồi lên cánh tay mình, đầu dựa vào vai. Trương Lập cứ bế Mã Cát như thế, cẩn thận bước ra bên ngoài.

Dân làng đều đã tắt đèn đi ngủ, trên đường vắng tanh không một bóng người, Trương Lập đeo kính hồng ngoại nhìn đêm vào, một tay ôm Mã Cát, đi từ phía bên này sang phía bên kia thôn làng. Lúc này, ngoài tiếng bước chân của chính anh, thì xung quanh chỉ còn tiếng thở nhè nhẹ mà hơi gấp gáp của Mã Cát mà thôi. Đây là thế giới riêng của bọn họ, không có bất cứ phiền nhiễu nào quấy rối, hai người có thể gần nhau bao nhiêu cũng được. Gió, sao mà nhẹ nhàng êm ái, chẳng cần lời nói, mà trực tiếp đọc luôn nội tâm của người kia. Trương Lập cảm giác như thể mình đang ôm cả một thế giới trong lòng, tất thảy, đều thật đắm say, mà cũng thật chân thực. Trong khoảnh khắc ấy, Trương Lập thật sự hy vọng có một ngày, có thể ôm Mã Cát trong lòng mà đi mãi, đi mãi... nếu thật có một ngày như thế...

Mã Cát dựa vào vai Trương Lập, trong bóng tối, cô không nhìn thấy bất cứ thứ gì. Và sự thực là cô cũng không cần nhìn thấy gì cả, ngay từ đầu cô đã nhắm chặt mắt lại, cô chỉ cần cảm nhận, dùng thân thể mình cảm nhận một sự tồn tại khác, thật chân thực. Gương mặt nhỏ nhắn của cô khẽ cọ vào má tình nhân, nơi lồng ngực cô, có một nhịp tim mạnh mẽ, vững chắc truyền đến, cô có thể cảm nhận được hơi thở và nhiệt độ của người đàn ông ấy. Không cần lời nói, tất cả sự tĩnh lặng ấy đều thật diễm lệ, thật rung động lòng người!

“Chuẩn bị xong chưa? Bay lên nhé!” Giọng nói ấy đã trở thành vị thần bảo hộ trong giấc mơ ngọt ngào của Mã Cát, tựa như cơn gió xuân phất qua hàng liễu, mỗi âm thanh phát ra, đều khiến trái tim cô cơ hồ lạc nhịp.

“Ưm.” Mã Cát đáp một tiếng, rồi ôm càng chặt hơn.

Lùi lấy đà, tăng tốc, nhảy lên, đu vút đi... gió ập tới, hai thân thể rời khỏi mặt đất. Cảm giác bay lượn này sẽ là những hồi ức đáng trân trọng nhất trong đời Mã Cát, cho dù bay đến đâu, cho dù màn đêm có tăm tối nhường nào chăng nữa, cô chỉ muốn ôm chặt lấy hạnh phúc ngắn ngủi ấy, bay mãi, bay mãi...

Phía Đông làng Công Nhã Lạp.

“Đại ca Tây Mễ, khoảng năm cây số về phía trước, có vật thể đang di chuyển với tốc độ cao.” Max lớn tiếng kêu toáng lên.

“Cái gì mà làm ầm lên thế! Sợ cái gì? Đợi khi nào chúng cách ta hai cây số rồi hãy nói.” Tây Mễ ở cạnh đó hạ lệnh.

“Vâng, vâng.” Max gật đầu lia lịa, “A, lại có hai cái...” Tây Mễ vừa trừng mắt lên, giọng Max lập tức nhỏ dần rồi tắt hẳn.

“Hử?” Tây Mễ hờ hững liếc mắt qua màn hình hiển thị, vết sẹo trên mặt bỗng giật giật lên một cái.

“Sao... sao vậy?” Vừa thấy Tây Mễ tỏ ra nghiêm túc, Max tức thì trở nên vô cùng căng thẳng.

“Mày nhìn ba điểm sáng này xem,” Tây Mễ chỉ màn hình nói. “Hai điểm phía sau đang đuổi theo điểm thứ nhất, tốc độ di chuyển không hề chậm, hơn nữa gần như là đi theo đường thẳng, đây hình như không phải hành vi của dã thú.”

“Là... là người sao?” Max càng căng thẳng hơn.

“Dậy đi!” Tây Mễ lay lay mấy cái túi ngủ treo lủng lẳng phía dưới, đánh thức cả bọn dậy, rồi tuyên bố: “Max, mày dẫn theo Mike, Dick, Brian, Steven và cả Ivan nữa, theo tao đi xem thế nào. Những người khác ở lại đây canh giữ, đừng có thằng nào ngủ đấy nhé! Lôi Ba, tỉnh táo lên đi, thay tao để ý các anh em!”

Lôi Ba gật đầu, Tây Mễ liền dẫn theo Max nhảy xuống gốc cây.

Vươn tay ra, rồi lại giật dây về, Trương Lập ôm Mã Cát lao đi vun vút trong rừng, không hề cảm thấy mệt mỏi một chút nào. Anh chỉ sợ, chỉ sợ khu rừng này không đủ lớn. Phía xa bỗng vang lên tiếng gầm của dã thú, Trương Lập đang do dự xem có nên đổi hướng không, bỗng nghe Mã Cát nói: “Cường Ba đấy, tiếng của Cường Ba đấy, nhất định là nó thấy chúng ta rồi. Mình qua chỗ nó được không, anh Lập?”

Tiếng nước ì oạp lớn dần, sau khi lướt qua cây đại thụ lớn cuối cùng chắn trước mặt, Trương Lập nhận ra họ đã trở lại, trở lại nơi lần đầu hai người gặp gỡ. Mặt nước hồ đang khẽ lăn tăn trong màn đêm, cơn gió dồn nước thành từng cơn sóng nhỏ vỗ vào bên bờ.

“Chúng ta đến rồi.” Trương Lập đứng trên dải đất cao vây quanh hồ, khẽ rủ rỉ nói vào tai Mã Cát, nhưng anh vẫn chưa có vẻ gì là muốn buông tay.

“Vâng.” Trái tim Mã Cát giờ vẫn đang phiêu lãng theo gió, cô chầm chậm mở mắt, cũng chẳng hề có vẻ gì là muốn xuống khỏi tay Trương Lập cả.

Hai người cứ đứng thế, nghe tiếng nước, cảm nhận cơn gió nhẹ phất qua, không ai lên tiếng nói gì. Trương Lập lặng lẽ nhìn con vật khổng lồ từ giữa hồ đứng lên, bước về phía bờ, lắc lư hất nước trên người xuống, rồi ục à ục ịch đi về phía họ; Mã Cát thì bỗng phát hiện ra bóng tối xung quanh dường như dần lùi đi, vách đá, rừng cây, bụi cỏ, dần trở nên rõ nét, cô nghiêng đầu sang nhìn, chỉ thấy gương mặt mới quen chưa lâu mà đã thân thuộc ấy đang hiện lên rõ mồn một, những đường nét góc cạnh rõ ràng phủ một lớp ánh sáng bàng bạc.

Mã Cát chợt ngẩng đầu, đôi mắt lập tức sáng bừng lên: “Anh Lập, nhìn xem, trăng kìa!”

Trương Lập cởi bỏ kính nhìn đêm, chỉ thấy ánh trăng màu bạc chảy lan khắp mặt đất như thủy ngân, phủ kín cả một vùng núi đồi rừng rậm, đổ tràn vào hồ nước, mặt hồ gợn lên từng vụn bạc li ti, nơi bờ hồ phía trước bọn họ là một khoảng lớn toàn một loài cỏ không rõ tên, cao chừng ngang người, đầu ngọn cỏ mềm như bông, đung đưa phất phơ theo gió, tựa như một vùng đầm lau sậy vậy. Cả khu rừng xung quanh nhuốm lên một lớp màu ngân bạch, mây mù dày đặc u ám không biết đã tan đi từ lúc nào, trên đỉnh đầu là một dải lụa đẹp tuyệt trần điểm xuyết muôn sao lấp lánh. Trăng sáng trên cao, ánh sao lưu chuyển, kỳ tích, thực sự đã xảy ra rồi!

Lúc đó, con thằn lằn cổ dài tên Cường Ba kia đã đến bên cạnh họ, đưa cái đầu to tướng lại gần. Mã Cát giơ tay sờ sờ lên đầu mũi nó, con vật tỏ vẻ thích thú, gật gù nhắm mắt lại, chừng như khoái chí lắm. Mã Cát đảo mắt một vòng, rồi nói với Trương Lập: “Anh Lập, chúng ta lên lưng Cường Ba đi!”

“Hả?” Trương Lập ngẩng đầu nhìn con vật to bự trước mặt. Tuy rằng con thằn lằn cổ dài này thể hình vĩ đại, lưng còn rộng hơn lưng voi, ngồi hai người cũng không thành vấn đề gì, thế nhưng... anh nói: “Nó không hất văng bọn mình xuống đấy chứ?”

Mã Cát bật cười khúc khích, nói: “Không đâu, Cường Ba biết nghe lời lắm, nó sẽ ngoan mà. Phải không, Cường Ba?” Nói đoạn, tay cô liền vuốt vào chỗ đầu mũi Cường Ba, từ trên xuống dưới. Cường Ba quả nhiên phục hẳn người xuống, chân trước choãi ra như cái thang. Mã Cát vén váy lên, nhún nhẩy hai ba bước đã leo lên lưng con thằn lằn khổng lồ, ngồi vững vàng trên đó. “Xin lỗi nhé, Cường Ba thiếu gia.” Trương Lập nhủ thầm trong bụng, rồi cũng leo lên ngồi.

Sau khi cả hai người đều đã ngồi vững trên lưng nó, Cường Ba mới chầm chậm ngẩng đầu lên, giống như thể đang ngồi trên vòng đu quay ngắm cảnh. Họ dần dần được đưa lên cao, tầm nhìn cũng dần trở nên thoáng hơn. Rừng cây dưới chân họ trở nên nhỏ dần. Mã Cát khẽ vỗ vỗ lên đầu Cường Ba, con vật liền cõng hai người họ chầm chậm đi về giữa hồ.

Ánh sao lấp lánh, mặt hồ lóa ánh trăng, lũ tinh linh đang nhảy múa trong rừng, ai đang chơi đàn thụ cầm, ai đang huýt sáo theo tiếng nhạc? Một thế giới như trong cổ tích xuất hiện trước mắt hai người, như thật mà cũng như mơ.

Cường Ba vừa rời khỏi dải đất cao quây xung quanh hồ nước, tức thì liền có hai bóng người chiếm luôn vị trí từ trên cao nhìn xuống đó, hóa ra chẳng phải ai khác, mà chính là Nhạc Dương và Ba Tang. Hai người cũng đeo kính nhìn đêm, vũ trang chỉnh tề từ đầu đến chân.

Cường Ba đã ngâm nửa người xuống nước, chỉ để lộ sống lưng và cái đầu đang nghển cao, hai người ngồi trên tấm lưng rộng rãi của nó, chân có thể đung đưa đá nước, ngửa mặt lên là có thể ngắm nhìn trăng sao trên trời.

“Anh Lập, xem kìa, ngôi sao ấy sáng quá.”

“Ừ, đó là sao Bắc Đẩu.” Trương Lập nhìn theo hướng ngón tay Mã Cát chỉ, nói: “Anh nhớ bên cạnh đó hình như là chòm sao Tiên Nữ, sao nhìn thấy được chính là Tạo phụ tinh(1). À, phải rồi, em có biết không? Nó cách chúng ta đến một nghìn ba trăm năm ánh sáng cơ. Có nghĩa là, ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy bây giờ, thực ra đã được nó phát ra từ một nghìn ba trăm năm trước cơ, đó cũng là lúc bộ tộc của em tiến vào Thánh vực này đấy.”

“Ưm.” Tuy không hiểu Trương Lập đang nói gì, nhưng Mã Cát vẫn đắm đuối nhìn anh với ánh mắt sùng bái, dịu dàng âu yếm dựa đầu vào vai anh. Hai người cứ ngồi dựa vào nhau như thế trên lưng Cường Ba, tắm mình trong ánh trăng sao, đón làn gió mát, lặng lẽ đếm sao trời phản chiếu dưới mặt hồ.

Thời gian dần trôi, Nhạc Dương và Ba Tang ngồi lom khom phía trên cũng tê rần cả chân. Hai mắt Nhạc Dương vừa khô vừa mỏi, đây rõ ràng là một quá trình đau khổ kéo dài dằng dặc, vậy mà hai người một thú phía dưới kia vẫn không thèm nhúc nhích, cứ như đã hóa thành mấy pho tượng rồi vậy. Nhạc Dương xoa xoa cặp giò đã tê cứng, làu bàu nói với Ba Tang: “Anh Ba Tang này, chắc bọn họ không ngủ gật rồi đấy chứ? Lâu như vậy mà chẳng thấy ai động đậy gì cả.”

Ba Tang không nói gì, chỉ khịt khịt mũi thở ra một hơi mạnh.

Thêm một lúc nữa, Nhạc Dương lại nói: “Anh Ba Tang, đợi thêm lúc nữa, nếu tên Trương Lập đó làm chuyện gì quá đáng, liệu chúng ta có cần ngăn lại không nhỉ?”

Ba Tang nói: “Chúng ta chỉ phụ trách làm sao để họ không bị người hay động vật nào làm phiền thôi, những chuyện khác thì tốt nhất đừng nhúng mũi vào.”

Nhạc Dương tức tối phun nước bọt phì phì: “Thật đúng là, người ta ở kia nói chuyện tình yêu, còn chúng ta thì ngồi đây làm cu li canh gác.”

Bốn bề tĩnh mịch như tờ, Ba Tang bỗng nhiên lên tiếng hỏi: “Nhạc Dương, thấy cậu ngày nào cũng vô lo vô ưu, dường như vui vẻ lắm thì phải.”

Nhạc Dương cười hì hì: “Đương nhiên rồi, có gì mà phải lo lắng nghĩ ngợi chứ, con người ta sống trên đời, cớ gì mà không vui vẻ thoải mái cho sướng?”

Ba Tang lại hỏi: “Vậy theo cậu, hạnh phúc là gì?”

Nhạc Dương chăm chú nhìn Ba Tang, tựa như câu nói ấy thốt lên từ miệng Ba Tang khiến anh chàng ngạc nhiên ghê lắm. Có điều, anh cũng nhanh chóng đưa ra câu trả lời: “Hạnh phúc à, hì hì, làm việc mình muốn làm, yêu người mình muốn yêu, vậy chẳng phải là hạnh phúc rồi đó sao?”

“Đơn giản vậy thôi à?”

“Ừ, chỉ đơn giản vậy thôi, nếu không thì còn gì nữa? Anh nhìn cái tên dưới kia xem, giờ hắn ta hạnh phúc đến hết biết rồi đấy.”

“Đó là hạnh phúc sao? Mã Cát vì đơn giản nên mới cảm thấy hạnh phúc ư? Còn Trương Lập? Là vì thân tâm được thỏa mãn mà cảm thấy hạnh phúc ư? Hạnh phúc như vậy có thể kéo dài sao? Hừ, liền kề sau niềm vui ngắn chẳng tày gang sẽ là những tháng ngày đau khổ kéo dài đằng đẵng, đây chính là cuộc đời, đây chính là thứ hạnh phúc mà họ theo đuổi đó hay sao?” Ba Tang thầm nhủ.

Chú thích:

1. Cepheid variable star.

Bài ca của tinh linh tuyết

Tuy Trương Lập và Mã Cát không hề nhúc nhích, nhưng hai người vẫn tay nắm chặt tay, sắc mặt rạng rỡ. Vốn hai người có rất nhiều điều để nói cùng nhau, nhưng đến đêm chia tay cuối cùng này ngược lại chỉ đắm chìm vào tĩnh lặng, chỉ dựa vào nhau, lắng nghe nhịp tim của nhau, thứ âm thanh ấy còn hay hơn, hấp dẫn hơn mọi tiếng nhạc trên đời.

Cuối cùng, Trương Lập mới lấy hết dũng khí, cất tiếng lí nhí như muỗi kêu: “Mã Cát, em đẹp lắm.”

Giọng anh nhỏ, thật nhỏ, nhỏ đến mức Mã Cát ngồi gần như vậy cũng chỉ nghe thấy một chữ “đẹp”. Cô chỉ vào bãi lau cách đó không xa, nói: “Đấy là cỏ lác, chỉ chừng mười ngày nữa, tất cả sẽ chuyển sang màu vàng óng ánh, lúc ấy mới đẹp cơ.”

“Ừ.” Trương Lập cũng phát ra một âm thanh từ khoang mũi. Lần đầu tiên gặp Mã Cát, anh đã được thưởng thức vẻ đẹp của thứ cỏ ấy rồi, đêm nay cỏ mịn như bông, gió thổi phất phơ, ngưng tụ thành một dải lụa màu xám bạc, vươn ra, cuộn lại, đẹp đến phi thường. Đột nhiên một âm thanh như tiếng chuông bạc vang lên, tựa như tiếng nhạc nơi tiên giới. Nơi nào có gió phất qua, ở trên dải lụa bạc ấy bỗng có mấy điểm trắng nho nhỏ bay lên, thoạt nhìn thấy rất giống đom đóm. Những điểm sáng ấy lửng lơ dừng lại trên không trung, đung đưa nhảy múa, nhưng ánh sáng trắng hơn đom đóm nhiều, trắng như tuyết, khi sáng khi tắt, tựa như loài tinh linh sống ở chốn rừng sâu chỉ nhảy múa dưới ánh trăng trong truyền thuyết. Âm thanh vui tai ấy cũng như thể tiếng hát của loài tinh linh, phiêu hốt nhẹ bẫng, làm người ta nghe mà như say như mê, thần hồn điên đảo.

Thoạt đầu, chỉ một đơn âm cao vút lên, khuấy động mặt hồ, lững lờ theo gió văng vẳng vào tai, khiến lòng người như rung lên khe khẽ, phảng phất như hồn phách cũng rời khỏi thân thể bay lên, phiêu phiêu hốt hốt như thể ngồi trên mây, như thể dập dềnh trên mặt nước. Âm thanh vừa dứt, liền tan biến không tăm không tích, tức thời cảnh đêm như cũng trống rỗng tựa mặt hồ, chợt lại có một âm khác vút lên, như gió cuốn mây tàn, co lại rồi đột ngột tung ào ra, như thể bàn tay tình nhân cầm một miếng nhung mềm cà nhẹ lên chỗ ngứa ngáy nhất, nửa như cự tuyệt, lại nửa như hân hoan chào đón, như muốn ở, lại như muốn đi. Liền kề sau đó, lại một âm nữa cất lên, như thể trời đất giao hòa, mặt hồ xanh ngọc bích khẽ thở dài một tiếng, ngàn năm vạn năm cũng không hề đổi thay. Hai âm hòa trộn, xoắn xuýt lấy nhau, như thể long phượng hòa minh, chợt cao vút lên như đao thương thiết mã chạm nhau trên chiến trường, rồi lại chợt thấp trầm rủ rỉ như tiếng thì thầm của tình nhân. Âm thứ ba, âm thứ tư cũng từ từ hòa vào đó, trời đất như thể đang tấu lên một khúc giao hưởng, trên không trung, những nốt nhạc tung tăng nhảy múa. Khúc hợp tấu dần trở nên hoàn mỹ, khiến những người nghe đều có cảm giác đời này chẳng còn gì để hối tiếc nữa. Tới lúc mọi người ngỡ rằng âm thanh đã dứt, khúc nhạc trời ấy sắp tan biến vào hư vô, thì đột nhiên lại bừng lên một âm mạnh nhất, phát ra từ tận đáy sinh mệnh, kết thành một tấm lưới lớn trên không trung, khắp bốn phương tám hướng, đều văng vẳng tiếng nhạc đắm say huyền diệu.

Cả bốn người có mặt ở đó, không ai là không đắm chìm trong tiếng nhạc, quên đi hết thảy mọi điều. Khi âm cuối cùng kết thúc, dường như họ vẫn không thể thoát ra khỏi thế giới huyền ảo lung linh ấy. Không biết bao lâu sau, người mới giật mình sực tỉnh, tựa như vừa trải một giấc mộng Nam Kha, lạc vào tiên cảnh, nghe được tiếng nhạc trời trên chốn Cửu thiên.

Mã Cát chăm chú nhìn về phía trước, kích động thốt lên: “Tinh linh Tuyết, là tinh linh Tuyết đang hát đấy!” Mắt cô đã ngân ngấn lệ.

Trương Lập và cô ở gần nhất, mắt thấy trên không trung có mấy chục điểm sáng trắng như tuyết, âm thanh tuyệt vời lúc nãy chính là do những đốm sáng lập lòe ấy phát ra. Anh thật không sao hiểu nổi, mấy đốm sáng nhỏ xíu đó không ngờ lại có thể phát ra những âm thanh rung động đến tận tâm linh con người như thế. Khúc ca vừa dứt, phảng phất như thể mọi cảnh vật xung quanh đều đứng im bất động, duy chỉ có những điểm sáng lập lòe bất định ấy bỗng bừng lên sáng hơn bao giờ hết. Dưới ánh trăng bàng bạc, từng điểm từng điểm phất phơ rơi xuống. Chúng bay lên từ một dải màu trắng bạc, hoan ca một trận, rồi lại trở về với dải sáng bàng bạc đó, thật như những đóa hoa tuyết thả mình rơi xuống thảm tuyết trắng mênh mang, thoắt cái đã biến mất.

Ngây ngẩn một hồi lâu, Trương Lập mới dụi mạnh tay vào mắt, cất tiếng hỏi: “A, em, em nói gì thế? Tinh linh tuyết? Vừa nãy anh nằm mơ phải không?”

Trên gương mặt Mã Cát đã xuất hiện hai hàng lệ nóng trào tuôn, từng giọt lệ rơi xuống làm vỡ toang bóng trăng dưới nước, gợn lên những hàng sóng lăn tăn, bóng nguyệt như mộng như ảo, cô đưa tay lau vệt nước mắt, khe khẽ nói: “Tinh linh tuyết đấy, đã lâu lắm rồi em không được nghe chúng hát. Hồi nhỏ, em và anh trai còn cùng nhau mai táng cho tinh linh tuyết nữa cơ.”

Trong cơn gió đêm nhè nhẹ phất qua, Mã Cát rủ rỉ thì thầm kể. Tinh linh tuyết là một loại côn trùng nhỏ biết bay, phần đuôi phát ra ánh sáng màu trắng sữa, trong truyền thuyết ở Thánh vực, đó là linh hồn của những đứa trẻ chết trong chiến tranh hoặc chết yểu hóa thành. Vì không nỡ để người thân đau lòng, mỗi năm khi sắp đến mùa thu hoạch, chúng đều mang theo lòng cảm ân sâu sắc, tự do tự tại hoan ca giữa không trung, vừa để vỗ về xoa dịu vết thương chôn sâu trong đáy lòng thân nhân, đồng thời cũng mang đến tin về một vụ mùa bội thu.

Nhưng đồng thời, đó cũng là bài ca cuối cùng trong đời tinh linh tuyết, khi tiếng ca vừa dứt cũng là lúc chúng lìa bỏ cõi trần này, rơi rụng lả tả như những đóa hoa tuyết. Tương truyền rằng, người nào nghe thấy tiếng ca của tinh linh tuyết sẽ được chúc phúc. Nếu có thể tìm được những tinh linh tuyết vừa rơi xuống dưới ánh trăng ấy, đào một cái hố nhỏ, chôn chúng xuống, đồng thời thành tâm ước nguyện, tinh linh tuyết sẽ nghe thấy tiếng lòng của bạn. Khi trở về cõi âm, chúng sẽ đưa nguyện vọng ấy đến với Địa Tạng Vương Bồ Tát, Bồ Tát sẽ giúp bạn thực hiện điều tâm nguyện.

Chỉ có điều, đến giờ tinh linh tuyết dường như chỉ còn tồn tại trong truyền thuyết mà thôi, rất hiếm người được nghe thấy tiếng ca của chúng.

Mã Cát nhẹ nhàng cất tiếng hát: “Hỡi bầy tinh linh tuyết đang bay múa, xin hãy mang đến cho người phương xa tin vụ mùa bội thu...” Tiếng ca uyển chuyển du dương, nhạc điệu cao mà trong vắt, trong vẻ đẹp vẫn thấp thoáng chút thương cảm, một khúc điệu thoạt nghe đã khiến người ta nhớ nhung cố hương và người thân, hoài niệm lại những khoảng thời gian đẹp đẽ của tuổi ấu thơ.

Trương Lập lờ mờ nhớ ra, trong phần ghi chép của vị Địch ô thôn Công Bố có viết, Mã Cát có một người anh trai đã lạc nhau từ nhỏ, chắc rằng anh trai cô đã chết trong chiến tranh rồi, nên Mã Cát mới thương tâm như thế.

Mã Cát u uất nói: “Hồi bé, cha mẹ em đều chết trong chiến tranh, là anh trai đã lôi em ra khỏi đống xác người, anh ấy cũng giống như em, người thân đều chết cả rồi, nhưng anh ấy kiên cường hơn em nhiều lắm. Hồi đó em chỉ biết đi theo anh trai, bám chặt vào vạt áo anh ấy, tìm kiếm thức ăn, chạy chốn quân lính Yaca, việc gì anh trai cũng bảo vệ em...” Trong mắt Mã Cát, lại ngân ngấn những giọt lệ lấp lóa.

Trương Lập lặng lẽ lắng nghe. Mười mấy năm trước, từng có một cậu bé bảy tám tuổi và một cô bé bốn năm tuổi gặp nhau trên bãi cỏ ven hồ dưới ánh trăng, những năm tháng lửa chiến tranh vẫn ngùn ngụt cháy ấy, hai đứa trẻ muốn sống sót, thực là một chuyện gần như không thể. Chiến tranh, dã thú, bệnh dịch, đói khát và cả những người dân chạy loạn, chỉ cần một điều ấy thôi cũng đủ lấy mạng của họ rồi. Mã Cát và anh trai cô rốt cuộc đã sống sót như thế nào? Họ thực sự không có gì cả, chỉ biết nương tựa vào nhau mà vùng vẫy giãy giụa giữa con đường đời. Cũng trong một đêm thế này, để cô bé có thể quên đi đau thương mà kiên cường vui vẻ tiếp tục sống, cậu bé trai đã kể cho cô câu chuyện về tinh linh tuyết. Đêm hôm ấy, cô bé và cậu bé đã quăng hết mọi ưu phiền, tung tăng nô đùa vui vẻ trên bãi cỏ, lần đầu tiên cô bé quên đi nỗi sợ, cùng anh trai tìm kiếm những tinh linh tuyết rơi xuống, quan sát những đốm sáng màu trắng sữa dần tối đi rồi tắt hẳn, sau đó đào một cái lỗ nhỏ, mai táng cho tinh linh tuyết dưới ánh sao. Mã Cát thầm khấn lên ước nguyện nho nhỏ của mình: mong thế gian này, vĩnh viễn chẳng còn chiến tranh!

Bao nhiêu năm trôi qua, bóng dáng anh trai đã trở nên mơ hồ, nhưng hình ảnh tinh linh tuyết nhảy múa ca lên khúc tuyệt xướng đã in sâu vào linh hồn của cô bé gái, cả đời này cũng không sao quên được. Mã Cát thở dài nói: “Lúc ấy em hỏi anh trai, tại sao lại có chiến tranh, anh trai bảo, là bởi vì có con người, nơi nào có người thì nơi ấy ắt có chiến tranh. Anh ấy còn nói, những thứ trong Thánh vực này rất hữu hạn, nếu người càng lúc càng nhiều, mà các thứ ấy lại không nhiều lên, thì sẽ không thể chia đều được, không thể chia đều thì sẽ có tranh chấp nổ ra, tranh chấp lớn dần, rồi sẽ biến thành chiến tranh.”

Trương Lập không khỏi thầm kinh ngạc, kiến giải ấy thật sâu sắc, thấu triệt! Đó là những lời một đứa bé trai tám chín tuổi có thể nói ra hay sao? Phàm là chiến tranh, sợ rằng đều có thể quy về một mối ấy, không chỉ là chiến tranh của nhân loại, mà tất cả vật chủng trên đời này, đều phải tranh đoạt một khoảng không gian sinh tồn vì sự tồn tại của chính bản thân mình, chỉ có điều, sự tranh đoạt của chúng trực tiếp hơn, tanh máu và trần trụi hơn chứ không được phủ lên một lớp áo choàng âm mưu như chiến tranh của loài người mà thôi.

Mã Cát lại tiếp lời: “Em mãi không thể nào hiểu nổi, nếu mọi thứ ít đi, thì càng phải trân trọng, mọi người càng phải giúp đỡ lẫn nhau vượt qua khó khăn chứ? Em hỏi anh trai, anh ấy bảo cũng không hiểu, mọi điều anh ấy ấy biết, đều do cha dạy cả. Bao nhiêu năm nay rồi, em vẫn không sao hiểu được.” Mã Cát lắc lắc đầu, tựa hồ muốn rũ đi sự thương cảm vẫn vấn vương trong cõi lòng. Đoạn cô vỗ khẽ lên cổ Cường Ba, con thằn lằn cổ dài liền bơi qua hồ nước, lên bờ ở chỗ bãi cỏ. Mã Cát kéo tay Trương Lập, nhoẻn miệng cười nói: “Đi nào, anh Lập, mình đi tìm tinh linh tuyết thôi!”

“Hả, có, có tìm được không nhỉ?” Nhìn cả vùng cỏ rộng, vừa nãy chắc chỉ có khoảng mười mấy con, không, chắc chỉ tầm mười con tinh linh tuyết là cùng, thân thể chúng nhỏ như vậy, lại chỉ có ánh trăng, liệu có tìm được không? Trương Lập tỏ vẻ nghi ngờ.

Mã Cát gật đầu khẳng định: “Anh trai em nói, chỉ cần tìm kiếm chúng với tấm lòng chân thành, thì nhất định sẽ tìm được.”

Vào đêm trăng sao như thế, Mã Cát tựa hồ lại trở về với thuở ấu thơ mười mấy năm trước, dưới ánh trăng bàng bạc, cô dường như quên đi hết thảy phiền não, chỉ còn lại tiếng cười trong veo đầy hoan lạc. Nhìn nụ cười thuần khiết ngọt ngào của Mã Cát, trái tim Trương Lập bỗng quặn thắt. Đây là đêm cuối cùng được ở bên Mã Cát sao? Mình có thể sống trở về từ Bạc Ba La thần miếu hay không nhỉ? Không! Nhất định phải sống trở về!

Trời không phụ kẻ có lòng, chỉ một chốc sau, Mã Cát đã tìm được tinh linh tuyết giữa đám cỏ rậm rạp như một búi lông tóc bù xù. Cô cẩn thận nâng niu trong lòng bàn tay, miệng lẩm bẩm những lời chúc phúc gì đó. Trương Lập đứng bên cạnh quan sát con tinh linh tuyết. Đó là một loại côn trùng nhỏ màu bạch ngọc, gần như trong suốt, có sáu chân, dưới lớp vỏ cứng có năm đôi cánh mỏng gần như trong suốt, rực rỡ nhiều màu đang yếu ớt xòe ra, phần đuôi trông như một chiếc đèn lồng nhỏ, quầng sáng màu trắng sữa cỡ bằng hạt ngô lúc ẩn lúc hiện. Khúc nhạc giao hòa mọi âm thanh của trời đất khi nãy dường như đã tiêu hao toàn bộ năng lượng của con vật nhỏ, lúc này nó chỉ còn biết ủ rũ nằm trên tay Mã Cát, thậm chí chẳng có sức mà bò nhúc nhích nữa.

Ánh sáng phía đuôi tinh linh tuyết mỗi lúc một tối đi, tần số nhấp nháy cũng dần chậm lại, cuối cùng thì không còn nhích động gì nữa. Bấy giờ Mã Cát mới đặt nó vào trong hố đất chôn đi, đoạn nhắm mắt lại, hướng về phía mặt trăng cầu khấn. Trương Lập đứng bên cạnh lẳng lặng ngắm nhìn. Dưới ánh trăng, Mã Cát dường như cũng hóa thành tinh linh tuyết, khắp người tỏa ra một thứ ánh sáng êm dịu màu trắng sữa, tà áo phấp phới tựa ráng mây, mái tóc bồng bềnh như tuyết, đẹp mà trong sáng vô ngần.

Chờ đến lúc Mã Cát mở mắt ra, Trương Lập mới khẽ hỏi: “Em ước nguyện gì thế?”

Mã Cát ngoảnh mặt lại, không nói gì, chỉ im lặng nhìn chăm chăm vào gương mặt Trương Lập. Hai người cứ thế nhìn nhau đắm đuối, chỉ cảm thấy thân thể và trái tim đều đang tiến sát lại nhau, gần hết mức như muốn hòa làm một thể.

Không biết bao lâu sau, Mã Cát mới lí nhí cất tiếng hỏi: “Anh Lập, mọi người đi rồi, có còn trở lại không?”

Trương Lập cọ cọ má vào vầng trán Mã Cát, nói: “Nếu anh còn sống, nhất định sẽ trở lại đây.”

“Anh Lập, nếu có thể trở lại, anh dẫn em ra thế giới ngoài kia, nhé?”

“Anh hứa với em, nếu có thể trở lại, nhất định anh sẽ đưa em ra thế giới bên ngoài kia, bằng lòng đi với anh nhé?”

“Ưm, anh đi đâu, em sẽ theo đó, Mã Cát là của anh rồi, anh muốn đi, thì hãy mang theo trái tim của Mã Cát đi... nó đã không còn thuộc về em nữa, để lại có ích gì?” Nói xong, Mã Cát ngước nhìn Trương Lập không chớp mắt, ánh mắt đắm đuối mê say, trái tim dồn nhanh nhịp đập.

Trương Lập giật nảy mình, chỉ cảm thấy máu trong người đều dồn lại tụ về một chỗ. Nhìn vẻ yêu kiều nũng nịu pha lẫn thẹn thùng của người yêu, sao anh lại không hiểu được thâm ý ẩn chứa sau lời nói cùng đôi mắt long lanh kia được chứ. Anh cố gắng vùng vẫy chống đỡ, tay run lên khe khẽ. Tiềm thức anh không ngừng cảnh cáo bản thân, dường như, dường như phải nghĩ đến hậu quả. Nhưng chỉ cần nhìn vào đôi mắt Mã Cát, là anh chẳng thể nghĩ gì được nữa, Trương Lập không sao kiềm chế nổi, thực sự không kiềm chế nổi nữa rồi!

“Em... em không... hối hận...” Trương Lập vẫn đang khổ sở đè nén xúc cảm đang trào dâng.

“Em không hối hận.” Ngữ khí kiên định của Mã Cát đã xé toang lớp rào phòng ngự cuối cùng của Trương Lập, anh không sao tìm nổi lý do nào để ngưng lại nữa, vội ôm eo bế bổng Mã Cát lên, chạy vào giữa vùng cỏ rậm rạp. Dưới ánh trăng bạc, Mã Cát lặng lẽ nhìn người đàn ông mạnh mẽ như loài dã thú ấy, dự cảm được việc mình mới chỉ được nghe kể trong truyền thuyết sắp sửa xảy ra, cô thấy vừa hân hoan lại vừa thẹn thùng. Tuy không phải lần đầu tiên xuất hiện trước mắt người đàn ông này với thân thể lõa lồ, nhưng không hiểu tại sao, cô vẫn run lên vì hưng phấn. Mã Cát chưa bao giờ có cảm giác như thế, mà sự thực là, mỗi cảm giác khi ở bên Trương Lập cô đều chưa từng được trải nghiệm trước đây.

Hai người đến giữa bãi cỏ tựa như cỏ lau ấy, Trương Lập đạp bằng một vạt lớn, đặt Mã Cát nằm ngửa xuống, một áng mây lướt qua, lặng lẽ che đi cặp mắt của vầng trăng trên cao.

Nhạc Dương đang phụ trách giám sát trên cao, đột nhiên nhảy bật lên thấp giọng gọi: “Anh Ba Tang, hai người họ, biến mất rồi!” Anh nôn nóng định lao xuống, thì Ba Tang vươn tay ra kéo lại. Người đàn ông xưa nay vốn lạnh lùng ấy nở ra một nụ cười hiếm có, chầm chậm nói: “Yên tâm, tạm thời không có chuyện gì đâu.”

Cùng lúc ấy, Trác Mộc Cường Ba đang nằm trong phòng bỗng bật người dậy, vừa bước ra cửa liền gặp ngay Lữ Cánh Nam, trong bóng tối, ánh mắt hai người đều sáng rực. Trác Mộc Cường Ba cầm thiết bị báo động, bình tĩnh nói: “Có người đạp bẫy.” Đường Mẫn và đội trưởng Hồ Dương cũng bước ra theo.

Lữ Cánh Nam gật đầu, Trác Mộc Cường Ba hỏi: “Pháp sư Á La đâu?”

Lữ Cánh Nam đáp: “Pháp sư đi trước rồi. Mau lên...”

Bốn người liền chạy về phía cổng làng...

Trong bụng Max nãy giờ vẫn thầm nguyền rủa chửi bới Tây Mễ, tên khốn này, lại để toàn bộ người của hắn ở lại giữ trại mà dẫn đám người ngoài chúng ta đi dò đường, thằng ngu nào mà chẳng biết, dò đường là nguy hiểm nhất! Nhưng trên mặt y vẫn luôn thường trực một nụ cười đầy sùng bái, miệng còn xoen xoét nào là đại ca Tây Mễ cần gì phải đích thân đi, nào là đại ca lúc nào cũng xung phong đi trước đàn em, thực sự đúng là quá quan tâm thuộc hạ rồi, kỹ thuật diễn xuất cao siêu ấy khiến con mắt tam giác của Tây Mễ cứ chốc chốc lại nheo tít lại thành một đường chỉ mỏng dính.

Chưa đi được bao xa, Tây Mễ đột nhiên dừng sững lại, chỉnh ngọn đèn gắn trên đầu, nheo mắt quan sát thân cây phía trước, Max cẩn thận giương súng lên cảnh giới phía bên phải. Y hiểu rất rõ lúc nào cần nói, lúc nào cần im miệng lại.

Tây Mễ ngoảnh đầu sang bên trái theo thói quen, vừa khéo lại không trông thấy Max đang đứng bên phải. “Dick,” y thuận miệng gọi một cái tên khác, nói: “Mày đến xem sao, cái cây kia không ổn lắm, có thấy đống cỏ bên dưới gốc cây kia không? Cẩn thận đấy.”

Dick từng là lính đánh thuê, đã theo Merkin bốn năm có lẻ, chỉ cao chừng mét sáu, đầu phẳng mặt vuông, da màu nâu bánh mật, mắt to, lông mày rậm rạp. Hắn nắm chặt khẩu tiểu liên giảm thanh, cẩn thận nhích lại gần đống cỏ ấy, gạt bỏ đám lá và cỏ phủ bên trên đi, rồi ngoảnh đầu cười cười bảo: “Có chăng dây, quả nhiên là cạm bẫy.”

Tây Mễ ngẩng đầu nhìn lên, trên chạc ba chỉ thấy một khoảng tối om đen kịt, y bèn đeo kính nhìn đêm lên, trong quầng sáng màu xanh lục liền hiện lên một đám dây leo quấn chằng chịt trông như cái kén tằm. Y gỡ kính xuống, lẩm bẩm nói: “Chắc là súc gỗ lớn có gắn mũi nhọn, đây không phải loại bẫy một người có thể sắp đặt được, xung quanh còn nữa, là cả một tổ hợp bẫy. Xem ra, không xa phía trước là có thôn làng rồi.”

Max nói: “A ha, nếu phía trước có làng, chúng ta có thể ngủ ngon một giấc rồi.”

Brian vân vê mái tóc xoăn tít màu vàng kim óng ánh, bật cười gian hiểm: “Phải đấy, có thể ngủ ngon một giấc, kiếm vài ả đàn bà châu Á cũng không tệ.”

Ivan xòe bàn tay to tướng như cái quạt ra: “Năm đứa, tao quất phải năm đứa mới đã! Ha ha!” nói rồi liền làm động tác vươn eo, cả bọn xung quanh cười ồ lên dâm đãng, tựa hồ chúng đã nhìn thấy những chiếc giường ấm áp thoải mái, những cô gái phương Đông nhỏ nhắn xinh đẹp, thức ăn thơm phưng phức ở ngay trước mắt mình rồi vậy. Dick cũng cười hô hô đứng thẳng người lên.

“Soạt!” Tây Mễ bất chợt phát hiện cỏ dưới chân Dick hơi đung đưa, tựa như có thứ gì đó đang rút thật nhanh bên dưới, liền chẳng nói chẳng rằng, giương súng bắn vào bên cạnh Dick, đồng thời quát: “Lăn ra, thằng ngu!”

Nếu bảo Dick tránh ra, chưa chắc y đã kịp phản ứng. Nhưng tiếng súng vừa vang lên thì đó lại là một phản ứng gần như thuộc về bản năng, tên lính đánh thuê dày dạn kinh nghiệm trên chiến trường ấy liền tức thì nghiêng mình lăn sang một bên, vừa mới nhích ra khỏi vị trí ấy, súc gỗ khổng lổ ghim đầy mũi nhọn trên đầu liền sập ngay xuống chỗ y vừa mới đứng. Dick từ dưới đất lồm cồm bò dậy, giờ mới hiểu ra mình vừa thoát chết trong gang tấc, mặt mũi tái nhợt trở lại bên cạnh đồng bọn.

Tây Mễ tìm được một sợi thừng mảnh khác ở hướng ngược lại với chỗ Dick vừa đứng, ở đầu dây còn nối thêm một đoạn dây mảnh hơn, ẩn mật hơn nữa, nếu chỉ chú ý đến đống cỏ ngụy trang nhìn lồ lộ đập ngay vào mắt thì rất dễ giẫm phải cạm bẫy thực sự này. Tây Mễ cầm sợi dây chỉ to hơn sợi tóc một chút ấy, lẩm bẩm nói: “Đây không phải bẫy để đối phó với dã thú, mà giống như dùng để ngăn ngừa những thợ săn dạn dày kinh nghiệm vậy.”

Max lập tức có phản ứng, ngần ngừ lên tiếng: “Đại ca..., ý anh là, có người đề phòng chúng ta? Hay là ở đây thường có chiến tranh, các thôn làng cũng phải đề phòng lẫn nhau?

Tây Mễ nói: “Không sai, chỉ có hai khả năng này thôi.” Y liếc mắt nhìn sang Max, thầm nhủ, thằng nhãi này xem ra không chỉ biết xun xoe nịnh bợ. Tây Mễ đứng lên, vỗ vỗ vào Dick vẫn đang thất kinh hồn vía: “Phải cẩn thận hơn nữa, tìm đúng đường, nếu không, cả bọn chẳng khác nào nhắm mắt lao vào bãi mìn đâu. Đi thôi...” Lần này, cả bọn đều ngoan ngoãn lầm lũi đi theo sau Tây Mễ.

Trong rừng, lại có người hỏi Lôi Ba: “Phía trước bảy cây số lại có vật thể di chuyển với tốc độ cao, đang tiến về phía chỗ đại ca, chúng ta có cần chi viện không?”

Lôi Ba đáp: “Nhiệm vụ của chúng ta là canh giữ ở đây. Nếu muốn sống sót, mày biết là nên làm gì rồi đấy.” Từ hồi ở Khả Khả Tây Lý bọn chúng đã biết được một điều rằng, muốn sống, thì cứ theo lời đại ca mà làm.

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 15

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự