Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể Like, Đánh Dấu, Chuyển Giao Diện Đọc... Chỉ mất 40 giây của bạn thôi nhưng còn nhiều đều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 54 BÍ ẨN NGƯỜI TUYẾT HIMALAYA

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã

Phiên bản Dịch · 30226 chữ · khoảng 109 phút đọc

Sau chuyến đi khốc liệt khiến không ít bạn đồng hành phải bỏ mạng, đoàn thám hiểm của Trác Mộc Cường Ba đã bước vào chặng cuối của cuộc tìm kiếm kéo dài suốt mấy năm ròng, vùng đất tưởng chừng chỉ có trong truyền thuyết, Shangri-la đang ở ngay trước mắt họ. Chỉ còn một bước nữa thôi, họ sẽ đến điểm đích cuối cùng, mở ra cánh cửa đã đóng suốt nghìn năm của Bạc Ba La thần miếu bí hiểm mà bao người theo đuổi.

Nhưng Shangri-la - nơi thời-không như dừng lại, nơi thiên nhiên ngưng bước ở đại Cổ sinh, cũng có dòng chảy lịch sử thăng trầm khốc liệt của riêng mình. Không chỉ phải liều mình chiến đấu với bao ác điểu quái thú nơi rừng hoang núi thẳm, bọn Trác Mộc Cường Ba còn phải đối mặt với những âm mưu quỷ kế khó lường của những con người đầy dã tâm và tham vọng đã sinh tồn trên mảnh đất bí hiểm này suốt nghìn năm qua.

CHƯƠNG 54:

BÍ ẨN NGƯỜI TUYẾT HIMALAYA

Rất nhiều người nước ngoài tin rằng, người tuyết cư trú trong một nơi cực kỳ ẩn mật trên dãy Himalaya, nơi đó, rất có khả năng chính là Shangri-la trong truyền thuyết. Thêm vào đó, người tuyết chưa bao giờ thực sự lộ diện, đâu đâu cũng có truyền thuyết, song lại chẳng có một chứng cứ xác tín nào cả, nên mọi người lại càng tin rằng, người tuyết có thể tìm được đường đến Shangri-la, bắt được người tuyết, biết đâu có thể bắt họ dẫn đường đến Shangri-la cũng không chừng.

Muỗi

Đột nhiên, trong rừng sâu vang lên những tiếng “vù vù vù vù” đều đặn. Âm thanh ấy khiến mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba, Ba Tang theo bản năng rợn hết cả tóc gáy, những vết thương kinh hoàng chợt trở về trong ký ức. Ong sát nhân châu Mỹ! Tuy vẫn chưa xác định được có phải thứ ấy đang tiến lại gần họ hay không, nhưng âm thanh thì rõ ràng là giống đến kinh người.

Nhạc Dương căng thẳng giương ống nhòm, rồi đột ngột ném cho Sean đang đứng bên cạnh, kinh hãi thốt lên: “Là muỗi! Chưa bao giờ tôi thấy giống muỗi nào to thế này cả!” Vừa nói anh vừa bắt đầu lục tìm vũ khí bên mình, nhưng chọn đi chọn lại cũng không sao chọn được thứ gì có thể tiêu diệt lũ muỗi này một cách hiệu quả nhất. Bọn chúng là những cỗ máy giết người bay lượn trên không trung, rõ ràng là cực kỳ đáng sợ. Cứ hễ nhớ đến lũ ong sát nhân ở châu Mỹ, Nhạc Dương lại không rét mà run.

Sắc mặt Sean cũng tái nhợt, lúc anh ta đưa ống nhòm cho Trác Mộc Cường Ba, cổ tay thậm chí còn hơi run run. Trác Mộc Cường Ba cầm ống nhòm lên xem thử, chỉ thấy cả một khoảng rừng từ gần kéo ra xa, tựa hồ bị một lớp khói mù nhàn nhạt bao phủ. Gã hiểu rất rõ, làn khói mờ phiêu đãng ấy chính là đại đoàn quân muỗi. Những con bay đầu tiên đã hiện lên rất rõ trong tầm nhìn của ống nhòm rồi. Phải gọi chúng là những con quái vật bay mới đúng... Chính xác là vậy, bất cứ người nào bỗng dưng nhìn thấy những con muỗi dài hơn một mét, ắt sẽ không mảy may nghi ngờ gì mà lập tức nhận định rằng chúng là một lũ quái vật. Bọn quái vật ấy có cái đầu phủ đầy những con mắt dạng lưới, ước chừng to bằng đầu đứa trẻ sơ sinh, phía sau kéo theo phần bụng trông tựa như cái túi đựng nước bằng da bò; toàn thân từ đầu tới đuôi, kể cả trên cánh cũng mọc đầy những sợi lông cứng như kim thép, trong tầm nhìn màu xanh lá cây của ống nhòm ban đêm, những vằn trắng xám biến thành các ô đen và trắng; giữa đầu và bụng nhìn tựa như bị dây thừng thít chặt lại, bất cứ lúc nào cũng có thể đứt lìa ra, thực không hiểu sao hai bộ phận này có thể nối liền vào nhau được như thế; nhưng chính cái vòi hút máu đặc trưng của loài muỗi mới là thứ thực sự khiến người ta run rẩy. Trên đầu của những con quái vật ấy, con nào con nấy mọc ra cái vòi dài chừng ba mươi phân, trông như đầu kim của một cái xy lanh khổng lồ vậy, không khó để tưởng tượng, muốn hút được máu của bọn thằn lằn khổng lồ kia, những cái vòi ấy phải đủ sắc bén thế nào; còn hai cái xúc tu thì cứ ngo ngoe trên đầu mũi kim như thể đang khiêu khích ai vậy.

Trác Mộc Cường Ba buông ống nhòm xuống nhưng không đưa cho người tiếp theo, bởi còn không cần thiết nữa rồi. Bọn muỗi quái vật đã bay đến xuất hiện trong ánh lửa. Phía bóng tối thăm thẳm kia, những tiếng “vù vù vù” vang lên chói tai, khiến người ta không thể đoán biết được bọn chúng rốt cuộc có bao nhiêu con.

Ánh mắt Trương Lập đảo đi đảo lại liên tục trên mấy cái ba lô. Nhạc Dương thấy vậy bèn hỏi: “Tìm cái gì thế?”

Trương Lập căng thẳng nói: “Tôi đang nghĩ không biết có thuốc diệt côn trùng gì không.”

Nhạc Dương nói: “Thuốc diệt côn trùng dùng được với bọn quái vật khổng lồ này chắc? Nếu bọn chuồn chuồn khổng lồ ở tầng dưới mà lên được đây thì tốt quá.”

Sean vội lên tiếng an ủi: “Đừng lo, đừng lo, theo những gì tôi biết, thì bọn muỗi khổng lồ thời viễn cổ chắc là chỉ hút nhựa cây thôi.”

“Nổ súng!” Trác Mộc Cường Ba biết rõ vào lúc này không thể do dự thêm chút nào nữa, mặc xác bọn muỗi ấy có hút máu hay không, dù sao cũng không thể để bọn chúng đến gần bọn họ được.

Ánh lửa lóe lên, lũ quái vật đáng sợ bay lượn trên không trung lần lượt rơi xuống, nhưng bọn chúng số lượng quả thực quá nhiều, chỉ có một phần rất nhỏ bị bắn hạ mà thôi. Càng lúc càng có nhiều muỗi vây bâu quanh bọn Trác Mộc Cường Ba, bọn chúng rõ ràng rất sợ bức tường lửa họ đốt lên, không dám mạo hiểm lao vào. Có điều, số muỗi bị bắn chết có thể nói là rất ít, hầu hết chỉ bị bắn rụng xuống đất, đập đập cánh mấy cái là lại bò dậy được, tiếp tục chằm chằm nhìn đám người bên trong qua bức tường lửa. Số lượng muỗi trên mặt đất mỗi lúc một nhiều, bắt đầu chồng chất lên nhau, Ba Tang không hề do dự quăng ra một quả lựu đạn, nổ cho lũ quái vật xác thịt tung tóe bắn văng tứ phía.

Nhạc Dương để ý thấy hễ trên cánh những con muỗi ấy lóe lên một tia lửa, tựa như một mảnh tro giấy còn chưa tắt hẳn, liền có vệt lửa lướt qua trên đôi cánh, rồi chỉ trong chớp mắt, cặp cánh khổng lồ đã cháy hết. “Chúng sợ lửa, dùng lửa mà đốt!” Nhạc Dương kêu lên, lập tức lấy chân hất lên một đám lửa. Đám lửa rơi vào giữa đàn muỗi, liền như mồi lửa quăng trên thảo nguyên vào mùa thu, những sợi lông cứng trên mình lũ muỗi cũng dễ cháy như lông tóc của nhiều loài động vật khác, mà đôi cánh của chúng rõ ràng cũng thuộc loại hàng dễ cháy, bùng lên rất nhanh. Đốm lửa ấy thậm chí còn gây thương tổn cho lũ muỗi dưới mặt đất nhiều hơn quả lựu đạn Ba Tang ném ra lúc nãy. Những người khác cũng lần lượt làm theo, vừa giương súng bắn rơi lũ muỗi đang bay, vừa dùng chân đá vào đống lửa, hoặc cầm những khúc gỗ đang cháy phừng phừng ném vào đàn muỗi.

Nhưng nhiều con muỗi đã bay tít lên cao, những cỗ máy giết chóc đập cánh vù vù ấy rõ ràng đã thích ứng với bức tường lửa chướng ngại kia, bay lên đến độ cao mà ngọn lửa không thể bốc tới được, sau đó đảo lượn ở giữa vòng lửa, rồi ngừng đập cánh, lao thẳng xuống như một mũi tên.

“Cẩn thận! Cẩn thận!” Vừa phải tránh thế công dồn dập như một trận mưa tên ấy, những người trong vòng lửa đã không còn sức đâu mà để ý đến lũ muỗi trên mặt đất nữa, từng nòng súng lần lượt chĩa thẳng lên cao, bắn được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, xả đạn không thương tiếc vào bầu trời.

Chỉ nghe “Soạt!”, một thanh kiếm sắc cắm phập xuống cách Trương Lập chưa đầy một mét. Trương Lập rởn người nhìn con quái vật đang dồn sức vào bốn chân, định nhổ mũi kim khổng lồ của nó ra khỏi vũng bùn lầy, anh liền vung tay tương cho nó một thanh củi cháy phừng phừng, toàn thân con vật dị hợm ấy tức thì bị những tia lửa lóe lên thiêu rụi. Thấy thế lửa xung quanh đã yếu dần, Trương Lập liền xông sang phải mấy bước, giật sợi dây thừng thứ hai, một thùng xăng nữa đã chảy theo đường rãnh được thiết kế từ trước đổ vào vòng lửa. Lửa đổ thêm dầu, lập tức bùng lên cao gấp đôi, ngọn lửa nhảy nhót vút lên đến mười mấy mét. Những con muỗi khổng lồ chưa bay lên đủ độ cao bị lưỡi lửa liếm vào, lập tức rơi xuống lả tả, thân thể liền trở thành một nguồn nhiên liệu mới.

Trong vòng lửa, bọn muỗi ầm ập lao xuống hết con này đến con khác, như máy bay ném bom Trân Châu cảng. Bọn Trác Mộc Cường Ba vất vả né tránh, thỉnh thoảng lại nổ súng phản kích. Lũ muỗi rơi xuống bên trong vòng lửa cũng chưa chết hẳn, có con cánh bị bùn đất dính chặt, ngửa bụng lên trời khua loạn sáu cánh tay bé xíu, có con thì lăn lộn khắp phía, trừng những con mắt dạng lưới như cái rổ lên, vươn thứ hung khí như đầu kim ra chọc loạn lung tung, có con vùng vẫy bò ra được khỏi đống lửa, toàn thân vẫn cháy bùng bùng. Tình hình bên ngoài vòng lửa cũng không khác gì, chỉ là số muỗi nhiều hơn bên trong rất nhiều, tầng tầng lớp lớp chen chúc nhau, khi lưỡi lửa liếm đến, cảnh tượng còn ghê người gấp bội. Tiếng cảnh cáo, tiếng hét, tiếng rú, tiếng súng, tiếng nổ, tiếng đập cánh, tiếng ngọn lửa cháy “lách tách”, tất cả hòa trộn nháo nhào; người nổ súng, người né tránh, lấy củi châm lửa, ném lựu đạn, ném đuốc, ném đạn khói... cảnh tượng thực sự vô cùng hỗn loạn, nhất thời cảm tưởng như đâu đâu cũng là đạn nổ, đâu đâu cũng là lửa cháy.

Bọn muỗi khổng lồ rơi vào vòng lửa mỗi lúc một nhiều hơn, bọn họ cơ hồ đã bị buộc đẩy vào thế đánh giáp lá cà với lũ chúng, chẳng còn đội hình trận pháp gì hết, mọi thứ loạn xà ngầu, không đụng phải người mình thì va phải bọn muỗi. Dù chỉ bị những sợi lông cứng nhọn hoắt của chúng cọ phải một cái, đã để lại vết thương khá sâu. Không cần nói cũng biết, nếu bị cái vòi trên đầu lũ muỗi chọc cho một cái, rất khó nói còn bao nhiêu phần cơ hội sống sót.

Trong lúc hỗn loạn, Trác Mộc Cường Ba lách người né tránh một con muỗi khổng lồ xông thẳng tới trước mặt, chỉ thấy đùi non đau nhói lên bỏng rát, ống quần đã bị lông cứng trên mình con muỗi ấy cà rách toác, ba vết thương trông như thể bị chó săn cào cấu. Gã vung chân lên tung ra một cước, đá lộn nhào một con muỗi khác, khẩu súng carbine đã hết đạn, đành dùng súng lục 45 li, từng đám từng đám chất dịch trông như bùn loãng bắn tóe. Bên phải gã lại có một con muỗi khác bò tới, đà lao vừa nhanh vừa mạnh, khó mà tránh được. Trác Mộc Cường Ba lập tức quyết đoán trong khoảnh khắc, thân hình vặn một cái, nhằm thẳng vào cái đầu to tướng của nó vỗ một phát thật mạnh, chỉ thấy cảm giác như thể vỗ vào một cái bao bố đựng đầy hạt ngũ cốc vậy. Cảm giác khó chịu ấy khiến toàn thân gã hơi chùn lại. Nhưng cũng còn may, phần nối giữa đầu và thân thể con muỗi ấy quả nhiên không được chắc chắn, bị Trác Mộc Cường Ba vỗ cho một cái, cả cái đầu lẫn mũi kim nhọn cùng văng tuốt, ở chỗ đứt lìa có một thứ vật chất trông như sô cô la lỏng chảy tràn ra, còn phần thân thể vẫn lao tới phía trước, xông thẳng vào vòng lửa.

Bỗng nghe có tiếng rú kinh hãi, “Á!” Đường Mẫn bị một con muỗi hất ngã văng ra đất, lại có một con khác xông đến, đã chồm cả lên người Đường Mẫn, cái vòi dài nhọn hoắt giơ lên cao. Trác Mộc Cường Ba nãy giờ vẫn ở bên cạnh để ý canh chừng cho cô, sao có thể để Đường Mẫn bị tổn thương dù chỉ một chút, chỉ thấy gã vươn tay lên một cái đã tóm chặt cái dùi nhọn ấy, vận sức bẻ mạnh, giật tung cả cái đầu và toàn bộ phần tiếp nối với thân thể của con quái vật, rồi ném vèo ra tít đằng xa.

“Bên trên kìa!” Đường Mẫn nằm dưới đất lại kêu lên hoảng hốt, liên tục giật lùi. Trác Mộc Cường Ba ngẩng đầu lên, một kẻ tập kích từ trên không đang giơ cao lợi khí của nó nhằm thẳng vào Mẫn Mẫn lao xuống. Đã không kịp nữa rồi, Trác Mộc Cường Ba đột nhiên giơ cánh tay trái ra hứng lấy cú đâm đó. Cái vòi hút máu nhọn hoắt đâm thẳng vào cánh tay Trác Mộc Cường Ba ngọt xớt, nhưng đồng thời, khẩu súng lục 45 li đã hết đạn trên tay phải gã cũng đã quật thẳng tới, báng súng đập nát bét đầu con muỗi.

Nhưng chênh chếch phía sau lại có một con khác lao tới, cánh tay Trác Mộc Cường Ba vẫn còn để nguyên đầu mũi kim to tướng chưa rút xuống, gã lại đang xoay lưng bảo vệ cho Đường Mẫn, e rằng khó mà tránh được. Đúng lúc ấy, Sean từ một bên lao tới, anh ta không dám trực tiếp tóm lấy vũ khí của con muỗi khổng lồ, bèn nghiêng người húc thẳng vào con muỗi đang lao đến đánh lén Trác Mộc Cường Ba, giữa chừng còn ngoảnh đầu lại, nở một nụ cười điệu bộ quý tộc với Trác Mộc Cường Ba.

“Oa, Chúa ơi!” Ngay sau đó đã nghe tiếng Sean hét lên bằng tiếng Anh. Cái vòi nhọn hoắt của con muỗi quái vật đâm thẳng vào chỗ bàn tọa nhiều thịt nhất của Sean, không sai không lệch. Chỉ thấy anh ta tay bịt mông nhảy tưng tưng, nhưng trước sau chẳng cách nào hất được cái vòi cứng ngắc ấy đi.

Ba Tang bèn đến giải vây giúp Sean, tung cước đá vào chỗ tiếp giáp giữa đầu và cơ thể con muỗi, kế đó thì chính anh ta cũng suýt chút nữa bị đánh trộm, vội vàng ngã sang một bên, lăn mấy vòng tránh né. Sean đã tự rút được mũi nhọn ra, nhưng vẫn cứ “xuýt xoa” mãi không ngừng.

Đúng lúc ấy, có người kêu lên: “Bắt lấy này!” Chỉ thấy một vật đen sì sì rơi vào tay Sean, hóa ra là một cái mặt nạ hô hấp có kèm bình dưỡng khí. Lại thấy Lữ Cánh Nam đang ra sức vẫy cánh tay chỉ về phía hồ nước, hét lớn: “Nhảy xuống nước! Mau nhảy xuống nước!” Dưới ánh lửa bập bùng, Nhạc Dương và Trương Lập đã nhảy xuống từ lúc nào, nhưng đầu vẫn lộ ra trên mặt nước chờ mặt nạ dưỡng khí.

Pháp sư Á La đứng một bên hộ vệ, chỉ thấy tay trái tay phải ông vung lên liên tiếp, vỗ xuôi vỗ ngược như thể tiện tay vung lên tát ai đó, con muỗi nào lại gần ông đều bị vỗ cho đầu văng bắn đi. Lũ muỗi đã mất đầu, dù có đông hơn nữa cũng không dễ gì gây ra những vết thương chí mạng cho ai được nữa. Còn Lữ Cánh Nam lúc này đang ở bên cạnh mở ba lô, phân phát mặt nạ dưỡng khí cho những người vẫn đang loạng choạng trốn chạy và những người đã nhảy xuống nước.

Những người còn lại cũng đã lấy được mặt nạ, từng người từng người nhảy xuống nước “tùm tũm” rồi lặn xuống chỗ sâu hơn. Trước khi lao xuống làn nước, Ba Tang vừa khéo ngoảnh lại, nhìn thấy pháp sư Á La vẫn vung cánh tay lên như thể đang thong thả dạo bộ trong vườn, tư thế đẹp tựa một vị nhạc trưởng đang chỉ huy dàn nhạc giao hưởng, bất giác anh ta thấy lạnh cả người, thầm nhủ: “Lão già này...”

Không ai dám khẳng định lũ muỗi trên không kia liệu có lao thẳng xuống nước như chim bói cá được hay không, nhưng theo kết luận do Nhạc Dương quan sát và phân tích rút ra, thì dưới nước chắc sẽ tạm thời an toàn cho bọn họ.

Qua ánh lửa phừng phừng trên bờ có thể trông thấy, đàn muỗi mất mục tiêu vẫn đảo lượn trên không trung một hồi lâu, cuối cùng mới hậm hực kéo nhau bỏ đi. Nếu không có những trang bị để hô hấp này, họ không thể nào ở dưới nước được lâu như vậy.

Để cho an toàn, lại sợ đàn muỗi giảo hoạt nấp đâu đó gần đấy, họ vẫn ở lại dưới nước thêm một lúc lâu nữa mới trở lên bờ. Lửa tắt dần, bờ hồ như vừa trải qua đại chiến thế giới, khắp nơi chốn khói thuốc vẩn vít bốc lên và la liệt xác chết cháy đen thui. Họ nhớ lại trận chiến sinh tử vừa diễn ra trong khoảnh khắc trước, và cả những cơ thể côn trùng vẫn còn sống không ngừng vặn vẹo kia, tâm thần bất định không yên.

Đường Mẫn kiểm tra thương thế của mọi người, Trác Mộc Cường Ba bị đâm một cú xuyên qua xương cẳng tay và xương cổ tay, cơ bắp có tổn thương chút ít, nhưng không ảnh hưởng đến gân cốt, cũng không bị phạm vào mạch máu lớn, chỉ cần rửa sạch, sát trùng, chích mủ và băng bó vào là xong, thậm chí vẫn còn cử động được. So sánh ra, vết thương của Sean hình như nặng hơn một chút. Đường Mẫn quan sát vết thương bên mông trái của Sean: có thể khiến anh ta nhảy cẫng lên kêu ầm ĩ như thế, cú đâm này chắc chắn là không phải tầm thường, bên trong vết thương to như ngón tay cái ấy toàn những thịt là thịt màu đỏ hồng, không biết là sâu bao nhiêu nữa. Nhìn gương mặt của Sean, có lẽ ít nhất nhát đâm cũng phải xuyên hết qua bắp thịt ở mông, vào đến tận xương chậu, hoặc thậm chí xuyên qua cả xương chậu nữa. Vết thương sâu như thế, chỉ riêng rửa cho sạch cũng đã là chuyện rất khó khăn rồi. Đường Mẫn ngước lên, gương mặt lộ vẻ khó xử.

Nhìn Sean đang hít hà hít hà, cô hơi do dự. Lữ CánhNam thấy trên tay Đường Mẫn không phải ống xy lanh dùng một lần bằng nhựa, mà là loại xy lanh bằng thủy tinh không gắn đầu mũi kim, đại để cũng đã biết cô định làm gì, bèn giật lấy ống tiêm thủy tinh đó hơ qua hơ lại trên ngọn lửa, nói: “Tôi làm cho.” Tiếp đó cô lại bảo với Sean: “Hơi đau đấy, cố nhịn nhé.” Rồi, cô kẹp ống xy lanh vào ngón giữa và ngón vô danh, ấn nguyên cả ống vào cái lỗ mới xuất hiện trên mông Sean.

“Á á!” Sean đau đến nỗi từng hạt mồ hôi to như hạt đậu trên trán túa ra như tắm.

Lữ Cánh Nam bơm hết chất lỏng bên trong ống xy lanh vào cái lỗ ấy rồi rút ra. Để làm sạch vết thương hoàn toàn, cô lại bơm thêm một ống nữa vào, rồi vò vò khu vực xung quanh vết thương như thể người ta giặt quần áo, làm Sean đau đến ngất xỉu. “Vết thương thế này mà không khử độc sạch sẽ thì rất dễ bị nhiễm trùng, phải không?”

Đường Mẫn hoảng hồn gật gật đầu, rốt cuộc cô cũng không thể không thừa nhận, ở một mặt nào đó, cô vĩnh viễn không bao giờ có thể bì kịp Lữ Cánh Nam. Trong đầu cô bỗng nhớ lại lời vị bác sĩ hướng dẫn đã dặn dò mình: “Làm một bác sĩ, trước tiên phải học cách tàn nhẫn đã.”

Xong xuôi mọi việc, cả bọn mới ngồi lại phân tích nguyên nhân dẫn đến vụ tập kích của đàn muỗi, ý kiến của Sean (lúc này đã đau đến mức dở sống dở chết) là được tin phục nhất: lũ muỗi bình thường đã có thể cảm ứng được mùi vị từ cách xa một cây số, mà khứu giác của lũ muỗi khổng lồ kia rõ ràng là nhạy bén hơn nhiều, vừa khéo bọn họ lại mới làm thịt một con thằn lằn khổng lồ, hẳn mùi máu thằn lằn chính là nguyên nhân dẫn dụ lũ muỗi hung ác kia tới.

Nhưng nói gì thì nói, cả bọn đã bị quân đoàn muỗi ập đến bất ngờ ấy làm cho chẳng còn lòng dạ nào mà yên giấc, ai nấy mệt mỏi thương tích đầy mình. Nghiêm trọng hơn nữa là, vũ khí đã tiêu hao gần hết trong trận chiến đấu chẳng có chút ý nghĩa gì đó, nếu lại gặp phải những quân đoàn quái vật như thế, bọn họ thật không biết phải đối phó thế nào nữa.

Đêm hôm đó đã được định sẵn là không thể trôi qua một cách bình yên, đám người hiện đại vừa mới nhảy dù xuống Shangri-la kia cũng gặp phải tình cảnh bi thảm chẳng kém gì. Đúng như Nhạc Dương đã dự đoán, đám người của Tây Mễ trực tiếp nhảy dù xuống thôn Công Bố, nhưng cả bọn chỉ có mười ba người thành công đáp xuống bên trong thôn làng, còn bốn người khác thì rơi xuống tầng bình đài thứ hai. Các trang thiết bị của bọn chúng cũng chỉ có ba hòm rơi xuống đúng vị trí dự định, hai hòm không biết đã bay đi đâu. Kế đó, mười ba kẻ nhảy dù xuống thôn Công Bố cách tầng bình đài thứ hai quá xa, nên chỉ nghe được thứ tạp âm sột soạt và những tiếng kêu thảm thiết điên loạn. Tiếng kêu thảm ấy quá đỗi khủng khiếp, thậm chí không cần dùng hệ thống bộ đàm liên lạc cũng nghe thấy được.

“Hai tên lính đánh thuê đó... á á... rẹt rẹt... loẹt xoẹt... cách cách... á! Cứu...”

Tây Mễ đắc ý nói với những kẻ còn lại: “Nghe thấy chưa hả? Đây chính là nơi mà chúng mày muốn đến đó! Không đơn giản chỉ là địa ngục thôi đâu, muốn sống sót ở đây, thì phải nghe lời ta!”

Max tiếp lời: “Đúng thế, đúng thế, tất cả đã nghe rõ chưa? Ở đây, chúng ta nhất định phải nghe theo đại ca Tây Mễ. Phải theo đại ca Tây Mễ, chúng ta mới tìm được kho báu ấy, cũng chỉ có đại ca Tây Mễ đây mới giúp chúng ta có thể sống sót ở đây. Đúng vậy không, đại ca Tây Mễ...” Nói đoạn, y liền nhe răng cười ngó sang phía Tây Mễ. Tây Mễ nhìn bộ dạng của Max, trông chẳng khác nào một con chó Nhật lông xù đang lè lưỡi quẫy đuôi tíu tít.

Sáng sớm ngày hôm sau, bọn Trác Mộc Cường Ba mang theo đủ nước dự trữ rời khỏi hồ nước đáng sợ ấy. Vì hầu hết đạn dược đã tiêu hao trong cuộc chiến đêm trước, nên bọn họ buộc phải tiến lên một cách cẩn thận hơn đồng thời tăng tốc. Trác Mộc Cường Ba vót cho Sean một cây gậy chống, và gánh ba lô giúp anh ta. Sean tập tễnh đi theo sau mọi người, bộ dạng trông chẳng khác nào Lý Thiết Quài trong truyện Bát Tiên. Trong cả quá trình ấy, thi thoảng Trác Mộc Cường Ba vẫn đánh ánh mắt phức tạp liếc sang phía Lữ Cánh Nam và pháp sư Á La. Phải biết rằng, đêm qua nếu không có Sean đỡ cho cú đánh đó, lúc này người phải chống gậy hoặc nằm trên cáng, sợ rằng chính là bản thân gã. Thế nhưng lời của Lữ Cánh Nam chốc chốc lại vang lên trong tâm trí, khiến đầu óc gã vô cùng hỗn loạn.

Nhạc Dương và Trương Lập đi trước dò đường, thi thoảng lại gặp phải một số loài sinh vật hình dáng kỳ dị, hầu hết đều đi vòng qua né tránh, nếu thực sự không thể nào né tránh được mới đành tiêu diệt. Bôn ba hơn nửa ngày trời, cuối cùng cũng trở lại được chỗ mép bình đài mà không gặp phải nguy hiểm gì. Đối với bọn Trác Mộc Cường Ba lúc này, chỉ còn phương án men theo mép bình đài tiến lên mới không quá nguy hiểm mà thôi.

Đi men theo mép bình đài được một lúc, Nhạc Dương chợt nheo nheo mắt, dường như phát hiện ra gì đó. Trương Lập thấy vậy cũng nhướng mắt lên nhìn, nhưng không thấy gì cả, bèn quay sang hỏi Nhạc Dương: “Phát hiện ra gì à?”

Nhạc Dương đáp: “Không biết, đi thêm một lúc nữa mới nhìn rõ được.” Cả bọn đi thêm một đoạn nữa, Nhạc Dương đột nhiên reo lên mừng rỡ, rồi lao về phía trước. Trương Lập chẳng hiểu gì, cũng nhao lên theo, những người phía sau cũng lần lượt chạy theo.

Lúc này cả bọn mới nhìn rõ, một cái dù rơi xuống mắc ở mép bình đài, đang bị gió thổi hơi đung đưa. Bên dưới cái dù là một hộp sắt lớn hình chữ nhật, nhang nhác cái công ten nơ, nhưng nhỏ hơn nhiều. Khi bước lại gần, mới phát hiện đó không phải một cái hòm, mà là mấy cái va li du lịch cỡ lớn buộc chặt lại với nhau, lớp vỏ bên ngoài bằng hợp kim rất chắc chắn. Trương Lập cũng nhận ra, đây là thiết bị mà bộ đội đặc chủng thường dùng khi nhảy dù. Thông thường một bộ hòm xiểng thế này, bên trong đủ các trang bị vật dụng thường dùng cho cả một tiểu đội, gồm cả vũ khí, dược phẩm, thực phẩm...

Trang bị mới

Nhạc Dương mừng rỡ nói: “Ha ha, đúng là mất cái nọ, được cái kia. Nhất định là trang bị của bọn nhảy dù kia bị gió thổi chuyển hướng. Nhìn kìa, thiết bị định vị bằng laser bị va đập hỏng rồi! A di đà Phật, A di đà Phật, đúng là ông Trời phù hộ.” Đối với họ mà nói, có những trang bị này thật chẳng khác nào được tặng than hồng giữa trời tuyết giá cả.

Trác Mộc Cường Ba vỗ vỗ lên lớp vỏ ngoài bằng hợp kim, đưa tay kéo thử, thấy gắn rất chặt, không kéo được. Trương Lập vừa lấy máy tính ra, vừa nói: “Không được đâu, giờ mấy cái hòm này đã bị khóa chặt với nhau, không có đĩa giải mã thì kéo còn không thể, đừng nói đến chuyện mở ra.” Nói đoạn, anh nhanh nhẹn đăng nhập vào máy tính, lập tức bắt tay tìm kiếm chỗ tiếp nối, rồi nói: “Nhưng mà chúng ta cũng có máy tính, phá giải mấy thứ mật mã này chẳng khó hơn phá giải cạm bẫy của cổ nhân là mấy đâu.”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Bọn chúng làm cách nào vận chuyển lên núi được nhỉ? To thế này cơ mà.”

Nhạc Dương giải thích: “Kiến còn tha được cả voi cơ mà. Tách ra, mỗi hòm nhỏ bên trong cũng bằng một cái ba lô leo núi. Nếu có bốn mươi người lên được đỉnh núi, thì ở đó bọn họ sẽ lắp ghép các hòm nhỏ lại thành bốn hòm lớn, thả dù xuống, mười người theo một nhóm. Như loại này thì là do tám cái hòm nhỏ ghép lại.”

Có tiếng “Cạch cạch!” vang lên, lại nghe Trương Lập nói: “Cái đầu tiên mở được rồi, rút ra đi.”

Ba Tang liền đưa tay kéo ra một cái hòm khá lớn, cao bằng nửa người, đặt nằm ngang dưới đất, “tách tách” mở ra. Vừa bật hai cái khóa móc ở hai bên, bơm nén khí ở nắp hòm đã tự động nâng lên. Phần bên trong hòm từ trên xuống dưới được lưới kim loại chia thành ba tầng, từng loại thiết bị đặt ở mỗi tầng hiện ra lồ lộ trước mắt mọi người.

Tầng đầu tiên là đồ dùng y tế, gồm có túi cấp cứu của bộ đội đặc chủng, thuốc kháng sinh, ngoài ra còn có một số thuốc tiêm và viên con nhộng khá hiếm thấy. Nhìn những chữ viết tắt tiếng Anh bên ngoài bao gói, Lữ Cánh Namđoán những loại thuốc tiêm và viên con nhộng này gồm nhiều loại, có các tác dụng như gây tê, gây mê, khí độc...

Tầng thứ hai là tầng xép giữa hai tầng, nên hơi nhỏ hơn, bên trong toàn là những miếng nhỏ hình chữ nhật kích thước 7,5 x 2,5 x 1 xăng ti mét, vỏ bọc bằng chất dẻo hút chân không, trông hơi giống lương khô, mà sự thực thì cũng hoàn toàn có thể gọi đây là một loại lương khô, có điều hàm lượng nguyên tố vi lượng và vitamin cao hơn lương khô thông thường rất nhiều mà thôi. Nhạc Dương đọc lướt qua mấy hàng chữ nhỏ li ti in bên ngoài bao bì, nét mặt liền lộ ra vẻ kinh hãi, cầm một miếng bánh vuông vắn ấy lên nói: “Chỉ cần một miếng này, cũng đủ cung cấp toàn bộ năng lượng cho cơ thể hoạt động trong một ngày, trời ơi là trời, bọn Mỹ ấy giỏi thật đấy! Ở đây có một, hai, ba, bốn, năm...” Nhạc Dương đếm thử, ngăn nhỏ ở giữa này có ít nhất là một nghìn miếng lương khô giàu năng lượng, đủ để ăn trong hai năm liền.

Lữ Cánh Nam cũng cầm một miếng lên xem thử, rồi nói: “Hạn sử dụng năm năm, bao bì bên ngoài sử dụng kỹ thuật đóng gói bằng màng của cơ quan hàng không vũ trụ, có vẻ như được nghiên cứu chế tạo làm thực phẩm cho các phi hành gia. Theo tôi được biết, ở Mỹ họ đang ra sức nghiên cứu một loại hỗn hợp giàu năng lượng dạng thuốc viên, hy vọng có thể làm được loại hỗn hợp kích cỡ chỉ nhỏ bằng viên thuốc, mà có thể thỏa mãn nhu cầu trong một ngày của cơ thể người, xem chừng họ đã có bước đột phá rồi.”

Đội trưởng Hồ Dương cũng rất hài lòng với loại lương khô đặc biệt này, cười nói: “Để người sử dụng không có cảm giác chán ăn, lại còn làm ra các mùi vị khác nhau nữa chứ.”

Tầng thứ ba để vũ khí, chia làm rất nhiều ngăn nhỏ, như hộp đựng đồ trang điểm của các bà các cô vậy, các loại vũ khí được cố định trong các ngăn nhỏ bằng bọt biển. Ngăn lớn nhất chiếm ba phần tư không gian cũng là ngăn để vũ khí chính, chính giữa đặt nghiêng một khẩu súng phóng lựu bề ngoài rất giống khẩu M16A4, chỉ thoạt nhìn đã biết cả tính năng lẫn các chỉ số kỹ thuật đều hơn xa loại M16 thông thường; ngăn phía trên bên trái là một đôi tiểu liên Steyr TMP có gắn nòng giảm thanh, ngăn bên phải bên dưới là một khẩu súng lục USP có gắn thiết bị ngắm tia hồng ngoại. Mỗi loại kèm theo năm băng đạn, còn vũ khí chính thì kèm thêm mười băng đạn được nối dài. Bên dưới ngăn để vũ khí là ba ngăn hẹp dài đựng đồ phụ trợ, ngăn đầu tiên có mười quả lựu đạn, ngăn thứ hai năm quả thủ pháo, năm quả lựu đạn sáng. Ngăn thứ ba có mười quả bom dạng đồng hồ đeo tay. Phía bên phải ngăn để vũ khí chính còn có mấy ngăn nhỏ hình vuông, chứa một số loại đạn đặc biệt như đạn xuyên giáp, đạn phát sáng, đạn nổ... Ngoài ra còn một ngăn nữa để ba quả mìn cỡ nhỏ.

Đến cả Ba Tang cũng phải rung động trước những hòm vũ khí trang bị ấy, một tiểu đội lính đặc chủng được trang bị thế này trên chiến trường hẳn là những kẻ thù cực kỳ đáng sợ, chỉ còn thiếu mỗi ống phóng hỏa tiễn cá nhân nữa mà thôi.

Nhạc Dương lại phát hiện ra, đáy tầng thứ ba này còn cách đáy hòm một khoảng nữa. Ba tầng mà họ trông thấy đây có lẽ chỉ chiếm khoảng một nửa không gian bên trong hòm mà thôi. Anh bèn thử đẩy nhẹ một cái, nghe tiếng “tách”, các ngăn đựng vũ khí liền trượt ra như ngăn kéo tủ, phía bên dưới, quả nhiên vẫn còn một bộ trang thiết bị hoàn chỉnh nữa...

Móc câu, thiết bị bắn móc câu, dây thừng an toàn, dây thừng leo bám, khóa móc, vòng số tám lớn nhỏ, chêm đục để leo vách đá, cuốc chim leo núi, giày, mũ, đệm bảo vệ đầu gối và khuỷu tay, đèn chiếu sáng, đèn pin, túi ngủ cá nhân... có thể nói là tất cả các trang bị để sinh tồn được giữa nơi hoang dã, thứ gì cần là có thứ ấy. Tận cùng bên dưới còn xếp một cái ba lô to tướng đã được gấp lại gọn ghẽ. Hiển nhiên, đeo theo cái hòm kim loại thế này không hề tiện cho việc di chuyển đường dài một chút nào.

Sean chống gậy loạng choạng bước lên hai bước, kinh ngạc thốt lên: “Quá hoàn mỹ, thật không thể nào tin nổi!” Nói đoạn, lại nghĩ đến những thứ bọn họ đang mang trên mình, quá nửa là đồ tự chế lấy, trong lòng lập tức có cảm giác trang bị của mình thật chẳng khác nào đồ vứt đi.

Trương Lập hắng giọng nói: “Tiền nào của nấy, người ta tiền nhiều như thế, trang bị thêm cho chúng ta cũng vẫn còn thừa chán. Hòm thứ hai mở ra rồi đây!”

Đường Mẫn mừng rỡ nhìn Trác Mộc Cường Ba, giờ bọn họ đã có thêm các trang thiết bị mới này, cơ hội có thể sống sót ra khỏi đây rõ ràng là tăng lên rất nhiều. Trác Mộc Cường Ba vẻ như đã biết Đường Mẫn đang nghĩ gì, cũng quay sang nhìn cô mỉm cười gật đầu khe khẽ. Cô ôm chặt cánh tay Trác Mộc Cường Ba, dựa đầu vào vai gã. Lữ Cánh Nam vẫn đang nhìn đống trang thiết bị dưới đất, nhưng khóe mắt dường như không sao kiềm chế nổi nữa.

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Sao không thấy có nước nhỉ?”

Nhạc Dương đáp: “Ngoại trừ ở những khu vực tác chiến đặc biệt, thông thường lính đặc chủng không mang theo nước uống, cùng lắm chỉ có một bình thôi, còn trong tuyệt đại đa số hoàn cảnh đều lấy nước tại chỗ. Dù sao cũng không thể cõng theo mấy chục cân nước mà đi khắp núi đồi được.”

“Cả quần áo cũng không có.” Đội trưởng Hồ Dương lại nói.

Ba Tang bật ra một tiếng cười lạnh lẽo, Trương Lập cũng không nén nổi cười, buột miệng đáp: “Thông thường khi tác chiến dã ngoại, một bộ quần áo mặc suốt mấy tháng liền, huống hồ đa phần đều là đàn ông với nhau, đâu có phụ nữ như chúng ta.” Lời vừa thốt ra khỏi miệng, anh liền cảm thấy có ánh mắt sắc bén đằng đằng sát khí đang nhìn mình, vội vàng bổ sung thêm: “Nhưng mà lính đặc chủng nữ cũng có thể hành động như nam giới vậy, không, à không, có lúc còn ưu tú hơn ấy chứ.” Nói xong, anh chàng vội lè lè lưỡi, mồ hôi túa ra, thầm mắng mình lắm mồm, rồi lại tiếp tục cắm đầu phá giải mật mã.

May cho Trương Lập là Lữ Cánh Nam lúc này không để tâm đến lời nói của anh lắm, đầu óc cô đang nghĩ đến một vấn đề khác. Chỉ nghe cô cảnh cáo mọi người: “Đừng vui mừng sớm quá, đây chỉ là các trang thiết bị thất lạc của kẻ địch, từ đây chúng ta có thể hình dung ra đối phương được trang bị đầy đủ như thế nào. Kẻ địch như vậy, lẽ nào không đáng cho chúng ta phải cảnh giác ư?”

Câu nói của Lữ Cánh Nam làm cả bọn bình tĩnh lại, duy chỉ có Ba Tang là vẫn quyến luyến thử điều chỉnh các loại vũ khí. Nghĩ cũng phải, bọn họ chỉ là may mắn phát hiện ra một bộ hòm xiểng này, mà theo như cách nói của Nhạc Dương, đối phương tuyệt đối không chỉ có một bộ. Vũ khí và các trang thiết bị hiện đại giúp họ có thể đối mặt với các loại ác thú hung mãnh hơn, thích ứng được với những hoàn cảnh hiểm ác hơn, có điều, kẻ địch cũng có những trang bị ấy, nên điều này chỉ có thể dẫn đến hậu quả đáng sợ hơn bội phần mà thôi.

Toàn bộ tám chiếc hòm đã được mở ra, bảy hòm giống hệt nhau, đều chứa nguyên một bộ trang thiết bị tiêu chuẩn, nhưng chiếc còn lại thì khác hẳn... bên trong không có túi đựng đồ cấp cứu, mà là một va ly chứa đầy dụng cụ phẫu thuật, loại mà các bác sĩ ngoại khoa vẫn thường mang theo: dao phẫu thuật đủ các cỡ, gương, kẹp, dụng cụ tách, ngoài ra còn có thiết bị siêu âm màu 3D xách tay và máy sốc điện, một cái hộp giữ lạnh kín mít bên trong có mấy túi máu dự phòng; trong hòm này không có thức ăn, nhưng lại có nguyên một bộ thiết bị thông tấn hoàn chỉnh, có thể liên lạc ở khoảng cách xa hơn đồng hồ nguyên tử của bọn Trác Mộc Cường Ba, ngoài ra còn có ống nhòm hồng ngoại điện tử để nhìn ban đêm và thiết bị theo dõi dẫn đường bằng tia laser; trong hòm không có các vũ khí thông thường, nhưng có hai ống phóng hỏa tiễn xách tay, một khẩu trung liên tháo rời được, hai hộp đạn to đùng, hai khẩu súng bắn tỉa cự ly xa; bên dưới còn có máy phát điện kiểu quay tay, radar và bộ điều hợp...

Ba Tang không kìm được huýt lên mấy tiếng sáo, những người hiểu anh ta đều biết, điều này chứng tỏ Ba Tang đang hết sức phấn khích. Đối với Ba Tang, có những thứ này mới có thể coi là một đơn vị tác chiến hoàn chỉnh được.

Nhạc Dương kiểm lại đống khí giới rồi phân tích: “Kẻ địch của chúng ta rõ ràng cũng rất chuyên nghiệp. Nhìn cách phân phối trang bị này có thể thấy, chúng ít nhất có một bác sĩ, hai lính trinh sát, hai tay súng bắn tỉa, hai chuyên gia chất nổ, lại cả các thiết bị thông tin chuyên nghiệp này nữa, hiển nhiên cũng phải có cao thủ về máy móc điện tử thao tác sử dụng. Tám người được trang bị thế này, đính thực là một nhóm tác chiến cực kỳ đáng sợ, so với lúc đụng độ với bọn ta ở Đảo Huyền Không tự, đám người này đã tiến bộ hơn rất nhiều rồi. Rất rõ ràng, cũng giống như chúng ta, Merkin có ý định huấn luyện đàn em của hắn thành những tinh anh trong các tinh anh. Ừm, lạ thật đấy...”

“Sao hả?” Với những vấn đề kiểu này, có lúc Lữ CánhNam cũng phải hỏi anh chàng có tài năng thiên bẩm của một lính trinh sát, rất giỏi quan sát phát hiện những điều người bình thường không dễ gì nhận ra ở những sự vật hết sức bình thường này.

Nhạc Dương quan sát lại một lượt toàn bộ các trang thiết bị, rồi nói: “Một hệ thống tác chiến và các phụ kiện hỗ trợ hoàn thiện, thế nhưng, nếu bọn chúng đến đây để tìm Bạc Ba La thần miếu, nơi đã có hơn nghìn năm tuổi, đầy rẫy các cạm bẫy chết người, sao có thể đến cả một hệ thống thám trắc phổ thông nhất cũng không có cho được? Ít nhất thì cũng phải có một bộ thiết bị thăm dò thường dùng nhất như camera gắn trên ống chất dẻo chứ nhỉ.”

Lữ Cánh Nam đã hiểu ý Nhạc Dương, khẽ gật đầu.

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Ý cậu là...”

Nhạc Dương nói: “Nếu cần một lời giải thích hợp lý, vậy thì, rất có khả năng, đối phương định chia quân thành nhiều đợt tiến vào Shangri-la, đội thứ nhất này là đơn vị tác chiến, nhiệm vụ chỉ là quét sạch mọi chướng ngại vật và dò đường mà thôi!”

Mọi người nghe vậy đều trầm mặc. Nếu nói những kẻ ấy chỉ là đội tiên phong đi trước, vậy phía sau còn bao nhiêu người nữa sẽ tiến vào Shangri-la là điều thật sự rất khó đoán. Chuyện này thật không có gì hoan hỉ.

Sean đã cầm lên một miếng lương khô, hỏi Trác Mộc Cường Ba và Lữ Cánh Nam: “Có thể... có thể ăn một miếng không?” Ban sáng không ai còn muốn hưởng dụng lũ muỗi mọc đầy lông cứng ngắc đó, về sau trên đường cũng bắn hạ được một vài con động vật chân đốt, nhưng món thịt nướng chẳng có mắm muối gì ấy không thể nào khiến người ta có cảm giác ngon miệng thèm ăn cho được, thêm nữa phải bôn ba suốt một ngày mệt nhọc bụng ai nấy lúc này đều đã rỗng không.

“Dĩ nhiên.” Trác Mộc Cường Ba không hề do dự đáp ngay.

Lữ Cánh Nam đưa mắt nhìn Trác Mộc Cường Ba nói: “Hôm nay chúng ta hạ trại ở đây luôn.” Nói đoạn, cô liếc sang cái va ly chứa dụng cụ phẫu thuật, rồi lại nói: “Vết thương của Sean vẫn cần xử lý một chút.”

“OK!” Trác Mộc Cường Ba gật đầu đáp.

Lúc này, Sean đã bóc lớp màng mỏng bọc bên ngoài miếng lương khô, vừa nhai nhồm nhoàm vừa nói: “Vị dâu tây, tôi thích vị này lắm.” Ăn được một nửa, anh ta bỗng ngạc nhiên thốt lên: “Cái gì đây nhỉ?” Chỉ thấy anh ta rút từ bên trong lớp màng mỏng bọc bên ngoài ra một vật mỏng, dèn dẹt như cái kẹo cao su.

Nhìn bao bì bên ngoài của vật mỏng ấy, Sean bất giác cười khổ, khoảng cách về trang thiết bị của bọn họ so với đối phương quả thực đúng là một trời một vực. Nhạc Dương tò mò hỏi: “Cái gì thế?” Anh đón lấy vật mỏng đó, không ngờ lại đúng là kẹo cao su thật. Nhạc Dương nhìn nhìn, rồi cũng bật cười, bộ dạng có vẻ rất cam chịu. Đường Mẫn cũng lấy làm hiếu kỳ: “Gì thế?”

Nhạc Dương đưa cho cô, rồi nói: “Đúng là kẹo cao su. Giấy bọc viết rất rõ, sử dụng sau khi ăn có tác dụng làm sạch khoang miệng, ngoài ra bên trong còn có hoạt chất khiến đầu óc tỉnh táo, hấp thụ thông qua lưỡi. Hơn nữa nhai kẹo còn làm máu não tuần hoàn tốt hơn, khiến phản ứng và khả năng phán đoán của con người tăng lên đáng kể, rất có lợi cho việc phối hợp và điều hòa tác chiến. Đây cũng là nguyên nhân khiến rất nhiều vận động viên bóng rổ, bóng đá thích nhai kẹo cao su trong khi thi đấu. Còn cả hàng chữ cuối cùng nữa, cô Mẫn Mẫn có thấy không? Bên trong còn có RDX đã được xử lý khử hoạt tính nữa cơ đấy.”

Đường Mẫn bất giác khẽ thở hắt ra một hơi: “Chất nổ dẻo! Nhưng làm gì có kíp nổ chứ?”

Nhạc Dương nói: “Nhai kỹ xong lật ngược lớp giấy bọc bên ngoài gói lại, lúc ấy thì tuyệt đối không được để bất cứ vật gì đè lên nó nữa đâu.”

Đội trưởng Hồ Dương nghe mà ngẩn cả người ra: “Đây hình như không phải là thứ mà bộ đội đặc chủng cần sử dụng thì phải?”

Nhạc Dương gật đầu: “Chỉ có điệp viên mới sử dụng loại vũ khí bí mật kiểu thế này. Đến cả giấy gói cũng không lãng phí, sợ rằng những từ như ‘hiện đại, hoàn bị’ không đủ để hình dung về trang thiết bị của đối thủ của chúng ta rồi.”

Trương Lập nãy giờ vẫn quỳ một chân trước cái hòm lục lòi tìm kiếm rất kỹ càng và cẩn thận một thứ gì đó. Trác Mộc Cường Ba thấy vậy bèn hỏi: “Tìm cái gì đấy?”

Trương Lập đầm đìa mồ hôi đứng dậy, lắc đầu nói: “Thiết bị phát xạ tia laser. Thứ gì bọn chúng cũng chuẩn bị đầy đủ cả, duy chỉ có thiết bị phát tia laser là không có thôi, hình như đối thủ của chúng ta không định liên lạc với thế giới bên ngoài thì phải. Theo lý mà nói, bọn chúng từ trên cao nhảy dù xuống, nhất định phải biết ngoài tia laser ra thì chẳng có loại tín hiệu nào xuyên qua được màn mây mù trên đỉnh kia mới phải chứ nhỉ.”

Nhạc Dương liền nói: “Chuyện này đơn giản lắm mà. Đối thủ của chúng ta cũng sợ trong đám người của hắn có những thành phần bất thuần. Mà hắn còn sợ nơi này bị người khác phát hiện hơn chúng ta nhiều. Điều này hoàn toàn phù hợp với tác phong của Merkin thôi.”

Điều chỉnh lại một chút, rồi Trương Lập ném một bộ thiết bị thông tấn cho Nhạc Dương. Nhạc Dương bắt lấy đưa lên nhìn qua một cái, rồi đeo vào tai, kéo nửa miếng kính mắt có thể mở ra kéo vào che lên mắt phải, tai nghe nhét vào trong lỗ tai, microphone chĩa về phía khóe miệng, ngoài ra còn hai sợi dây kết nối với hệ thống dữ liệu số buông trên vai. Trương Lập lại đưa cho anh thêm một thiết bị trung chuyển tín hiệu cỡ bằng cái điện thoại di động. Nhạc Dương nhét thiết bị đó vào túi áo trước ngực, rồi gắn dây kết nối vào, đoạn ấn hai cái nút bố trí phía trên tai. Trên mảnh kính phía trước mắt anh lập tức xuất hiện vị trí của bảy bộ thiết bị thông tấn còn lại và khoảng cách của anh so với chúng, vì lúc này các bộ khác chưa bật, nên số liệu hiện lên đều bằng không. Nhạc Dương cũng không kìm được, đắc ý huýt sáo véo von. Bộ trang thiết bị này cứ như thể là được đặt làm riêng cho cánh lính trinh sát giống anh chàng vậy.

Nhìn Nhạc Dương điều chỉnh thiết bị một cách hết sức thành thạo, Lữ Cánh Nam chợt hỏi: “Hồi trước cậu dùng qua hệ thống này rồi à?”

Nhạc Dương lắc đầu: “Đâu ra cơ hội tiếp xúc với hàng xịn thế này chứ? Giáo quan, cô dùng bao giờ chưa?”

Lữ Cánh Nam lắc đầu, trong lòng thầm nhủ: “Chưa dùng bao giờ sao lại thành thạo vậy được?”

Trương Lập đứng bên cạnh bổ sung thêm: “Còn một bộ xử lý trung tâm nữa, đến lúc đó sẽ do một người đeo trên lưng, thông qua camera gắn bên cạnh mắt kính, bất cứ người nào trong chúng ta cũng có thể nhìn thấy cảnh tượng ở trước mắt người khác tại thời điểm đó. Ngoài ra còn có một radar siêu cao tần, nó sẽ cung cấp cho chúng ta dữ liệu về phạm vi hoạt động của các sinh vật sống cũng như quỹ đạo di động của chúng.”

Nhạc Dương nắm chặt hai tay trước ngực, kích động thốt lên: “Mặc kệ đây là bang hội tổ chức nào, tôi cũng yêu chúng đến chết đi được ấy! Mỗi người một cái ba lô, cứ như là được đặt làm riêng cho chúng ta ấy nhỉ.”

Trương Lập nói: “Ai bảo là vừa khéo chứ? Ở đây chỉ có tám cái ba lô, chúng ta lại có tận chín người, trừ phi có thêm...”

Nhạc Dương vội cướp lời: “Câm cái mõm chim lợn của anh vào!” Trương Lập giờ mới chợt ý thức được, hình như suýt chút nữa thì mình đã lại nói ra một câu xui xẻo.

Lữ Cánh Nam nói: “Đừng xúc động nữa, trời cũng không còn sớm đâu, dựng trại đi thôi. Đối thủ của chúng ta dùng túi ngủ, xem ra bọn chúng vẫn còn chưa tìm hiểu kỹ lưỡng về Shangri-la rồi, có lẽ đây là sơ xuất duy nhất của bọn chúng cũng nên.”

Những người còn lại phụ trách dựng trại trên vách đá, trạm radar cỡ nhỏ của Trương Lập cũng đã lắp ráp xong xuôi, rất nhỏ, nhưng tiện xách theo bên người. Để thử phạm vi quét của radar, Trương Lập bảo Nhạc Dương mang theo thiết bị thông tin đi lùi về phía sau. Còn Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam thì cùng bắt tay làm một ca phẫu thuật đơn giản để xử lý vết thương ở mông của Sean, loại bỏ các tổ chức mô bị hoại tử, dẫn lưu vết khâu... Lần này đã có thuốc tê nên Sean cũng không bị đau đớn quá. Chỉ có điều vết thương rất sâu, theo ý kiến của Mẫn Mẫn, Sean vốn không nên tiếp tục lên đường nữa, như vậy sẽ rất bất lợi cho vết thương, nhưng Sean vẫn cho rằng không vấn đề gì, chắc chắn sẽ không bị tụt lại phía sau.

Lúc này Trương Lập cũng đã có kết luận sơ bộ về phạm vi quét của radar, khoảng cách lớn nhất lên đến mười cây số, nếu ăng ten lắp trên cây, phạm vi quét thậm chí còn có thể lớn hơn nữa. Chỉ có điều, đây không phải loại radar có thể phát hiện vật thể sống mà Trương Lập tưởng tượng, chỉ là loại radar phát hiện vật thể di động bình thường, đồng thời chỉ có thể bắt được những tín hiệu di chuyển với tốc độ cao, nếu là vật thể đứng yên bất động hoặc chầm chậm di chuyển thì không thể nào phân biệt được với cây cối trong rừng.

Ngày hôm sau, cả bọn sắp xếp lại đồ đạc rồi tiếp tục tiến về phía trái. Giờ đây sự tự tin của họ đã tăng lên gấp bội. Được trang bị đến tận răng thế này, dẫu có gặp phải mấy con thằn lằn khổng lồ như lần trước vây công, bọn họ cũng thừa tự tin có thể tiêu diệt được hết. Bọn Trác Mộc Cường Ba vẫn tiếp tục men theo mép tầng bình đài thứ hai tiến lên. Vì không cần lo lắng về chuyện thức ăn nữa, nên ngoài những lúc lấy nước, họ gần như không cần thiết phải tiến sâu vào rừng, thành ra tốc độ nhanh hơn rất nhiều. Nhưng đồng thời, họ cũng nghĩ đến kẻ địch của mình. Cũng như họ, đối phương cũng không cần lo lắng về thức ăn, bởi thế hành trình mười ngày mà họ dự đoán ban đầu, áng chừng sẽ phải rút ngắn xuống chỉ còn khoảng năm đến bảy ngày mà thôi.

Hai ngày đầu không gặp nguy hiểm gì, thi thoảng mới có một hai con quái vật xông ra khỏi rừng, nhưng cũng bị họ tiêu diệt một cách dễ dàng. Sean vẫn còn có thể đầy hứng thú giới thiệu với mọi người đây là sinh vật thuộc giống gì, từ ngoại hình có thể nhìn ra được các đặc điểm gì, đó là động vật ăn thịt hay ăn cỏ, từ các cơ quan trên cơ thể có thể đoán được nó săn mồi như thế nào, vân vân...

Núi Tu Di

Trác Mộc Cường Ba dẫn theo đội của mình đơn độc tiến lên giữa chốn rừng rậm hoang dã đầy rẫy quái thú hoành hành nhưng chẳng có vết dấu gì của loài người ấy. Trên đường, họ quẳng lại sau lưng hết thảy những sợ hãi và mệt mỏi, tạm thời quên đi đau đớn và nỗi buồn, nói theo cách của Nhạc Dương, thì dù có bi thương đến mấy đằng nào cũng phải tiến lên phía trước, vậy cớ sao không vui vẻ mà đi cho rồi.

Điều đáng tiếc duy nhất trong hai ngày nay chính là vết thương ở mông Sean, chẳng những không có dấu hiệu thuyên giảm, mà ngược lại còn có xu hướng ngày một trầm trọng hơn. Về sau, cứ mỗi lần Sean chống cây gậy xuống, cả bọn đều nghe thấy anh ta khẽ rên lên một tiếng, xem chừng có vẻ đang gắng sức chịu đựng, nhưng mồ hôi trên trán thì vẫn túa ra không sao kìm được. Sau khi cùng chẩn đoán, Lữ Cánh Nam và Đường Mẫn đều cho rằng vết thương của Sean như vậy thì không thể tiếp tục tiến lên được nữa. Lúc ấy sắc mặt anh ta tái dại đi, mấy ngày này, anh ta vẫn luôn gắng gượng, cố hết sức không để tình trạng này xảy ra. Nhưng ngay sau đó, đề nghị của Trác Mộc Cường Ba đã hoàn toàn biến đổi nỗi lo của Sean. Gã đề nghị, liệu có nên làm cho Sean một cái cáng, rồi mọi người thay nhau cáng anh ta tiếp tục lên đường. Lữ Cánh Nam và pháp sư Á La đưa ánh mắt trao đổi giây lát, nhưng cuối cùng vẫn đồng ý, cho dù nghi ngờ Sean có mục đích gì đi nữa, thì anh ta cũng đã đạt được rồi. Bỏ Sean lại trong hoàn cảnh này, tốc độ tiến lên của họ rất có thể còn chậm hơn khi phải cáng anh ta theo, càng huống hồ họ cũng không có chứng cứ gì, nhất là đội ngũ này không thể cứ thế bỏ lại người bị thương rồi đi tiếp được.

Những ngày này, pháp sư Á La và đội trưởng Hồ Dương không lúc nào ngừng việc chỉnh lý sắp xếp cuốn Nhật ký thôn Công Bố và những quyển kinh văn còn sót lại, hy vọng có thể tiếp tục đào xới được thêm một số đầu mối có ích khác nữa. Những người khác sau khi hoàn thành việc của mình, có lúc cũng lại giúp họ một tay. Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam thì dành thời gian chăm sóc Sean nhiều hơn một chút, hễ làm xong công tác phòng ngự và trinh sát, Trương Lập và Nhạc Dương cũng chạy qua lăng xăng giúp đỡ hai cô.

Ban đầu mọi tư liệu đều được lưu vào máy tính, chỉ mình pháp sư Á La tiến hành phiên dịch và giải nghĩa, nhưng giờ đây, trong đống trang bị của bọn Merkin còn có cả thiết bị lưu trữ và đọc dữ liệu cỡ nhỏ, pháp sư có thể chia các tư liệu trong máy tính ra theo từng khoảng thời gian, chuyển vào thiết bị lưu trữ của từng thành viên trong đội, hiệu suất nghiên cứu Nhật ký thôn Công Bố liền tăng lên đáng kể.

Phần Nhật ký phân cho Trương Lập, hình như chỉ toàn ghi chép những chuyện vụn vặt lắt nhắt, chẳng hạn như năm nào tháng nào đi đến đâu, mang theo những thứ gì, đổi về những thứ gì. Mặc dù thế, anh cũng phát hiện được rất nhiều chữ lạ, không hiểu nghĩa là gì, bèn đi tìm pháp sư Á La để nhờ chỉ giáo.

Lúc Trương Lập đến chỗ pháp sư Á La, ông và đội trưởng Hồ Dương đang thảo luận rất sôi nổi, nói toàn những gì mà Lục đạo, hoa sen tám cánh, cung điện gì gì đó. Đột nhiên đội trưởng Hồ Dương hét lớn một tiếng, kích động tóm chặt tay pháp sư Á La kêu lên: “Pháp sư còn nhớ Đại Thiên Luân kinh miêu tả thế giới này được cấu thành như thế nào không? Đoạn ở ngay đầu tiên ấy!”

Pháp sư Á La cũng đánh mất vẻ bình tĩnh thường ngày, trợn trừng mắt lên nói: “Ý cậu là, đây không phải Shangri-la? Đúng thế, nó không giống với những gì được ký tải trong Đại Thiên Luân kinh, nó là cả một thế giới!”

Đội trưởng Hồ Dương nắm chặt tay đấm vào tảng nham thạch lớn bên cạnh mình, thốt lên: “Đúng là vậy rồi! Đúng là vậy rồi!”

Trương Lập chẳng hiểu gì, đần mặt ra hỏi: “Pháp sư, đội trưởng Hồ Dương, hai người đang nói gì vậy? Cái gì không phải là Shangri-la? Đúng vậy rồi là sao?”

Pháp sư Á La bèn giải thích: “Thực ra, khi nghiên cứu Nhật ký thôn Công Bố, chúng tôi đã phát hiện ra danh xưng họ gọi nơi này không phải Shangri-la chúng ta vẫn cứ nói, mà là một từ khác. Lẽ dĩ nhiên, chúng tôi cho rằng từ này chính là để chỉ Shangri-la, nhưng hôm nay, đội trưởng Hồ Dương đã xác định được từ nguyên của Shangri-la rồi. Dựa theo phần miêu tả trong Nhật ký thôn Công Bố này, Shangri-la chắc là nằm ở một nơi nào đó trên tầng bình đài thứ ba mới đúng.”

Trương Lập lắp bắp nói: “Cháu... cháu không hiểu, pháp sư Á La, cháu hồ đồ mất rồi. Nơi này, không phải Shangri-la? Shangri-la ở một nơi nào đó trên tầng bình đài thứ ba? Vậy thì... nơi này... nơi này là cái gì? Còn Mật quang Bảo giám mà chúng ta diễn dịch ra thì sao? Nó chỉ cái gì? Hay là chúng ta đã nhầm?”

Đội trưởng Hồ Dương bật cười khà khà, đưa tay vỗ lên lưng Trương Lập một cú rõ mạnh. Pháp sư Á La gật đầu nói: “Đây cũng chính là vấn đề chúng tôi vừa tranh luận khi nãy. Nếu nơi này, toàn bộ không gian ở bên trong khe nứt khổng lồ giữa lòng núi này, không phải là Shangri-la, mà Shangri-la chỉ là một phần trong nó mà thôi, vậy thì nơi này rốt cuộc là nơi nào đây? Đúng lúc cậu bước đến, thì tôi và đội trưởng Hồ Dương đã rút ra được một kết luận có thể nói là tương đối chuẩn xác rồi.”

Pháp sư Á La hướng ánh mắt về phía mép bình đài, chậm rãi nói: “Người bộ tộc Qua Ba cổ đại coi chốn này như một thế giới độc lập. Họ cho rằng, bất luận là băng qua U Minh hà hay vượt qua núi tuyết thần thánh thiêng liêng, thì cũng đều là những quá trình siêu thoát khỏi sự sống và cái chết. Đối với họ, toàn bộ không gian bên trong khu khe nứt này chính là một thế giới hoàn toàn mới, nơi đây chính là toàn thế giới, toàn vũ trụ; quả núi có ba tầng bình đài hình chóp ngược này, chính là núi Tu Di.

Trương Lập vẫn chưa hiểu, đội trưởng Hồ Dương bèn giải thích thêm: “Cậu còn nhớ Đại Thiên Luân kinh miêu tả vũ trụ cấu thành như thế nào không? Thế giới vật chất do Tứ luân: địa, thủy, hỏa, phong tạo nên. Phong luân ở chốn hư không, bên trong là Hỏa luân do nó nâng đỡ, có bảy tầng, tầng thứ bảy gọi là Kim Cương sơn hay Danh Mã Diện Hỏa sơn; bên trong ngọn núi lửa ấy là Thủy luân, cũng có bảy tầng, tầng thứ bảy được gọi là Diêm Hải; bên trong nó là Địa luân, trung tâm của Địa luân chính là núi Tu Di, trên dưới núi Tu Di có những vòng vây quanh, dạng như cái đĩa đồng úp ngược ra phía bên ngoài, tầng dưới cùng nhỏ nhất, càng lên trên càng lớn dần, thực chất chính là một hình chóp nón trên lớn dưới nhỏ úp ngược. Cậu nghĩ lại những gì chúng ta đã trải qua khi tìm đến được nơi này mà xem, bên ngoài núi tuyết là gió thốc cuồng loạn, lại còn cả biển ngầm và kết cấu thông đạo của U Minh hà nữa, đều là do núi lửa cổ đại tạo thành, dung nham núi lửa đã hình thành nên biển ngầm, mà bình đài ba tầng hình chóp ngược chân nhỏ đầu to này chính là ở giữa biển ấy. Từ đầu đến giờ, chúng ta không hề liên hệ gì giữa kết cấu hình chóp ngược này và núi Tu Di cả, giờ nghĩ lại mới thấy, ba tầng bình đài mà chúng ta đang leo lên đây, đích thực chính là núi Tu Di rồi!”

Trương Lập ngạc nhiên thốt: “Đây... đây là núi Tu Di? Thế còn Shangri-la đâu? Mật quang Bảo giám không phải chỉ đường đến Shangri-la hay sao?”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Theo tôi nghĩ, trước đây chúng ta đã hiểu lầm rồi. Trong Mật quang Bảo giám, vệt chỉ đường ẩn tàng ấy không phải chỉ đường cho chúng ta đến Bạc Ba La thần miếu, mà là đến Shangri-la. Shangri-la, chỉ là một phần trong thế giới Tu Di này mà thôi. Người đời muốn tìm kiếm Shangri-la ở thế giới bên ngoài kia là chuyện không thể nào thực hiện được, bởi vì Shangri- la, Shangri-la ở bên trong thế giới này, đây... đây là một thế giới hoàn toàn khác với thế giới bên ngoài. Cậu nhìn đây đi...” Đội trưởng Hồ Dương chỉ vào máy tính, nói với Trương Lập: “Những người dân trong thôn Công Bố ở tầng thấp nhất này tự nhận rằng ngôi làng của họ tọa lạc ở miền giáp ranh giữa Thánh vực và Phiên vực, đây cũng là những gì được miêu tả về thế giới Tu Di trong Đại Thiên Luân kinh. Dọc theo chân núi Tu Di chia ra làm bốn góc vuông, mỗi góc là một châu, mỗi châu lại chia thành ba khu Đông, Trung, Tây. Cách lý giải thông thường về Đại Thiên Luân kinh cho rằng, phàm nhân như chúng ta cư trú ở nửa vùng phía Bắc khu Trung của châu phía Nam, vùng này lại được chia làm sáu khu vực nhỏ, từ Bắc đến Nam lần lượt là Tuyết sơn tụ, Shangri-la, Hán vực, Lê vực, Phiên vực, Thánh vực. Các nhà nghiên cứu cho rằng, Phật giáo được truyền vào từ Ấn Độ, vì vậy Thánh vực để chỉ Ấn Độ, Phiên vực là chỉ Tây Tạng, Lê vực đại khái chắc là vùng Tân Cương, Tuyết sơn tụ chắc là vùng cực Bắc của Đại Lục, còn Shangri-la rốt cuộc là ở đâu thì vẫn chưa có kết luận nào rõ ràng. Ngoài ra còn rất nhiều luận định nhất trí cho rằng núi Tu Di mà người xưa nói, kỳ thực chính là chỉ Hy Mã Lạp Sơn, ai có thể ngờ được... ai có thể ngờ được! Thì ra núi Tu Di lại là núi ở bên trong núi!”

Trương Lập hoàn toàn đắm chìm vào cảm giác chấn động pha lẫn kinh hãi, núi Tu Di, Shangri-la, những danh từ trong truyền thuyết ấy cứ luân phiên xuất hiện trở đi trở lại trong đầu anh. Pháp sư Á La giật lấy chiếc máy tính, nói: “Chúng ta vẫn còn phải đọc thêm nhiều tư liệu nữa, để xem có thể kết hợp với hình vẽ trên gương đồng mà vẽ ra một tấm bản đồ cụ thể và tỉ mỉ của núi Tu Di hay không. À, đúng rồi, Trương Lập, cậu tìm tôi có việc gì đấy?”

Trương Lập giật mình sực nhớ ra, vội nói: “À, vâng, pháp sư, ở đây có một số phần cháu không hiểu nghĩa lắm, muốn nhờ ông xem giúp.” Nói đoạn, anh liền chuyển phần tư liệu mình được chia cho vào máy tính.

Pháp sư Á La nhìn lướt qua tư liệu, “ồ” lên một tiếng, nói: “Trong này có rất nhiều từ ngữ tu sức, chẳng trách cậu lại không hiểu. Ừm...” Vừa đưa mắt đọc, pháp sư Á La vừa mỉm cười hiền hòa. Trương Lập đứng bên cạnh cuống cuồng hỏi: “Sao rồi ạ? Pháp sư, trong đó viết gì vậy?”

Pháp sư Á La giải thích: “Đây chắc là một dạng kiểu như du ký do người phụ trách ghi chép Nhật ký của thôn làng viết ra, miêu tả lại những nơi bản thân từng đi qua và những gì mắt thấy tai nghe. Ừm, thời gian này... tính theo lịch pháp Thiên Luân...” Pháp sư Á La gõ mạnh lên bàn phím máy tính, kích động nói: “Trong những tư liệu chúng ta phát hiện được, đoạn ghi chép này có lẽ khá gần với thời gian thôn Công Bố xảy ra thảm họa diệt tộc, phải nghiên cứu cho kỹ vào. Trương Lập, cậu chú ý tìm lại coi, trong phần tư liệu cậu được phân cho đó có đoạn nào tương tự như như vậy nữa không, cứ tìm hết loạt ra. Rất có thể, chúng ta sẽ tìm được trong đó nguyên nhân thôn Công Bố bị đồ sát cũng nên đấy.”

Trương Lập gật đầu nói: “Vâng ạ. Thế đoạn ấy rốt cuộc là viết gì thế ạ? Cháu chỉ biết trong ấy có một tên người, hình như tên là A Mễ hay gì đó, phải không ạ?”

“Mã Cát A Mễ, cái tên đẹp thật!” pháp sư Á La chậm rãi nói. “Xem chừng, người ghi chép của thôn Công Bố này rất để ý tới cô bé đó, mỗi lần nhắc đến Mã Cát A Mễ, đều dùng khá nhiều từ tu sức.”

Nghe pháp sư Á La nói thế, cả đội trưởng Hồ Dương cũng thấy tò mò, Trương Lập lại càng nôn nóng thúc giục: “Pháp sư đọc lên nghe thử xem thế nào đi, đọc thử đi ạ.”

Pháp sư Á La chuẩn bị một chút, rồi chầm chậm đọc thành tiếng bằng chất giọng thấp trầm: “Đêm nay, vầng trăng đã lâu rồi không xuất hiện chiếu rọi khắp muôn nơi, tiếng lá cây xào xạc tấu lên một khúc nhạc tuyệt mỹ dưới ánh trăng vàng, bóng trăng loang lổ, tinh tú chuyển dời, ánh trăng chiếu xuyên qua tán cây rậm rạp rải xuống thảm cỏ màu bích lục, trên mặt đất tựa như có dòng sông sao đang chảy. Ta đầu đội ánh sao, chân bước qua dòng sông sao, đón ngọn gió nhè nhẹ mát lành tiến về phía trước, cảnh đêm đẹp tuyệt trần ấy làm ta quên đi cả thời gian và mệt mỏi. Dần dần, bóng trăng ngả về Tây, phía góc trời đã thấy có ánh sáng, tia nắng đầu tiên của ban mai chiếu qua màn sương mờ vẫn chưa khép hẳn lại phủ lên khu rừng, sương sớm ngưng kết thành vô vàn tinh linh bé nhỏ, những hạt sương run rẩy nghịch ngợm lượn tròn trên đám lá xanh mơn mởn mới nhú, trong khu rừng tĩnh lặng truyền lại tiếng chim trong trẻo véo von, dòng suối hân hoan khẽ cất tiếng ngâm nga, chúng chảy từ núi tuyết xuống, xuyên qua Thánh vực. Đã lâu lắm lâu lắm rồi ta không tìm đến Thánh vực tĩnh lặng thanh bình này nữa. Hôm nay đã được định sẵn là một buổi ban mai không bình phàm, ta bước lên thảm cỏ xốp mềm, tựa hồ như trong cõi vô minh có một thứ lực lượng đang chỉ dẫn ta tìm kiếm gì đó, ta cũng không biết đó là gì, cho tới khi thấy bóng hình yêu kiều mong manh đó. Một thiếu nữ đi nhặt quả phỉ, nàng quỳ một chân trên bãi cỏ, xoay lưng hướng về phía ta, bên cạnh có một chiếc giỏ trúc nhỏ, nàng rất chăm chú, hoàn toàn không biết ta đang tiến lại gần. Nếu nói thần Tự nhiên khẳng khái đã trải ra trước mắt ta một bức tranh diễm lệ, vậy thì, chẳng nghi ngờ gì nữa, cô bé đó chính là trung tâm của bức tranh ấy, nàng hòa lẫn với khu rừng thành một thể hài hòa thống nhất, cảm giác như sự tồn tại của ta chỉ là dư thừa. Khi nàng ngoảnh đầu lại nhìn, ta lấy làm kinh ngạc trước vẻ đẹp đó, rồi bỗng bàng hoàng hiểu ra, thì ra ánh nắng mai như mộng cảnh này, chính là để tôn lên vẻ đẹp ấy! Trên gương mặt thanh nhã non tơ đó, ta có thể nhìn thấy dung nhan tuyệt thế của nàng sau này, trong đôi mắt nàng, ta càng có thể thấy cả khu rừng mênh mông. Một sắc xanh tràn ngập, thậm chí cả trái tim già nua mệt mỏi này của ta, cũng vì thế mà được rót tràn trề một sức sống mới...”

Trương Lập và đội trưởng Hồ Dương tựa như đang nghe một đoạn tản văn tuyệt mỹ, tâm thần say sưa chìm đắm, thấy pháp sư Á La ngừng lại, cả hai không hẹn mà đồng thanh hỏi: “Hết rồi à?”

Pháp sư Á La mỉm cười, tiếp tục đọc: “Ta khâm phục sự dũng cảm của nàng. Chắc mới chỉ khoảng bảy tám tuổi thôi, vậy mà đã dám một mình vào chốn rừng sâu này nhặt quả phỉ, lẽ nào nàng không biết, bất cứ loài động vật nào ở đây, bất cứ một cây rừng nào ở chốn này, cũng có thể đưa nàng vào chỗ chết? Đối mặt với một kẻ lạ mặt đi ra từ trong rừng sâu như ta, nàng cũng không hề có vẻ sợ hãi hay hoảng hốt gì, ngược lại còn nở một nụ cười ngọt ngào. Nụ cười ấy như thế nào nhỉ, trong những năm tháng đầy rẫy khổ đau này, nụ cười ấy đủ sức mạnh để xua tan tất thảy mọi bi thương và tang tóc. Ta cũng thấy yên tâm phần nào, một thiếu nữ có nụ cười như thế, chắc hẳn sẽ được chư thần bảo hộ, dẫu là đám người Lỗ Mạc hung mãnh nhất, nhìn thấy nụ cười đó, chắc cũng không nhẫn tâm mà ra tay với nàng đâu. Cô bé ấy là... là một tinh linh có nụ cười của Thiên sứ.”

“Thiên sứ?” Trương Lập tròn mắt nhìn pháp sư Á La.

Pháp sư Á La nói: “Tôi chỉ cố để dịch sao cho các cậu có thể hiểu được.” Đội trưởng Hồ Dương vừa ra hiệu cho pháp sư Á La tiếp tục đọc, vừa lừ mắt lườm Trương Lập, tựa như đang trách anh chàng phá thối, ngắt lời pháp sư Á La.

“Bởi một cảm giác thân cận hết sức tự nhiên, ta lại gần nàng, cùng nàng trò chuyện. Thiếu nữ ấy nói với ta, nàng tên là Mã Cát, Mã Cát A Mễ, một cái tên đẹp đến độ khiến người ta đắm say ngây ngất. Năm nay nàng tám tuổi, đang sống chung với bà nội ở thôn Công Nhã Lạp gần đây, bà nàng không được khỏe, nên Mã Cát đi nhặt quả phỉ về cho bà ăn. Được Mã Cát mời, chúng ta cùng nhặt quả, hái hoa, kết vòng cỏ, chơi đùa. Sự ngây thơ thuần khiết của nàng khiến ta quên đi cả tuổi tác của mình, tựa hồ lại trở về với những năm tháng vô ưu vô lự thuở ấu thơ. Buổi sớm hôm ấy khiến ta trọn đời cũng khó thể nào quên. Bởi vì vui, cho nên vui, cảm giác vui vẻ đơn thuần ấy, khiến ta hồi tưởng lại được niềm vui thích thật sự. Điều khiến ta kinh ngạc nhất là, từ lời kể của Mã Cát, ta biết được rằng cha mẹ nàng đã chết trong chiến tranh, nàng và người anh trai hơn hai tuổi xưa nay vẫn quấn quýt nương tựa lẫn nhau cách đây không lâu cũng bị ly tán trong nạn đói. Nhưng ở thiếu nữ này, ta chỉ nhìn thấy niềm hoan lạc và sự kiên định. Niềm vui của nàng khiến từng ngọn cỏ cành cây xung quanh cũng thấm đẫm vẻ hân hoan thích thú. Thiếu nữ ấy nói với ta bằng giọng khẳng định chắc nịch, bà nàng nhất định sẽ khỏe lại, chiến tranh nhất định sẽ kết thúc, anh trai nàng nhất định sẽ trở về đón nàng rời khỏi nơi đây, họ sẽ ra thế giới bên ngoài kia, họ đã ước định như vậy rồi! Họ sẽ cùng đi tìm kiếm miền tịnh thổ không có chiến tranh loạn lạc trong truyền thuyết ấy, thế giới bên ngoài rộng lớn vô hạn, nhất định sẽ có một vùng thánh địa thanh bình, nàng muốn tất cả mọi người, đều sống bên nhau thật tình tương thân tương ái. Khi Mã Cát nói những lời ấy, vẻ nghiêm túc trên gương mặt nàng khiến tim ta rung lên. Thật hổ thẹn thay, Địch ô của thôn Công Bố như ta, mà lại không có được đảm thức và sự giác ngộ ấy. Một lần nữa, ta lại kinh ngạc trước sự kiên định và chấp niệm của nàng, trước đôi bờ vai nhỏ nhắn non tơ ấy...” Pháp sư Á La đọc tới đoạn cuối cùng, nhíu mày nói: “Chiến tranh? Trong các đoạn Nhật ký trước đây chúng ta đọc được, hình như không có nhắc đến chiến tranh. Thử tìm kỹ lại xem, có khi lại có quan hệ trực tiếp với sự diệt vong của thôn Công Bố cũng nên đấy.”

Trương Lập vẫn đứng im bất động, trong óc anh đã phác ra một cô bé với nụ cười tươi tắn thuần khiết, tay cầm chiếc giỏ trúc, chăm chú nhặt quả phỉ trong cánh rừng u tịnh. Sương sớm, dòng suối nhỏ, thảm cỏ xốp mềm, vài tia nắng chiếu qua cây, cảnh tượng đó hẳn phải đẹp vô cùng!

Câu chuyện của A Mễ

Sau đó họ lại đi thêm hai ngày nữa. Trong hai ngày này, người nhàn nhã nhất chính là Sean, vì vết thương ở chỗ nhạy cảm nên anh ta được ung dung thoải mái nằm sấp trên cáng, ngày ngày chỉ có mỗi việc đọc tài liệu trong máy tính của giáo sư Phương Tân, bổ sung thêm kiến thức về các loài sinh vật khổng lồ thời tiền sử, nên giờ đây đã có thể phán đoán được tập tính sinh hoạt của các loại quái thú ở đây một cách chính xác hơn nhiều rồi.

Có điều, sự nhàn nhã của Sean được xây dựng trên cơ sở sự bận bịu của bốn người, Ba Tang, đội trưởng Hồ Dương, Trác Mộc Cường Ba và pháp sư Á La - bốn người này phải thay nhau khiêng cáng. Ba người còn lại không nói gì, chỉ có Ba Tang là rất nghi ngờ về vết thương của Sean. Đầu óc Sean vẫn tỉnh táo, vết thương cũng không hề có chiều hướng nhiễm trùng nặng hơn, tại sao lâu như vậy vẫn không đỡ chút nào? Ít nhất anh ta cũng phải tự đi được vài bước mới phải. Có điều lần nào thay thuốc cũng thấy Lữ Cánh Nam và Đường Mẫn nhíu chặt đôi hàng lông mày, lần nào cũng dẫn lưu được nhiều dịch như cũ, nhưng nếu bảo là vết thương bị nhiễm trùng, thì cơ thể Sean lại cũng không xuất hiện bất cứ triệu chứng nào khác. Đối với trường hợp này, bọn họ cũng không thể nào giải thích nổi, các loại thuốc tiêu viêm, kháng sinh có thể dùng được đều đã dùng hết cả rồi, lẽ nào cả vi khuẩn ở Shangri-la này cũng khác với thế giới bên ngoài hay sao? Nhưng Trác Mộc Cường Ba cũng bị thương y như vậy, tại sao Trác Mộc Cường Ba không sao? Vết thương của gã về cơ bản đã khỏi hẳn, sẹo cũng liền lại rồi.

Nhưng chẳng phải Ba Tang quan tâm đến tình trạng sức khỏe của Sean, điều anh ta lo lắng là, Sean chẳng những không chia sẻ một phần việc vác đồ, ngược lại còn tăng thêm trọng lượng cho những người còn lại, khiến tốc độ hành trình của cả nhóm giảm xuống đáng kể, cứ tiếp tục thế này sớm muộn gì cũng bị đám phần tử vũ trang đằng sau kia đuổi kịp. Nếu là đội trước đây của anh ta, những thành viên như tay Sean này đã sớm phải rời khỏi đội ngũ, một mình tự sinh tự diệt trong rừng sâu rồi, còn nếu như gặp tình trạng quá sức đau đớn không thể sinh tồn được, thì những thành viên khác trong đội sẽ hoàn toàn không chút do dự giúp người bị thương giải thoát.

Mỗi lần nhìn thấy ánh mắt băng lạnh đầy sát khí của Ba Tang, Sean cũng không khỏi có chút áy náy, đương nhiên anh ta cũng biết hiện giờ mình đang là gánh nặng của cả đội, có điều lần “tiếp xúc thân mật” với con muỗi khổng lồ ấy có lẽ đã thương tổn đến thần kinh hay xương mông gì đó, cứ hễ đặt một chân xuống đất là lại đau đến thấu tim, mà anh ta thì cũng tuyệt đối không thể hy sinh bản thân vì nhóm người này được.

Trong thời gian nghỉ ngơi của hai ngày này, với sự cố gắng không mệt mỏi của mình, cuối cùng Trương Lập đã phát hiện được thêm hai đoạn ghi chép nữa có nhắc đến Mã Cát, pháp sư Á La đã dịch lại cho anh thành một đoạn văn đầy thi vị...

“Ngọn lửa chiến tranh, mặc dầu đã dần dần lắng xuống, nhưng mỗi lẫn nhìn thấy những gương mặt trẻ thơ vô tội, cùng những cặp mắt oán hận ấy, ta lại biết rằng, dấu ấn thù hận đã hằn sâu, bên dưới sự bình lặng bề ngoài ấy là sóng ngầm đang cuồn cuộn trào dâng. Ta thật không hiểu nổi, những kẻ sống ở phía trên kia nghĩ thế nào. Sự cân bằng thế lực giữa hai vương quốc lớn đã giữ được hơn trăm năm, phá vỡ thế cân bằng ấy, chắc chắn sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng khủng khiếp, bọn họ hẳn cũng hiểu rõ đạo lý ấy chứ! Thật đáng tiếc, chúng ta không thể nào trở lại trên ấy nữa, xem ra, mãi mãi ta cũng không thể nào biết được chân tướng sự thực.

Có điều, khi đi qua thôn Công Nhã Lạp, ta đã thấy một cảnh tượng khiến mình thật sự cảm động, một đám trẻ con tầm sáu bảy tuổi, quần áo rách rưới vây quanh một cô bé khoảng mười tuổi, ríu ra ríu rít, tiếng cười hân hoan vang lên không ngớt. Dường như chúng đã quên đi nỗi đau do ngọn lửa chiến tranh mang tới. Trong khoảnh khắc ấy, ở chúng toát lên vẻ thuần chân mà những đứa trẻ nên có, thật hài hòa với cỏ xanh mầm biếc nơi đây. Ta bất giác dừng ngựa đứng từ xa nhìn, không phải cố ý, nhưng bất chợt nghe thấy lũ trẻ ấy báo cáo với thiếu nữ đang quay lưng về phía ta bằng chất giọng non nớt trong trẻo.

“Chị Mã Cát, em giúp chú Lạp Cát tìm được cái chổi trong nhà, chú ấy khen em cẩn thận đấy nhé...”

“Chị Mã Cát, em giặt sạch khăn giúp a ma, a ma còn khen em rất giỏi giang nữa cơ...”

“Chị Mã Cát, chị Mã Cát... chú dê nhỏ nhà em bị thương ở chân, em băng bó cho nó rồi, nó còn liếm tay em nữa nhé...”

“Cả em nữa, cả em nữa, em tưới cây cho vườn quả của a ba, a ba bảo em đã lớn rồi...”

...

Những lời báo cáo hân hoan ấy, cùng với tiếng cười ngân nga như tiếng chuông bạc như mưa xuân tưới đẫm lên linh hồn của kẻ đang lắng nghe là ta đây. Tựa hồ lần đầu tiên ta biết được, thì ra, niềm vui còn có thể hưởng thụ được theo cách như thế. Lũ trẻ tranh nhau nói ra những điều khiến mình vui vẻ, những điều mình tự hào, bất giác, đã làm nhạt đi cảm giác đau đớn, quên đi cả đói khát và nỗi sợ, những gương mặt non nớt ngây thơ càng tôn thêm vẻ đẹp của nụ cười. Cô bé gái lớn hơn một chút ấy, tay xách một giỏ trúc nhỏ, chừng như đang phát phần thưởng cho lũ bé hơn. Ta có cảm giác, bóng lưng ấy sao mà quen thuộc thế, cả cái tên Mã Cát cũng cứ vương vấn mãi trong lòng. Khi nàng quay người lại, gương mặt tươi cười khiến người ta có cảm giác như được tắm trong gió xuân, khiến lòng người thấy ngọt ngào như có dòng suối mát chảy qua, chính là nàng... trong tâm trí ta lập tức hiện lên bóng hình nhỏ nhắn mong manh ấy, Mã Cát A Mễ. Cùng với năm tháng, Mã Cát càng ngày càng thêm xinh đẹp, bất cứ ai nhìn thấy nụ cười thanh bình của nàng, cũng đều mang một hồi ức cả đời khó quên.

Mã Cát đã không nhận ra ta nữa, nhưng nụ cười của nàng vẫn không hề thay đổi, đôi mắt trong suốt của nàng cũng không thay đổi. Bước lại gần, ta ngạc nhiên phát hiện ra, chiếc giỏ trúc nhỏ của Mã Cát, chứa đầy các loại hạt giống, hạt cỏ, hạt quả, hạt ngũ cốc. Còn lũ trẻ nhỏ hơn kia, thì nâng niu những hạt giống ấy trên tay như báu vật, nét mặt lộ ra vẻ dương dương đắc ý. Ta tò mò hỏi xem cả bọn đang chơi trò gì. Mã Cát bèn khẽ nói với ta rằng, lũ trẻ ấy đã phải chịu nhiều đau khổ trong chiến tranh, đứa thì mất người thân, đứa thì thành tàn phế, cặp mắt chúng đã phủ lên sắc màu u ám, nếu không có người nào giúp đỡ chúng, trái tim chúng sẽ như tảng băng ngàn vạn năm không tan trên cao nguyên tuyết phủ. Nhìn những đứa trẻ mất đi nụ cười hoan hỉ của tuổi thơ ấy, Mã Cát liền nghĩ đến bản thân mình. Nàng hy vọng những đứa trẻ mồ côi bị chiến tranh giày vò ấy có thể tìm được hạnh phúc trong bất hạnh; nàng hy vọng nỗi đau mà nàng từng phải chịu đựng, từng phải nếm trải, không còn giáng xuống đầu những đứa trẻ khác nữa. Vì vậy, nàng đã nhặt rất nhiều hạt giống, và nói với chúng, mỗi ngày chúng có thể mang những điều khiến mình vui vẻ, những điều khiến mọi người vui vẻ đến đây đổi lấy một hạt giống hạnh phúc. Mang những hạt giống ấy trồng xuống đất, rồi dùng trái tim yêu thương tưới tắm, dùng niềm vui để chăm sóc, hạt giống sẽ nảy ra những mầm xanh hạnh phúc, mầm sẽ lớn lên, đơm hoa kết thành những trái hy vọng. Như thế, mỗi ngày lũ trẻ đều đi thu thập niềm vui, bọn chúng sẽ quên đi những điều bất hạnh.

Nhìn nụ cười thuần khiết vô tà của Mã Cát, ta bất giác rung động cả cõi lòng. Rốt cuộc nàng là người như thế nào? Chỉ với một hạt giống bé nhỏ đã có thể khiến lũ trẻ ấy quên đi nỗi đau đi thu nhặt niềm vui. Nàng đã gieo trồng những hạt giống hạnh phúc vào lòng lũ trẻ ấy. Chữa lành vết thương do chiến loạn gây ra là việc ta đã vắt óc nghĩ suy cũng không thể nào làm nổi, vậy mà nàng đã làm được. Nàng mới chỉ là một thiếu nữ mười tuổi. Sau khi vào thôn Công Nhã Lạp, ta nghe được một tin đau lòng: nửa năm trước, bà của Mã Cát đã qua đời. Cô bé vừa nãy mang đầy một giỏ hạnh phúc phân phát cho đám trẻ đã phải một mình gánh vác cuộc sống rồi hay sao? Khi nhìn thấy vẻ kính ngưỡng và sùng bái trong mắt lũ trẻ ấy, ta càng có niềm tin rằng, thiên sứ bé nhỏ ấy, chính là Độ Mẫu trên trời chuyển thế đến nơi đây cứu vớt những linh hồn bị thương tổn vì chiến loạn như chúng ta đây.

...

Lúc trở về, khi đi qua thôn Công Nhã Lạp, Địch ô Lạp Tố mời ta cùng đón tết Vọng Quả, ta lại nhớ đến cô thiếu nữ ấy. Mã Cát giờ chắc đã mười hai tuổi rồi. Khi ngọn lửa cháy lên, ta liền thấy nàng. Giờ nàng đã trổ mã, càng thêm duyên dáng thướt tha. Mã Cát nhảy múa quanh đống lửa, vạt váy tung bay, ngọn lửa cũng lay động hòa theo nhịp múa của nàng, mặt đất cũng đang rung lên theo nhịp chân nàng, nụ cười toát ra từ trong ánh mắt nàng...

Khác với Trương Lập chỉ chăm chú lắng nghe những dòng văn đẹp đẽ ấy, pháp sư Á La và đội trưởng Hồ Dương để tâm hơn đến các thông tin ẩn chứa đằng sau những ghi chép dạng như du ký cá nhân hay tùy bút đó, giờ họ đã hiểu được đại khái, nơi này chắc là một vùng đất cách biệt với thế giới bên ngoài ở trong dãy núi tuyết, cực kỳ khó ra vào. Nếu các loại truyền thuyết cũng có thể coi như lịch sử, vậy thì cách đây khoảng mười nghìn năm, đã lần lượt có các dân tộc thiên di đến đây để tránh chiến loạn hoặc nạn đói. Những dân cư nguyên thủy ở đây thống nhất gọi cả ba tầng bình đài là Thánh vực, hoặc cũng có thể mấy nghìn năm trước họ đã từng có một mô thức thống nhất, nhưng về sau đã lại bị phân tán ra; từ sau khi người Qua Ba đến đây, họ bèn gọi nơi này là núi thánh Tu Di, còn một nơi nào đó trên tầng bình đài thứ ba, sau khi được người Qua Ba xây dựng kiến tạo, đã được đặt tên là Shangri-la, là nơi được kiến tạo giống như trong truyền thuyết, không có chiến tranh, không có đói khát, cơ hồ mọi thứ đều có thể tự động hoàn thành.

Sở dĩ họ cho rằng trước đây đã từng xuất hiện một mô thức thống nhất, là vì trong các phần ghi chép tản mạn, sự phân bố quyền lực trong các bộ lạc có nét tương đồng rất lớn, giống như bộ lạc người Kukuer ở rừng rậm châu Mỹ, quyền lực được chia thành thần quyền và vương quyền, người đại biểu cho thần quyền gọi là Địch ô. Pháp sư Á La giải thích, Địch ô là một dạng thầy mo có thể trực tiếp đối thoại với thần linh, có thể đoán biết tương lai, đồng thời cũng sở hữu năng lực tiêu trừ khổ bệnh hoặc giáng tai họa trong Bản giáo cổ đại. Trong các bộ tộc ở tầng bình đài thứ hai này, địa vị của Địch ô đã được nâng lên đến gần bằng hoặc có thể nói là ngang với vương quyền, mỗi bộ lạc đều có một Địch ô, chức trách của họ giống như trưởng thôn, cũng đồng thời là thầy lang của thôn làng ấy, trong chiến tranh lại có tác dụng như Thiên khí chú sư, hoặc Cổ độc sư, Thao thú sư...

Trong những ghi chép dạng hồi ức ấy, còn một điểm cực kỳ quan trọng... chiến tranh. Nhật ký thôn Công Bố dường như không hề nhắc đến chiến tranh, có thể là ngọn lửa chiến tranh không bao giờ lan đến thôn Công Bố ở tận tầng bình đài thứ nhất, cũng có thể là người phụ trách việc ghi chép của thôn Công Bố rất kín kẽ đối với vấn đề chiến tranh, nên sự việc vốn trọng đại hơn thiên tai, tế lễ gấp bội phần này không hề xuất hiện trong các bản ghi Nhật ký lấy một lần.

Từ những đoạn ghi chép hồi ức, trải nghiệm của những người thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, có thể thấy rằng, nơi này không chỉ từng bùng nổ một trận chiến, mà cứ cách chừng mấy chục năm lại nổ ra một trận. Người Qua Ba khi mới đặt chân đến đây cũng không được thuận buồm xuôi gió, mà đã từng nảy sinh vô số xung đột lớn nhỏ với những dân tộc sống ở đây từ trước, cuối cùng mới xác lập được địa vị của mình. Trong một bản chép tay cổ xưa nhất, có nhắc đến một cuộc chiến tranh gian khổ nhất kể từ sau khi bộ tộc Qua Ba đến núi thánh Tu Di, ở trên tầng cao nhất, họ giằng co bất phân thắng bại với một bộ tộc nào đó.

Phần nội dung này Nhạc Dương phát hiện ra, anh rất ngạc nhiên vì trong phần tư liệu do những người khác phụ trách, chiến tranh chỉ được nhắc đến hết sức qua loa đại khái. Xét cho cùng ở thời đại đó, thế lực có thể đối kháng ngang hàng với Đạo quân Ánh sáng gần như không tồn tại, bộ lạc có thể buộc Đạo quân Ánh sáng phải huyết chiến nhiều ngày, ắt hẳn cũng tương đối lớn mạnh chứ chẳng chơi.

Nhạc Dương đưa phần tư liệu ấy cho pháp sư Á La. Pháp sư vừa nhìn thấy tên bộ lạc đó, liền bất giác biến sắc thốt lên: “Mã Tang!”

Nhạc Dương vội hỏi: “Đây là bộ lạc gì vậy ạ?”

Pháp sư Á La giải thích: “Mã Tang là một bộ lạc trong truyền thuyết. Tương truyền rằng, trước khi Thổ Phồn thống nhất cao nguyên Thanh Tạng, nơi đây đã từng trải qua mười mấy vương triều khác nhau, Mã Tang chính là một trong số đó. Thời kỳ thống trị của bộ tộc này có lẽ còn trước cả vương triều Tượng Hùng, chắc là cùng thời kỳ với triều nhà Thương ở Trung Nguyên. Nhưng đồng thời, Mã Tang cũng là một loại ma vật có sức mạnh vô song trong Bản giáo cổ xưa, về sau khi dung hợp với Phật giáo, Mã Tang được đổi thành Dạ Xoa và gọi như vậy cho đến ngày nay! Ngoài ra, trong các truyền thuyết thần thoại xa xưa, còn một câu chuyện rất nổi tiếng về Mã Tang nữa.”

Gần đây, Trương Lập trở nên cực kỳ mẫn cảm với các loại thần thoại truyền thuyết, vội vàng ngó đầu vào hỏi: “Thật không ạ? Truyền thuyết gì thế?”

Pháp sư Á La bèn kể vắn tắt: “Là một truyền thuyết khác về nguồn gốc của người Tạng. Trong câu chuyện ấy, tổ tiên của chúng ta từ đầu đã ở trên cao nguyên rồi. Họ sống trong những hang động nằm lưng chừng núi, còn được gọi là người ở hang đá; còn ở nơi cao hơn nữa trên núi tuyết, thì có người núi tuyết sinh tồn, tên của họ chính là Mã Tang. Vì vậy Mã Tang còn có thể gọi là người núi tuyết. Trong truyền thuyết, người Mã Tang cao lớn hơn chúng ta, bên ngoài cơ thể mọc một lớp lông tóc dày, tay dài chân rộng, có thể bước đi như bay trên núi tuyết. Thời viễn cổ xa xưa, người núi tuyết thường xuống núi ức hiếp người ở hang đá. Người ở hang đá phản kháng, nhưng vì sức khỏe không bằng đối phương nên vẫn luôn bị người núi tuyết chèn ép áp bức. Về sau, vì muốn sinh tồn, người ở hang đá đã đến cầu xin mẹ của các thần Sa Đô Ngải Tang. Vậy là, trong một trận quyết chiến giữa người núi tuyết và người ở hang đá, thần Mẫu đã giúp đỡ người ở hang đá, biến vũ khí trong tay họ thành những tảng đá khổng lồ, còn vũ khí của người núi tuyết bị biến thành những quả cầu tuyết. Cuối cùng, người ở hang đã dùng những tảng đá ấy đuổi người núi tuyết sang tận phía bên kia núi, rồi từ đó vui vẻ sinh sôi nảy nở dưới chân núi tuyết, cuối cùng đã hình thành nên các bộ tộc trên cao nguyên.”

“Hả?” Trương Lập và Nhạc Dương đều cho rằng mình đã tìm hiểu đủ về cao nguyên Thanh Tạng rồi, vậy mà pháp sư Á La chỉ cần thuận miệng kể ra một câu chuyện thôi cũng khiến họ cảm thấy hoàn toàn mới mẻ.

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Truyền thuyết này tôi cũng có nghe nói. Còn nhớ khi đó có một vị chuyên gia nghiên cứu Tây Tạng đã từng phân tích, bảo rằng truyền thuyết này chắc là để ám chỉ cuộc chiến giữa người da vàng phương Đông và người da trắng ở phương Tây. Mọi người biết đấy, đám người nước ngoài kia thường thường thể hình đều cao lớn hơn chúng ta, hơn nữa lông tóc trên người cũng dài mà rậm rạp hơn. Thậm chí có người còn nói đấy là cuộc chiến giữa người Neanderthal và người Homo Sapien nữa.”

Pháp sư Á La lắc đầu nói: “Không, không phải, đây có lẽ là một lần thay đổi vương triều trong thời kỳ nô lệ, thời kỳ vẫn chưa có văn tự ghi chép. Hơn nữa, về người núi tuyết này, tôi có khuynh hướng nghiêng về...”

“Người Tuyết!” đội trưởng Hồ Dương tựa hồ bỗng nhiên sực nghĩ ra điều gì đó, vội vội vàng vàng nôn nóng tiếp lời.

Trương Lập và Nhạc Dương cũng lập tức lần lượt nói theo: “Dạ Đế?” “Chính là cái thứ lần trước chúng ta ở trên núi tuyết nghe thấy tiếng, mà không thấy đâu ấy ạ?”

Đội trưởng Hồ Dương gật đầu nói: “Ừm, trên cao nguyên Thanh Tạng vùng nào mà chẳng có các truyền thuyết về người tuyết, dã nhân, miêu tả cũng tỉ mỉ kỹ lưỡng lắm, nhưng trước nay vẫn chưa có chứng cứ nào xác thực cả. Nhiều nước trên thế giới còn tổ chức các đội khảo sát khoa học đến Tây Tạng và Nepal để tìm kiếm chứng cứ về người tuyết nữa đó.”

Nhạc Dương tò mò hỏi: “Đội trưởng Hồ sao lại nắm rõ những thông tin kiểu ‘thế giới đó đây’ này thế?”

Đội trưởng Hồ Dương nhe răng cười, đáp: “Không đơn giản chỉ là chuyện lạ đó đây đâu, rất nhiều nước coi việc điều tra về người tuyết như một hạng mục nghiên cứu khoa học. Năm đó, thời tôi mới vừa tham gia công tác, cũng từng theo ông đội trưởng già lên núi tuyết tìm cái thứ ấy đấy.” Đội trưởng Hồ Dương ngước mắt nhìn trời, như hồi tưởng: “Ở vùng Thanh Tạng và cả dãy Himalaya này, những câu chuyện về người tuyết thật nhiều vô số kể. Những khu vực khác nhau cũng có cách gọi khác nhau, cách gọi ‘Dạ Đế’ là phổ biến nhất, cả vùng núi thuộc Trung Á và Đông Á đều gọi như thế cả, gần như đã trở thành tên gọi chính thức của người tuyết. Nhưng ở khu Mặc Thoát thì lại gọi là ‘Tắc Thị’, gần vùng núi Lạp Ca Ba gọi là ‘Khang Mễ’, vùng phía Bắc Thanh Hải gọi bằng tên ‘Cách Lý’, các ghi chép thời nhà Thanh thì gọi là ‘Nhân Đồng’. Đối với vấn đề dã nhân có tồn tại hay không, nhà nước xưa nay vẫn rất coi trọng, chỉ có điều trọng điểm là ở khu vực Thần Nông Giá, còn về phương diện người tuyết thì các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu kỹ hơn chúng ta nhiều. Họ hoạt động ở phía Nepal và Ấn Độ, ngoài ra các hoạt động bí mật điều tra về người tuyết cũng được triển khai khá nhiều ở xung quanh ngọn Chomolungma.”

“Không đúng.” Pháp sư Á La nở một nụ cười điềm đạm, nói với đội trưởng Hồ Dương bằng giọng hết sức khẳng định.

Đội trưởng Hồ Dương thoáng ngẩn người ngạc nhiên, vẫn chưa hiểu ra không đúng ở điểm nào. Nhạc Dương đã nhanh nhảu phản ứng trước, reo toáng lên: “Đám người nước ngoài ấy không tìm người tuyết! Mà chỉ mượn đó làm cái cớ che mắt, thực ra là họ muốn tìm Bạc Ba La thần miếu! Giống như đoàn khảo sát đỉnh Chomolungma của Hitler và các nước khác thời Thế chiến II vậy, tất cả chỉ là để che mắt mà thôi, tất cả đều muốn tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu!”

Pháp sư Á La nở một nụ cười khen ngợi, nhưng vẫn nói: “Không đúng.”

Nhạc Dương gãi gãi đầu, lần này thì anh cũng không hiểu ông muốn nói gì nữa. Chỉ nghe pháp sư Á La chầm chậm giải thích: “Bọn họ tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu, nhưng cũng tìm kiếm cả người tuyết nữa, đó không phải cái cớ.” Thấy Nhạc Dương vẫn còn chau mày, pháp sư lại tiếp lời: “Giống như Cường Ba thiếu gia vậy, cậu ấy tìm kiếm Tử kỳ lân, cũng tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu, đâu có mâu thuẫn gì. Đồng thời, cũng tương tự như chúng ta biết rõ việc bộ tộc Qua Ba đã xây dựng Bạc Ba La thần miếu, giữa Đạo quân Ánh sáng và Bạc Ba La thần miếu có một mối liên hệ tất nhiên, có một số nhà nghiên cứu phương Tây cũng tin chắc rằng giữa người tuyết và Shangri-la có một mối liên hệ tất nhiên nào đó.”

“Sao lại nói thế?” Giờ thì cả đội trưởng Hồ Dương cũng bắt đầu thấy hứng thú.

Pháp sư Á La nói: “Chuyện này phải bắt đầu từ Morton Stanley. Người đời sau đều biết, Morton Stanley tìm được đầu mối về Bạc Ba La thần miếu trong sử thi A Lý Vương, vì vậy, cũng có một số người kế thừa phương hướng tìm kiếm này của ông ta, họ chuyên thu thập các loại truyền thuyết, thần thoại, hy vọng có thể phát hiện được bí mật về Bạc Ba La thần miếu trong đó. Trong đó có một câu chuyện thần thoại, bắt nguồn từ Bản giáo cổ, đại ý là thế này: vào thời kỳ của Thần và Ma, nơi Thần cư ngụ gọi là Gia quốc, nơi Ma cư ngụ gọi là Ngạn quốc. Ngạn quốc là nơi có đủ loại bệnh tật, chất độc, sinh linh tương tàn, sinh tồn là điều cực kỳ gian nan; còn Gia quốc thì ngược lại, hoa thơm cỏ lạ, chim chóc líu lo, mây lành vẩn vít, không cần lo ăn lo mặc. Hai vùng đất này bị chia tách bởi dòng sông Hy Mã, Ngạn quốc muốn chiếm lĩnh đất đai của Gia quốc, vì vậy chiến loạn cứ kéo dài liên tu bất tận. Về sau, Ngạn quốc phái đi một ma nữ để dụ dỗ Thần linh, sinh con đẻ cái, rồi ma nữ ấy giết chết mẹ ruột của mình, bỏ rơi chồng và con cái trở về Ngạn quốc, từ đó Gia quốc cũng bị vấy bẩn theo. Vì vậy, khi tiến hành mọi nghi lễ của Bản giáo cổ, nhất định phải có nghi thức tịnh hóa, chính là để rửa sạch sự ô nhiễm mà ma nữ của Ngạn quốc mang đến, dần dần thì được diễn hóa thành một tập tục của dân Tạng ngày nay... tục ‘đốt tang’.”

Pháp sư Á La nói tới đây thì dừng lại. Trương Lập, Nhạc Dương và cả đội trưởng Hồ Dương không nói gì, chỉ trố mắt ra nhìn ông, câu chuyện này hình như chẳng liên quan gì đến người tuyết và Shangri-la thì phải?

Pháp sư Á La giờ mới nói: “Những nhà nghiên cứu nước ngoài ấy cho rằng, Ngạn quốc, chính là chỉ cao nguyên mà người thời cổ sinh sống, lúc ấy môi trường ở cao nguyên rất khắc nghiệt, con người muốn sinh tồn là chuyện cực kỳ khó khăn, các loại bệnh tật cũng rất nhiều; Gia quốc, là để ám chỉ Shangri-la; còn dòng sông Hy Mã, chính là con đường dẫn đến thánh địa Nguy Ma Long Nhân của Bản giáo cổ, cũng tức là con đường duy nhất dẫn đến Shangri-la. Còn người tuyết lại được gọi là Dạ Đế, rất nhiều nơi dịch âm thành Gia Đề, những nhà nghiên cứu ấy chỉ ra rằng, Gia quốc, thực ra có hàm nghĩa là đất nước của người Gia Đề. Ngạn quốc làm ô nhiễm Gia quốc, vừa khéo cũng rất trùng khớp với truyền thuyết người ở hang cuối cùng cũng xua đuổi được người núi tuyết, mà tục ‘đốt tang(1)’ của người Tạng ngày nay, chính là để làm lắng đi oán niệm của người Mã Tang bằng phương thức đốt. Và sự thực là, ‘tang’ mà chúng ta nói đó, hẳn phải có nghĩa ‘sạch sẽ, thanh khiết’, toàn bộ nghi thức tịnh hóa này, là dùng nước sạch và khói tinh khiết của cây bách hòng xua đi những thứ vẩn đục ô ế và bệnh tật.”

Nhạc Dương sắp xếp lại tư duy trong đầu, đoạn nói: “Ý của pháp sư là, những nhà nghiên cứu nước ngoài đó cho rằng, Shangri-la chính là Gia quốc trong truyền thuyết, cũng chính là nơi Người núi tuyết Mã Tang cư trú? Những từ người núi tuyết, Mã Tang, người tuyết, Dạ Đề, đều để chỉ một loại sinh vật đã từng tranh đoạt không gian sinh tồn với tổ tiên chúng ta thời xa xưa, về sau đã bị xua đuổi đi, và chạy đến Shangri-la? Sao thế được nhỉ, tôi nhớ Cường Ba thiếu gia từng nói, trong tiếng Hạ Nhĩ Ba, Dạ Đế nghĩa là người ở hang, ở đây sao lại biến thành kẻ đối đầu của người ở hang rồi?”

Pháp sư Á La lắc đầu nói: “Trong tiếng Hạ Nhĩ Ba không có từ nào chỉ người núi tuyết. Dạ Đế là để chỉ một loại sinh vật khổng lồ có vóc dáng rất giống con người, nhưng thân hình cao lớn, khắp người lông lá, hoạt động trong khu vực núi tuyết, vì người Hạ Nhĩ Ba không biết chúng sống ở đâu, cũng chưa bao giờ tìm được sào huyệt của chúng, vì vậy cho rằng chúng cư trú trong những hang đá trên núi tuyết, bởi thế, trong tiếng Hạ Nhĩ Ba, Dạ Đế còn có thể phiên nghĩa ra thành người ở hang đá. Người ở hang đá này và người ở hang đá chúng ta vừa nhắc đến là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Còn những phân tích khác của cậu thì đều không sai, đại để chính là như vậy. Rất nhiều người nước ngoài tin rằng, người tuyết cư trú ở một nơi cực kỳ ẩn mật trong dãy Himalaya, nơi đó rất có khả năng chính là Shangri-la trong truyền thuyết. Hơn nữa, người tuyết chưa bao giờ thực sự lộ diện, đâu đâu cũng có truyền thuyết, song lại chẳng có một chứng cứ xác tín nào cả, nên mọi người lại càng tin rằng, người tuyết có thể tìm được đường đến Shangri-la, bắt được người tuyết, biết đâu có thể ép họ dẫn đường đến Shangri-la cũng không chừng.”

Nhạc Dương nói: “Xem các tư liệu chúng ta tìm được ở thôn Công Bố, thì cách lập luận của đám chuyên gia nước ngoài kia hình như cũng có lý ra phết! Ở đây đúng là có một bộ tộc Mã Tang thật, chỉ tiếc là tôi tìm được có mỗi một đoạn ngắn.”

Pháp sư Á La nói: “Sở dĩ các nhà nghiên cứu nước ngoài ấy vững tin như vậy, chính là vì câu chuyện thần thoại về Gia quốc và Ngạn quốc tôi vừa nhắc đến ấy xuất hiện rất sớm, còn sớm hơn cả các câu chuyện lưu truyền trong dân gian như sử thi A Lý Vương, sử thi Cách Tát Nhĩ Vương rất nhiều. Còn có cả nhà nghiên cứu Tạng học nước ngoài chỉ ra rằng, từ trước khi Bản giáo cổ hình thành, đã có những câu chuyện như thế lưu truyền rồi. Mặc dù tôi không biết họ tìm được chứng cứ xác thực ở đâu, nhưng truyền thuyết này thì đích thực là có từ rất sớm, bao gồm cả câu chuyện về cuộc chiến giữa người ở hang và người núi tuyết, đều được người Tạng truyền miệng cho nhau bao nhiêu đời nay rồi. Mặc dù về sau này có pha trộn thêm một số tu sức của Bản giáo cổ và các đặc điểm riêng của từng địa phương, nhưng nội dung chính của câu chuyện thì có lẽ là không thay đổi gì cho lắm.”

Nhạc Dương nhìn đống tư liệu trên tay, trong đầu đột nhiên lóe lên một ý nghĩ: “Chẳng lẽ là, người Qua Ba năm xưa cũng vì nghe được câu chuyện này, nên cuối cùng mới tìm được tới nơi đây?”

Pháp sư Á La trầm ngâm gật đầu: “Có khả năng như vậy. Mọi người xem câu này, dịch ra có nghĩa là: Quân lính trong Đạo quân Ánh sáng cơ hồ chỉ cao đến ngực người Mã Tang. Mà theo như chúng ta đã biết, người Qua Ba không phải giống thấp lùn, Đạo quân Ánh sáng lại là những chiến sĩ xuất sắc nhất trong bộ tộc, từ đây có thể suy ra, chiều cao bình quân của người Mã Tang hẳn phải hơn hai mét. Với thể hình khổng lồ ấy mà người ghi chép này cũng không dùng ngữ khí kinh ngạc, xem ra giống như là ông ta đã biết có một giống người như vậy tồn tại từ lâu rồi vậy.”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Pháp sư, ông dịch giúp bọn tôi cả đoạn này được không.”

Pháp sư Á La gật đầu, rồi dịch vắn tắt cả đoạn văn ấy ra. Người viết chép lại câu chuyện của một người bạn ông ta, người này cùng với những tộc nhân khác lên tầng bình đài cao nhất ác chiến với người Mã Tang. Sau khi trở về tầng dưới này, người bạn đó đã chia sẻ đoạn chiến sự thảm liệt đó với ông ta. Đây rõ ràng là chuyện xảy ra khi người bộ tộc Qua Ba mới tiến vào đây, giữa các tầng bình đài vẫn còn có thông tin qua lại. Trong ghi chép chỉ viết rằng người Mã Tang rất khỏe, ngoài ra còn một số đoạn tả cảnh chiến đấu, nửa sau thì vẫn chưa tìm được. Nhưng sau khi nghe pháp sư Á La dịch những đoạn miêu tả về chiến tranh ấy, đội trưởng Hồ Dương lại nhíu mày lại, nói: “Dựa... dựa vào ngoại hình, thì những người Mã Tang ấy khá là phù hợp với đặc điểm hình thể của người tuyết. Có điều, xưa nay chúng ta vẫn quy người tuyết vào loại dã nhân, một giống sinh vật tương tự như khỉ vượn, trí tuệ có hạn. Nhưng người Mã Tang mà pháp sư vừa nhắc đến có hẳn bộ lạc cơ mà. Người Mã Tang và người tuyết có lẽ nào là hai loại khác nhau không?”

Pháp sư Á La cũng nói: “Đúng vậy, nếu câu chuyện truyền thuyết không bị biến đổi quá nhiều, vậy thì người núi tuyết và người ở hang chắc là có trí tuệ tương đương nhau, chỉ là hai chủng tộc khác nhau giống như người phương Đông và người phương Tây vậy thôi, trí khôn hẳn không hơn kém nhau quá nhiều. Còn nữa, trong các truyền thuyết về Shangri-la còn có một thuyết nói rằng, Shangri-la do hai tộc người A Trát Ba và Khố Tấn Ba nắm giữ, thể hình hai tộc người này cũng rất giống người tuyết, thân thể cao lớn, nhiều lông. Nhưng trong truyền thuyết đó, trí tuệ của hai tộc người này đều cao hơn những người bên ngoài chúng ta rất nhiều. Đương nhiên, tôi vẫn chưa tìm được xuất xứ của truyền thuyết này, khó mà xác định được độ tin cậy.” Tới đây, pháp sư Á La mỉm cười, đoạn nói tiếp: “Tư liệu về người tuyết thì tôi không tìm hiểu nhiều lắm, nhưng nhớ hình như văn bản sớm nhất về sự xuất hiện của người tuyết chắc là vào khoảng hơn tám trăm năm về trước. Tôi phát hiện một đoạn ghi chép về họ trong một ngôi chùa nhỏ, bản ghi đó nói trí tuệ của người tuyết không cao.”

Đội trưởng Hồ Dương cũng nhớ ra điều gì đó, nói: “Tôi nhớ có một nhà thám hiểm người Anh từng kể, người tuyết mà ông ta gặp có cầm cung tên. Chỉ có điều, hầu hết các miêu tả về người tuyết đều là hình tượng dã nhân, không mặc quần áo, ngoại hình giống vượn, ăn sống vật săn mà thôi.”

“Việc này cần gì phải tranh luận.” Trương Lập vỗ vỗ lên máy tính xách tay, nói: “Cứ bỏ thời gian ra tra cứu một lúc là biết.” Trong máy tính của giáo sư Phương Tân có cài đặt toàn bộ dữ liệu của Thư viện Britanica.

Pháp sư Á La nói: “Đúng, chuyện này giờ không phải là trọng điểm, trước tiên chúng ta cần sắp xếp các tư liệu có liên quan đến chiến tranh trong đống tư liệu tìm được ở thôn Công Bố đã. Đây mới là mấu chốt để tìm hiểu thêm về vùng đất này.”

Nhạc Dương lại tìm được một số ghi chép về chiến tranh. Nhưng dựa trên những đoạn ghi chép rời rạc mà họ tìm được, ngoài cuộc xung đột thuở ban đầu với các bộ tộc ở đây khi người Qua Ba mới đến vùng đất này, hồi ức về chiến tranh trong giai đoạn sau cũng như Bạc Ba La thần miếu hoàn toàn không có gì. Trong khoảng hai trăm năm trở lại đây thì mới bắt đầu nhắc đến chiến tranh. Hơn nữa thời gian những cuộc chiến này rất khớp với thời gian thiên tai, mượn lương thực, tế lễ trong Nhật ký của thôn Công Bố. Trận chiến gần đây nhất là khoảng mười bảy mười tám năm trước, bản thân phần ghi chép ấy cũng rất mơ hồ, tuồng như nguyên nhân ban đầu là do một thôn làng nào đó bị hủy diệt, nhưng rốt cuộc tại sao bị hủy diệt thì không thấy nhắc đến, chỉ biết rằng lần đó do sự cân bằng thế lực bị phá vỡ, cả tầng bình đài thứ hai này đã đánh nhau loạn cả lên.

Pháp sư Á La bảo Nhạc Dương tiếp tục suy luận. Theo ý kiến của Nhạc Dương thì điều này cũng hết sức tự nhiên: ở một khu vực khép kín, nếu gặp phải thiên tai tức là không có gì ăn, những người không có gì ăn không thể sống được, không thể sống được thì phải đi cướp của người khác ăn, người đi cướp nhiều, tự nhiên sẽ bùng nổ chiến tranh... Xét cho cùng, dựa theo những gì được ghi chép lại trong các cuộn da, tầng bình đài thứ hai của Thánh vực này không phải là một chỉnh thể thống nhất, mà bị phân chia thành rất nhiều bộ lạc khác nhau. Trong khoảng thời gian một vạn năm, có vô số bộ lạc đã lần lượt đến nơi này, đặc biệt là sau khi người Qua Ba đến đây, bọn họ đã không ra thế giới bên ngoài nữa. Trải qua nhiều năm phân chia rồi lại hợp nhất, trước mắt đại để đã hình thành hai thế lực lớn, hoặc có thể gọi là hai vương quốc, lần lượt là cái gì mà Langbu ở hồ bên trái và Yaca ở bên phải, còn phân biệt trái phải như thế nào, lại còn hồ gì, thì họ cũng không tìm được tư liệu nào liên quan, kết quả vẫn là một đống bùng nhùng không lời giải đáp.

Có một điều khiến pháp sư Á La cảm thấy khó hiểu là, sau khi người Qua Ba đến đây, không ngờ đã có một khoảng thời gian bình lặng không chiến tranh kéo dài tới mấy trăm năm. Thật sự không có chiến tranh nổ ra? Hay người Qua Ba không ghi chép lại?

Còn Nhạc Dương cũng lấy làm thắc mắc, dù là Nhật ký của thôn Công Bố hay bút ký của các vị trưởng giả trí giả gì đấy, ngoài khoảng một trăm năm đầu tiên có loáng thoáng đề cập đến tầng bình đài thứ ba, cũng là tầng của Shangri-la thực sự, và đoạn ghi chép nói một người tên Thứ Tháp Nhĩ đã gây họa, thì không còn bất cứ ghi chép nào nữa. Hơn nữa, khi các bộ lạc tầng bình đài thứ hai này đánh nhau kịch liệt nhất, cũng không thấy những người dân bản địa này xuống tầng thứ nhất hoặc lên tầng thứ ba. Nhạc Dương hết sức nghi hoặc hỏi pháp sư: “Pháp sư, lẽ nào lên, xuống một tầng bình đài thực sự khó khăn thế sao? Nếu thang kéo của người Qua Ba không bị phá hoại, việc lên xuống chắc cũng không phải chuyện gì gian nan chứ nhỉ? Hơn nữa những người Qua Ba đó, hình như cũng lên tầng bình đài thứ ba rồi còn gì? Dựa theo các tư liệu chúng ta nắm được cho đến nay, người gây ra họa tên là Thứ Tháp Nhĩ, hình như cũng lên tầng thứ ba rồi?”

Pháp sư Á La giải thích: “Lên xuống giữa các tầng chắc không phải việc khó, khó ở chỗ phải băng qua khu vực rừng rậm không người. Với những gì chúng ta biết được, vùng này đầy rẫy dã thú hoành hành, riêng loài thằn lằn khổng lồ kia cũng xuất hiện trong các ghi chép không dưới mười lần, còn nữa, dọc đường chúng ta tới đây đã gặp phải không biết bao nhiêu loài động vật hoang dã dữ tợn rồi. Với số người của một bộ tộc hoặc một thôn làng, muốn xuyên qua khu rừng rậm ấy thật chẳng khác nào đi tự tử cả, trừ phi họ cũng có vũ khí trang bị hiện đại như chúng ta đây. Chắc cũng vì nguyên nhân này mà không ai lên tầng thứ ba được cả.”

Nhạc Dương lại hỏi tiếp: “Thế sao người Qua Ba có thể dễ dàng đi lên đi xuống như không vậy?”

Pháp sư Á La mỉm cười nói: “Họ là hậu duệ của Đạo quân Ánh sáng, sợ rằng người bình thường không thể nào so sánh được.”

Nhạc Dương lộ vẻ kinh hãi, nói: “Từ đó suy ra, muốn tiêu diệt toàn bộ thôn làng của người Qua Ba, không để sót lại một mạng sống nào là điều rất khó khăn!”

Khóe mắt pháp sư Á La khẽ giật giật. Điều Nhạc Dương nói là sự thật, người Qua Ba thực lực mạnh như thế vậy mà vẫn bị hủy diệt hoàn toàn, tuy trước mắt vẫn chưa biết là do nguyên nhân gì, nhưng hung thủ ra tay sạch sẽ gọn gàng như thế, chắc hẳn còn đáng sợ hơn người Qua Ba nhiều chứ chẳng nghi. Pháp sư liền không nói gì nữa, tiếp tục lật những đoạn văn ngắn ngủn rời rạc còn sót lại trong đống tàn quyển, tìm kiếm thêm đầu mối.

Ngày thứ sáu sau khi đụng độ với lũ muỗi, mới đi chưa được bao xa, bỗng nghe thấy phía đằng xa có tiếng gầm rú, âm thanh nghe rất giống tiếng kêu của con thằn lằn khổng lồ họ gặp mấy ngày trước. Cả bọn bất giác giật nảy mình kinh hãi, vội tìm chỗ kín đáo ẩn nấp. Nhạc Dương và Trương Lập thì cẩn thận tiến lên thăm dò.

Không lâu sau, hai người trở lại, đội trưởng Hồ Dương vội hỏi: “Tình hình thế nào?”

Nhạc Dương thấp giọng đáp: “Phía trước có một loại thằn lằn lớn, cao tầm chừng này này...” Nhạc Dương đưa tay lên diễn tả, áng chừng cao hơn anh một chút, nhưng thấp hơn Trác Mộc Cường Ba, kế đó lại nói tiếp: “Động vật ăn thịt, bọn chúng cắn chết một con thằn lằn khác lớn gấp đôi chúng, xem chừng có vẻ như là một con thằn lằn khổng lồ còn chưa trưởng thành.”

Trương Lập đứng bên cạnh bổ sung: “Loại thằn lằn nhỏ ấy rất giống với loài Tấn mãnh long(2) trong phim Công viên Kỷ Jura, trong rừng cũng có nữa, số lượng không rõ bao nhiêu.”

Nhạc Dương lại nói: “Chúng ở trong khu rừng bên cạnh, có con còn nấp trên cây, rất khó phát hiện.”

Sean nhíu mày, thấp giọng nói: “Đi vòng qua.”

Nhạc Dương lắc đầu: “Không biết chúng có bao nhiêu con, e là rất khó...” Lời còn chưa dứt, phía xa xa đã lại vang lên một tiếng kêu nữa. Nếu âm thanh vừa nãy mới chỉ là giống, thì lần này gần như đã có thể khẳng định đó chính là một con thằn lằn khổng lồ đang chạy ra từ phía khu rừng đằng sau họ.

Ba Tang buột miệng chửi: “Chó chết! Muốn đánh nhau thì cũng đừng kẹp bọn ta vào giữa thế chứ.”

Sean giơ tay lên không vẫy vẫy thử, rồi lập tức nói: “Vào trong rừng, lên cây, chỗ ấy ở cuối gió, hy vọng không bị chúng phát hiện ra.”

Lữ Cánh Nam bảo Trương Lập: “Bật radar lên, giám sát động thái của các sinh vật xung quanh đây.”

Trương Lập tìm một cây khá cao, hì hục leo lên, lắp đặp hệ thống radar xong xuôi thì những người khác lần lượt lên cây, cáng của Sean cũng được buộc vào bốn sợi dây thừng, nhanh chóng kéo vào chỗ tán cây ẩn mật.

Trên màn hình radar hiển thị, có một sinh vật đang xông về phía bên trái bọn họ với tốc độ cực nhanh, còn phía trước họ lại không dò ra được dấu hiệu của sinh vật nào. Trương Lập là người đầu tiên nhìn màn hình radar, không khỏi “í” lên một tiếng. Mẫn Mẫn tò mò ngó đầu qua xem, rồi hỏi: “Phía trước không có à?”

Nhạc Dương khẳng định: “Không thể nào, rõ ràng chúng tôi đã nhìn thấy mà.”

Lữ Cánh Nam nói: “Loại radar này chỉ phát hiện được những vật thể di động, điều này chứng tỏ bọn thằn lằn nhỏ phía trước không di chuyển, hoặc động tác rất nhỏ, radar không thể phát giác được. Kỳ lạ thật, săn được con mồi rồi mà không lập tức di chuyển, bọn chúng còn định làm gì nữa nhỉ?”

Nhạc Dương từ trên cao nhìn xuống, nhanh chóng dùng ống nhòm điện tử phát hiện được mục tiêu và báo cáo: “Cách khoảng một nghìn hai trăm mét, tọa độ 052, 322, là con thằn lằn khổng lồ non bị sát hại lúc nãy.”

Sean nằm sấp trên cáng cũng nhanh chóng nhìn thấy mục tiêu Nhạc Dương nhắc đến trong ống nhòm; đúng là có một con thằn lằn khổng lồ chưa trưởng thành, đầu hơi vuông vuông, vai gồ nhô cao, tròng mắt hõm sâu, cổ đã bị cắn đứt lìa nằm gục xuống bất động. Đồng thời anh ta cũng thấy trên cái cây cạnh đó loài thằn lằn nhỏ mà bọn Nhạc Dương và Trương Lập nhắc đến. Khác với loài thằn lằn khổng lồ, loại thằn lằn kia đầu nhọn hơn, chiều dài cơ thể khoảng chừng hai mét, phía sau kéo theo một cái đuôi lớn to và dài, các móng vuốt sắc bén ở bốn chân giúp chúng bám vững được trên cành cây, làn da nhăn nheo màu vàng úa pha lẫn sắc xanh lục khiến chúng trông như một phần của tán cây vậy.

Tại sao lại bỏ con mồi ở chỗ dễ thấy như vậy? Điều này trái ngược hẳn với chuẩn tắc hành vi của động vật. Sean tựa hồ phát hiện ra điều gì đó, không ngừng điều chỉnh tiêu cự ống nhòm. Phần mặt của con thằn lằn nhỏ đang nằm rạp trên cây kia không ngừng hiện lên gần hơn trong ống nhòm, Sean thấy rất rõ, trong cặp mắt màu vàng kim của nó, rõ ràng có ánh lên vẻ giảo hoạt! Không sai, giảo hoạt, đôi mắt ấy sắc bén, lạnh lùng, bình tĩnh, tựa như một tay lính bắn tỉa kinh nghiệm phong phú ẩn mình bất động trên chiến trường vậy. Sean thầm giật mình kinh hãi, dịch chuyển ống nhòm, lại phát hiện ra trên cây còn nhiều con thằn lằn nhỏ khác duỗi tứ chi bám trên cành cây, hơi thở chầm chậm, kéo dài, nằm phân bố xung quanh xác con thằn lằn khổng lồ non kia. Kinh ngạc hơn nữa là, bọn thằn lằn ấy cũng giống họ, đều nấp ở chỗ cuối ngọn gió. “Là một cuộc mai phục!” Sean phát ra một tiếng kêu kinh ngạc khe khẽ.

Lúc này, con thằn lằn khổng lồ trong rừng đã xông tới chỗ cái xác con thằn lằn non, tựa như cũng cảm giác được điều gì đó nguy hiểm, cặp chân to khỏe liền chầm chậm dấn từng bước một, đôi mắt hồ nghi đảo khắp bốn phía xung quanh.

Giờ thì những người khác cũng lờ mờ đoán ra được. Nhạc Dương thở hắt ra một tiếng, nói: “Ồ, thì ra là chúng giết con của con thằn lằn khổng lồ kia, hòng dẫn dụ con to vào vòng vây! Giảo hoạt thật đấy!”

Sean lắc đầu: “Chưa chắc đã là con của nó, nhưng dẫn dụ nó đến thì chắc chắn rồi.” Chỉ thấy bọn thằn lằn nhỏ nấp phía sau cành cây, nhích động thân thể theo bước tiến của con thằn lằn khổng lồ, động tác đều đặn thống nhất, phối hợp có thể nói là cực kỳ ăn ý.”

Con thằn lằn khổng lồ đến trước cái xác của đồng loại, mùi máu tanh đã thu hút nó, Trương Lập còn đang cảm khái rằng con thằn lằn ấy nhất định là rất thương tâm, thì nó đã há miệng đớp một phát hết nửa người con thằn lằn non, rồi ngửa cổ nuốt ực một cái. Đúng lúc ấy, lũ thằn lằn nhỏ nấp trên cây cũng phát động tấn công, cặp chân khỏe mạnh giúp chúng có thể bật tung lên khỏi cành cây như một đàn châu chấu, những móng vuốt sắc nhọn vung vẩy trên không trung. Con thằn lằn khổng lồ căng thẳng ngẩng đầu lên, lấy làm hoảng loạn trước đợt tấn công có tổ chức quá bất ngờ, cái đầu hết nghiêng sang bên trái rồi ngửa bên phải né tránh, nhưng thân thể to lớn đã bị cào xước vô số vết thương lớn.

Lúc bọn thằn lằn nhỏ nhảy xuống Sean mới để ý thấy, chi trước của chúng có khác biệt rất lớn so với con thằn lằn khổng lồ. Chi trước của thằn lằn khổng lồ so với chi sau của nó thì giống như thể chưa phát dục hoặc bị teo cơ, vừa ngắn lại vừa nhỏ, còn chi trước của bọn thằn lằn nhỏ hơn thì to khỏe linh hoạt hơn rất nhiều, nếu không có bàn tay to lớn và móng vuốt sắc nhọn, thoạt nhìn trông có vẻ không khác cánh tay người là mấy.

Chú thích:

1. Tục lệ đốt cây tùng, cây bách cho khói cuồn cuộn bốc lên. Đây là một nghi thức tế trời của người dân tộc Tạng.

2. Velociraptor hay còn gọi là Velociraptor mongoliensis.

Gia tộc thằn lằn

Con thằn lằn khổng lồ không chịu nổi đau đớn, mất hết ý chí chiến đấu, quay đầu định bỏ chạy. Nhưng lũ thằn lằn nhỏ kia nào chịu bỏ qua, hết con này đến con khác từ trên cao bổ xuống, cắm móng vuốt sắc nhọn vào da thịt kẻ thù khổng lồ, rồi bám chặt trên đó, mấy con thể hình lớn hơn thì nhảy lên cái cổ ngắn ngủn to tướng kia, ý đồ muốn bò lên đầu đối thủ. Con thằn lằn khổng lồ gầm lên một tiếng giận dữ, toàn thân run lên, cần cổ vung mạnh, vừa hất văng bọn thằn lằn nhỏ xuống, vừa há miệng ra đớp. Nhưng bọn thằn lằn con rất linh hoạt, hai chi trước móc vào, giống như lũ khỉ con bám vào cổ ngựa, không ngừng đung đưa theo đà lắc, tránh khỏi đòn tấn công của con thằn lằn khổng lồ, nhưng vẫn bám chặt trên cổ địch thủ, không để mình rơi xuống.

Trong rừng loáng thoáng vang lên những tiếng “chí chí” kỳ lạ. Sean đưa ống nhòm lần theo âm thanh ấy, anh ta đã nghe ra có sự biến điệu, ít nhất cũng có tới bảy tám âm tiết, trong đầu cứ cảm giác rằng âm thanh đó không đơn giản chỉ là tiếng kêu ầm ĩ loạn xạ.

Lúc này đã có con thằn lằn nhỏ leo lên được cái đầu hình vuông to tướng của con thằn lằn khổng lồ, không chần chừ một chút nào, nhân khoảnh khắc con thằn lằn sững lại do thay đổi phương hướng lực khi lắc qua lắc lại, móng vuốt nó đã móc thẳng vào hốc mắt kẻ thù. Con thằn lằn khổng lồ rống lên thảm thiết, không còn thấy đường nữa, cứ thế lao thẳng về phía trước. Lữ Cánh Nam và pháp sư Á La đưa mắt nhìn nhau, cảnh tượng vừa nãy sao mà giống cách pháp sư Á La đối phó với con thằn lằn khổng lồ lần trước đến thế, có điều, thân hình linh động nhanh nhẹn chúng, sợ rằng còn linh hoạt hơn pháp sư Á La lúc đứng trên đầu con thằn lằn khổng lồ kia nhiều.

Một tiếng “Ầm!” vang lên, cả khu rừng tựa hồ khẽ rung lên nhè nhẹ, con thằn lằn khổng lồ kia đã húc thẳng vào một gốc cây lớn. Dù con vật thể hình to lớn ấy là loại da dày xương cứng, nhưng cú va chạm cũng khiến nó phải loạng choạng, nó quay đầu lại, rồi lại lao sầm sập về một hướng khác. Bọn thằn lằn nhỏ vẫn không chịu buông tha, bám chặt vào thân thể con mồi to lớn, lại có mấy con khác dùng bộ móng vuốt sắc nhọn móc vào phần da bụng mềm nhất của con thằn lằn khổng lồ, rạch ra một vết thương lớn. Nội tạng của con vật tung tóe khắp mặt đất, nhưng nó vẫn chạy thêm được khoảng trăm mét nữa, cuối cùng hai chân mới mềm nhũn, tựa như chiếc xe tải đang lao nhanh bỗng nhiên bị lật, còn ầm ầm trượt thêm một khoảng xa nữa rồi đập mạnh vào một thân cây khác, sau đó mới dừng lại.

Lúc này, Sean đã phát hiện ra con vật đang kêu “chí chí” kia, nó náu mình trên ngọn cây cao nhất, chỉ ló đầu ra khỏi tán cây, trông có vẻ là một vị tướng chỉ huy toàn cục, phát hiệu lệnh cho đồng bọn. Con thằn lằn ấy cũng hơi khác với bọn thằn lằn nhỏ còn lại, đầu nó rõ ràng là lớn hơn những cái đầu nhọn xung quanh, đỉnh đầu hơi dẹt, xương sọ có hai bướu gồ lên, trông như thể trên đỉnh đầu đội hai quả dừa vậy. Sau khi phát hiện ra con thằn lằn nhỏ phát hiệu lệnh kia, Sean lại nhanh chóng phát hiện ra một điều kinh ngạc hơn: cũng trên cái cây cao nhất đó, còn hai con thằn lằn nữa khác với con thằn lằn đầu to phát lệnh và cả bọn thằn lằn nhỏ bình thường. Tứ chi của hai con thằn lằn ấy bé hơn bọn thằn lằn nhỏ nhiều, cũng không thấy có móng vuốt, nhưng toàn thân thì gồ lên rất giống với vỏ cây, hơn nữa màu da dường như cũng không khác gì màu vỏ cây, nếu không để ý đến con thằn lằn đầu to, chắc Sean không thể nào nhận ra được hai con thằn lằn ngụy trang rất giỏi ấy. Một điều nữa khiến Sean càng kinh ngạc hơn, đó là cặp mắt của hai con thằn lằn ngụy trang đó, cơ hồ giống hệt như mắt tắc kè hoa, hai con mắt có thể chuyển động theo các hướng khác nhau. Nếu bỏ qua sự khác biệt về tỷ lệ tứ chi, có bảo chúng là hai con tắc kè hoa cỡ lớn cũng chẳng sai chút nào.

Sean lập tức ý thức được bọn họ đang nhìn thấy thứ gì, bèn lẩm bẩm: “Đây là một gia tộc!”

Trác Mộc Cường Ba ở bên cạnh bèn hỏi: “Cái gì? Gia tộc gì cơ?”

Sean thì thầm nói: “Đây là một gia tộc thằn lằn, bọn chúng tiến hóa ra các loại công năng khác nhau. Để tôi giải thích thế này cho đơn giản, anh có biết cơ cấu của tổ kiến không?”

Trác Mộc Cường Ba gật gật đầu, mấy người bọn Lữ Cánh Nam nấp bên cạnh cũng bị lời nói của Sean làm chú ý. Chỉ thấy Sean chỉ ngón tay vào những thân hình nhỏ đang nhảy lên nhảy xuống trong rừng cây phía xa xa nói: “Bọn thằn lằn đang tấn công con mồi kia, cũng giống như kiến thợ, bọn chúng phụ trách vây khốn, cầm chân vật săn, đoán chừng vai trò lớn nhất của chúng vẫn là vận chuyển thực phẩm, chúng ta có thể gọi là thằn lằn vận chuyển cũng được. Không biết mọi người có để ý trong đám thằn lằn vây công con thằn lằn khổng lồ kia, có mấy con thể hình tương đối lớn hơn không.”

“Thấy rồi, thấy rồi.” Người lên tiếng trả lời là Nhạc Dương. Trong đám thằn lằn nhỏ đuổi giết con thằn lằn khổng lồ ấy, có mấy con thể hình to hơn hẳn bọn còn lại. Nhạc Dương cũng nhận ra, những con thằn lằn đó không chỉ là thể hình to lớn hơn, mà chi trước của chúng cũng to gấp đôi đồng loại, hơn nữa móng vuốt cũng dài hơn khá nhiều, thoạt nhìn hơi giống như cái càng cua. Chính bọn thằn lằn thể hình lớn hơn này đã chọc mù mắt và móc toang ổ bụng của con thằn lằn khổng lồ.

Sean nói: “Bọn đó mới là chủ lực chiến đấu, giống như là kiến lính, chúng ta có thể tạm gọi nó là thằn lằn lính. Vừa nãy tôi quan sát được, trên cái cây cao nhất kia còn hai loại thằn lằn hoàn toàn khác nữa, một loại đầu to hơn, không ngừng phát ra những âm thanh với ngữ điệu khác nhau, bọn thằn lằn lính và thằn lằn vận chuyển bên dưới đều nghe theo sự chỉ huy của nó. Đó là loại thằn lằn chỉ huy hay thằn lằn chúa. Bên cạnh nó có hai con thằn lằn trinh sát giống hệt như loài tắc kè hoa, ẩn mình rất kỹ trên cành cây, hai con mắt có thể đồng thời chuyển động theo hai hướng khác nhau. Mà hơn nữa, còn chưa biết có loại thằn lằn nào chưa bị chúng ta phát hiện hay không. Vì vậy tôi mới nói, đây là một cuộc săn được phân công rất chặt chẽ, phối hợp cực kỳ hài hòa của gia tộc thằn lằn. Giống như loài người chúng ta phân hóa ra các ngành nghề khác nhau vậy, bọn thằn lằn này không biết đã phải trải qua mấy nghìn vạn năm tiến hóa, mới có thể trở thành một quần thể gồm nhiều cá thể có các sở trường khác nhau như thế này.”

“Chậc chậc,” Trương Lập lẩm bẩm, “phối hợp tổ nhóm một cách hoàn mỹ, tấn công hiệu quả cực cao, cũng may bọn chúng không phải là thứ chúng ta gặp đầu tiên khi tới đây.”

Nhạc Dương nói: “Có lẽ loài vật có thể đuổi con thằn lằn khổng lồ bị chúng ta giết bỏ chạy tháo mạng mà anh Sean nhắc đến lần trước, chính là bọn chúng rồi. Mặc dù thể hình lũ thằn lằn này không lớn, nhưng với sự phối hợp hoàn hảo thế này, một con thằn lằn khổng lồ hành động đơn độc rõ ràng không phải là đối thủ. Giống như... giống như...”

“Giống như châu chấu và kiến vậy.” Hai mắt Sean sáng rực như sao, chầm chậm nói: “Trước tiên giết chết con thằn lằn khổng lồ vẫn còn non, sau đó lợi dụng tiếng kêu của nó và mùi máu tanh để dẫn dụ con thằn lằn khổng lồ trưởng thành đến, bố trí thế trận vây công, nhân lúc con mồi phân tâm nhất loạt ào lên, sử dụng chiến thuật ‘kiến nhiều cắn chết voi’ phục kích kẻ địch. Nếu đổi lại là tổ tiên loài người chúng ta, vào một vạn năm trước, cùng lắm chắc cũng chỉ có thể làm được đến vậy mà thôi. Đây là một hành vi xã hội điển hình, tôi có thể khẳng định rằng, về mặt hình thái xã hội, bọn thằn lằn có sự phân công rõ ràng này đã không thua gì tổ tiên loài người chúng ta vào khoảng mười nghìn năm trước đâu.”

Bấy giờ, lũ thằn lằn nhỏ đã vật đổ con thằn lằn khổng lồ, bọn thằn lằn lính vung vẩy những móng vuốt sắc bén, cắt thân thể con mồi thành những tảng thịt lớn, rồi dưới hiệu lệnh âm thanh của thằn lằn chỉ huy, mỗi con thằn lằn vận chuyển lần lượt trật tự đưa những tảng thịt vào sâu trong rừng. Chẳng bao lâu sau, con thằn lằn khổng lồ đã bị tách ra tận từng cọng xương chuyển hết đi, không bỏ phí một chút nào, cuối cùng, con thằn lằn chỉ huy cũng bật lên khỏi cành cây bỏ đi. Trác Mộc Cường Ba đang chuẩn bị nhổm người dậy rời khỏi tán cây thì Sean đã kéo lại, những người khác cũng đều bất động. Sean cẩn thận nhắc nhở: “Đợi thêm chút nữa đã!”

Không lâu sau, mấy cành cây chạc ba lại khẽ đung đưa, cả bọn giờ mới phát hiện, ở ngoài phạm vi quan sát của họ vẫn còn mấy con thằn lằn trinh sát ngụy trang cực kỳ khéo léo, bọn chúng mới là những con rời đi cuối cùng trong đàn.

“Ồ...” Nhạc Dương quệt quệt mồ hôi rỉ ra trên trán, khẽ nói: “May mà chưa bị phát hiện.”

Sean áng chừng lũ thằn lằn kia đã đi xa rồi, lập tức nói: “Mau lên, nhìn hướng chúng tiến vào rừng, chắc hẳn chỗ này ở không xa sào huyệt của chúng lắm đâu, không nên luẩn quẩn ở gần quanh đây nữa.”

Cả bọn leo xuống khỏi tán cây, tiếp tục men theo mép bình đài tiến nhanh về phía trước. Sean nằm trên cáng, nghĩ ngợi một hồi vẫn thấy không yên tâm, bèn gọi Trác Mộc Cường Ba tới, đưa cái lọ thủy tinh nhỏ mà anh ta cẩn thận cất giữ cho gã, đồng thời dặn dò, nếu không may bị bọn thằn lằn nhỏ kia phát hiện, thì thử dùng thứ này trước, tốt nhất là ném ra cùng với lựu đạn để cả bình nổ tung, cố gắng sao cho phạm vi che phủ của chất lỏng bên trong càng rộng càng tốt.

Trác Mộc Cường Ba ngờ vực hỏi: “Có hiệu quả không?”

Sean gật đầu khẳng định, đoạn nói: “Chắc là có, chất thông tin này sẽ khiến lũ thằn lằn tưởng đồng loại của mình là con thằn lằn khổng lồ đã chết và quay lại tấn công lẫn nhau.”

Trương Lập vừa thay Ba Tang khiêng cáng ở phía sau hỏi với lên: “Chẳng phải là bọn chúng đều có mắt sao? Lẽ nào không thể phân biệt được đâu là đồng loại của mình?”

Sean nói: “Đây là một vấn đề về quyền hạn ưu tiên. Ừm, nói sao nhỉ? Thế này nhé, một đứa trẻ năm tuổi, có một ông chú lạ mặt và người mẹ đã nuôi dưỡng nó năm năm cùng chỉ vào một vật hình cầu, ông chú kia thì bảo đấy là quả bóng chuyền, còn mẹ nó lại bảo đấy là quả bóng đá. Cậu nói xem, theo lẽ thường thì đứa bé kia sẽ tin ai hơn?”

Trương Lập đáp: “Dĩ nhiên là tin mẹ nó rồi.”

Sean gật đầu: “Đúng vậy, bởi vì cả quá trình trưởng thành của đứa trẻ đều có mẹ nó ở bên, đối với nó, độ tin cậy của mẹ cao hơn ông chú xa lạ kia rất nhiều, nói cách khác, tức là quyền hạn của người mẹ đối với nó cao hơn ông chú kia. Cùng lẽ đó, đối với mấy trăm triệu năm tiến hóa của sinh vật, quyền hạn của chất thông tin cao hơn quyền hạn mà thông tin do các giác quan khác thu nhận được rất nhiều lần, mà động vật càng thấp cấp, sự ỷ lại vào chất thông tin ấy lại càng rõ rệt. Quyền hạn này tỷ lệ nghịch với công năng của các cơ quan mà sinh vật tiến hóa ra. Quyền hạn càng đơn giản, càng trực tiếp thì vị trí lại càng cao. Đến cả những sự sống tiến hóa đến mức độ cao cấp và có lý tính như con người chúng ta, cũng chịu ảnh hưởng của chất thông tin và những quyền hạn không dễ gì nhận ra được ấy, chúng ta gọi chung đó là trực giác, hoặc... giác quan thứ sáu.”

Trương Lập ngây người ra một lúc, rồi kết luận: “Phức tạp quá.”

Sean cười cười, lại đưa bộ phận phát thanh của con thằn lằn khổng lồ kia cho Trương Lập, dặn dò: “Cậu và Nhạc Dương phụ trách trinh sát, rất dễ rơi vào chốn nguy hiểm. Khi nào không thể đột phá được vòng vây thì hãy dùng cái này, ít nhiều gì thì cũng có tác dụng gây chấn động hoặc làm kẻ địch khiếp sợ, chỉ cần sử dụng hợp lý, nói không chừng còn có thể gọi được bọn thằn lằn khổng lồ khác đến, tới lúc đó làm thế nào thì phải xem sự ứng biến của các cậu rồi đấy.” Kế đó, anh ta lại dạy Trương Lập một số kỹ xảo để thổi mảnh xương. Trương Lập mừng lắm, vội vàng ghi nhớ.

Không ai ngờ được, đến tối hôm ấy Sean lại bắt đầu sốt, tình huống tệ nhất e rằng cũng chỉ đến mức ấy là cùng. Mặc dù không sốt cao, nhưng Sean rất bực dọc, lấy làm oán trách Lữ Cánh Nam và Đường Mẫn, có mỗi vết thương đơn giản mà cũng xử lý không xong. Anh ta bị ép phải uống rất nhiều thuốc viên, tiêm đủ các loại thuốc vào người. Mặc dù tự bản thân Sean cũng đã xem qua, biết rõ là theo lẽ thường, các loại thuốc ấy sớm đã khống chế được chứng sốt do nhiễm trùng thông thường rồi, nhưng chẳng hiểu tại sao, các loại thuốc đó vào cơ thể anh ta cứ như làm bằng tinh bột vậy, chẳng hề có lấy một chút tác dụng gì.

Đêm hôm ấy, Sean đột nhiên giật mình cảnh giác, mặc dù không nhìn thấy gì, nhưng anh ta biết, có người đang đứng bên cạnh mình. Cảm giác băng lạnh ấy, ừm, là Ba Tang, không thể sai được, người gác đêm hôm nay chính là Ba Tang!

“Ba Tang, anh đấy à?” Sean khẽ cất tiếng hỏi. Hồi lâu sau, không thấy có ai trả lời, Sean cũng cảm nhận được người đứng bên cạnh mình đã rời đi, hoặc cũng có thể là chưa từng có người nào đứng ở đó cả. Anh ta bất giác cảm thấy hơi lo lắng. Sau một thời gian dài tiếp xúc, anh ta cũng đã hiểu được phần nào con người Ba Tang, con người này đã được huấn luyện thành một cỗ máy giết chóc, nếu mình thực sự không còn tác dụng gì, khả năng rất cao là anh ta sẽ không hề do dự mà tiễn đưa mình về cõi vĩnh hằng. Khổ nỗi lúc này thân thể mình lại không thể đối kháng được với cái gã lạnh lùng đó, sợ rằng đành phải sử dụng biện pháp đề phòng vậy. Nghĩ đoạn, Sean âm thầm lần mò trong bóng tối, lấy một loại thuốc cao bôi lên những chỗ dễ chí mạng nhất trên người mình, lòng thầm nhủ: “Ta không muốn chết một cách vô duyên vô cớ như vậy, kẻ nào muốn giết ta thì phải đem mạng ra mà đổi!” Nhưng anh ta không thể ngờ được, cuộc đời này có rất nhiều việc luôn trái với ý muốn của mình, càng không muốn nó xảy ra, ngược lại càng dễ xảy ra hơn.

Sang ngày thứ bảy, bệnh tình của Sean dường như lại trầm trọng hơn.

“Nhiệt độ lại tăng cao nữa rồi.” Đường Mẫn lo lắng nói. Cô bước tới phía trước mặt Sean, ngồi xuống, nhẹ nhàng nói: “Tôi và chị Cánh Nam đã thương lượng rồi, chuẩn bị đổi cho anh một đơn thuốc khác, lần này chúng tôi dùng Neostigmine, Hydroprednisone, Alprazolam, ngoài ra dùng thêm phương pháp châm cứu và bấm huyệt của Trung y nữa, anh thấy sao?”

Sean ngẩng đầu lên, chỉ nhìn được đến chéo áo Đường Mẫn. Lấy ta ra làm vật thí nghiệm hả? Trong lòng thầm thóa mạ, nhưng cuối cùng anh ta vẫn nhẫn nhịn, gương mặt nở ra một nụ cười tươi tắn khiến người ta nảy sinh cảm giác tín phục, chậm rãi nói: “Tôi cảm thấy mọi người nên thảo luận thêm về bệnh tình của tôi, chứ không phải cắm đầu cắm cổ dùng thuốc để thử nghiệm hiệu quả trị liệu. Có lẽ nói vậy hơi thất lễ một chút, nhưng mà, theo cô thì thế nào?”

Đường Mẫn trầm ngâm gật đầu, nói: “Vết thương của anh vẫn tiếp tục chảy mủ, bởi vậy, chúng tôi nghĩ anh đã bị nhiễm trùng, nhưng xem tình hình sử dụng kháng sinh liều cao hai ngày nay của anh, có vẻ như vi khuẩn ở đây dường như có khả năng đề kháng lại thuốc kháng sinh của chúng ta. Mà không có điều kiện, nên tôi cũng không thể nuôi cấy vi khuẩn tại chỗ, càng không có cách nào tìm được vắc xin, vì vậy mới đành phải tiến hành thử trị liệu bằng các loại kháng sinh có kháng phổ rộng. Có thể là tôi đã bỏ sót điều gì đó mất rồi, bây giờ anh cảm thấy cơ thể mình có xuất hiện hiện tượng gì bất ổn không? Chẳng hạn có cảm giác toàn thân đau mỏi gì đó, anh có thể từ từ nhớ lại, có gì khác với lúc bình thường không...”

Lông mày Sean nhíu lại như hai cọng dây thừng, nói: “Đau mỏi? Không có! Nếu phải nói có gì khác biệt, có điều cô hỏi vậy, giờ tôi cảm thấy hình như... hình như chỗ này, chỗ này hơi tê tê.” Sean một tay chỉ vào mông, một tay chỉ vào xương cổ.

Đường Mẫn lộ vẻ khó xử: “Nhiễm trùng lan đến hệ thần kinh rồi? Phải... phải làm sao bây giờ?”

Sean khôi phục lại tư thế lúc nãy, cố gắng rặn ra một nụ cười nhìn Đường Mẫn, trong lòng thầm nhủ: “Nhiễm trùng đến hệ thần kinh? Không đến nỗi thảm vậy chứ, nếu đám người này đều bó tay, có khi ta phải nghĩ đến việc hợp tác với bọn Merkin kia vậy, hy vọng chúng có cách chữa được. Đây... đây là cảm giác gì thế!” Sean bỗng giật thót mình kinh ngạc, những chỗ anh ta vừa chỉ, bảo thấy hơi tê tê, giờ đây cảm giác tê dại bỗng ập đến, liền tiếp đó, sau gáy bỗng thấy nhói đau, như bị kim đâm vào, rồi cảm giác đau ấy giống như một quả tạc đạn nổ bên trong đầu, sự tê dại nhanh chóng lan tỏa khắp đại não, rồi từ đại não truyền đi khắp toàn thân.

Toàn bộ quá trình ấy chỉ diễn ra trong một khoảnh khắc, nhưng mỗi bước đó, Sean đều cảm nhận được một cách vô cùng rõ rệt, khi anh ta định thần lại, thì đã nhận ra toàn thân mình không thể nào nhúc nhích được nữa. Ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu anh ta là: con nhỏ đó, nó đã làm gì mình rồi! “Cô làm cái gì vậy” Sean muốn lớn tiếng quát hỏi, nhưng lại lập tức phát hiện ra, thậm chí cả khả năng phát âm của mình cũng không còn nữa, gương mặt chỉ có thể giữ nguyên điệu bộ mỉm cười ấy.

“Chớp mắt! Chớp mắt! Chớp mắt!” Sean gắng hết sức ép thân thể mình nhúc nhích dù chỉ một chút cũng được, nhưng càng muốn cử động, lại càng phát hiện, thân thể mình không thể nào cựa quậy, đến cả động tác cực kỳ cơ bản như chớp mắt cũng không sao thực hiện được. Trên gương mặt Sean, vốn là một nụ cười hết sức tự nhiên, nhưng lúc này nụ cười ấy lại toát lên vẻ kỳ dị khôn cùng.

Trong đầu Sean nhanh chóng có vô số ý nghĩ chạy qua vùn vụt, nhưng lòng dạ rối bời, cảm giác tê dại vẫn đang xâm thực vào hệ thần kinh, khiến anh ta không thể nào suy nghĩ như bình thường được. Đầu tiên anh ta nghĩ không biết có phải là Đường Mẫn giở trò hay không, nhưng lúc này, trông thấy Đường Mẫn vẫn đang quỳ một chân trước mặt anh ta, không hề nhúc nhích, bất giác lại nghĩ, liệu kẻ nào đang ở sau lưng mình nhỉ? Nếu có người, Đường Mẫn phải phát hiện ra mới đúng. Không, không phải, Đường Mẫn đang nghĩ xem dùng thuốc thế nào, biết đâu vừa nãy có người đi lướt qua mà cô ta không để ý. Không thể nào, cô ta mà lại để tâm nghĩ ngợi dùng thuốc cho mình thế nào kỹ đến thế ư? Chết tiệt thật, nhìn tôi đi này, nhìn tôi đi này! Cô nhìn kỹ hơn một chút đi, tùy tiện hỏi một hai câu là biết thân thể tôi đang xảy ra chuyện rồi!

“À, phải rồi!” Cuối cùng Đường Mẫn cũng nghĩ ra điều gì đó, bèn nói với Sean: “Hình như có... để tôi đi tìm xem.” Sean không ngừng kêu khổ trong lòng, Đường Mẫn vừa đi được hai bước lại phát hiện ra có điều không ổn, vội ngoảnh đầu hỏi: “Sean, anh không sao chứ? Anh... anh sao rồi? Nói gì đi chứ? Anh Sean! Anh Sean!”

Thân thể Sean xảy ra hiện tượng dị thường, khiến cho tất cả mọi người đều hết sức lo lắng. Phong cách nói năng quý tộc và học thức uyên bác của anh ta sớm đã để lại ấn tượng sâu sắc với mọi người, dọc đường tới đây, tri thức về sinh vật học của Sean đã giúp ích rất nhiều, không có anh ta, họ thật chẳng biết phải ứng phó với nhiều loài động vật như thế nào nữa. Lần ấy cũng vì không nghe theo kiến nghị của Sean mà cắm trại bên bờ hồ, cuối cùng mới thành ra như vậy.

Chỉ có Sean là không nghĩ thế.

Làm bộ cuống cuồng lên như thế, nhưng cũng thấy các người làm cái quái gì đâu, lúc nãy khi kẻ đó đến bên ta hạ thủ, Đường Mẫn mà lại không nhìn thấy ư? Không thấy thật hay giả bộ không thấy? Hừ... lẽ nào? Bọn chúng lại bắt tay nhau dồn ta vào chỗ chết ư? Không sai rồi, ả Lữ Cánh Nam và cả Đường Mẫn đều từng nhiều lần chú ý đến mình, xem ra chúng đã nghi ngờ mình là nội gián rồi, nhưng mình có để lộ sơ hở nào đâu nhỉ? Ba Tang cũng từng hoài nghi mình, Cường Ba... Cường Ba thì không, quá nửa là anh ta không biết chuyện này. Hai tên nhãi Trương Lập và Nhạc Dương chắc chắn không dám cãi lệnh Lữ Cánh Nam; pháp sư Á La và bọn chúng hình như cũng cùng một hội, nhất định là chúng đã lên kế hoạch này từ trước không chỉ một ngày. Mấy hôm nay mình không thể cử động, không thể nào biết được chúng đang thương lượng điều gì. Đúng rồi, để Đường Mẫn ở trước mắt mình thu hút sự chú ý, nhân lúc mình không phòng bị hạ thủ sau lưng! Lẽ ra mình phải nhận ra từ trước mới đúng, con bé con ấy có khiếu diễn kịch thật! Người ở sau lưng mình là ai nhỉ? Ba Tang à? Không, nếu hắn tiếp cận, chắc chắn mình sẽ nhận ra; pháp sư Á La cũng không giống, ông ta quá cao thâm, chắc không làm những chuyện hạ thủ sau lưng người khác; Lữ Cánh Nam? Đúng! Nhất định là cô ta, cô ta và Đường Mẫn có thể lợi dụng cơ hội xem xét bệnh tình của mình để lẳng lặng ra tay. Ở đây ngoài cô ta và Đường Mẫn, không ai có hiểu biết sâu về các loại thuốc cả... Sean càng nghĩ càng thấy lạnh buốt cả người, cảm giác sợ hãi dần trào dâng lên trong tâm thức.

Cái chết của Sean

Lữ Cánh Nam đưa tay lên rờ trán Sean, đoạn nói: “Nhiệt độ không tiếp tục tăng, cho dù đã bị nhiễm trùng đến hệ thần kinh thì cũng không thể nhanh thế được, mà cũng làm gì đến nỗi toàn thân không thể nhúc nhích cựa quậy gì thế này?”

Sean nghe thấy thế, thầm nhủ: “Vậy mà cũng mặt dày nói ra được, ai mà chẳng biết chứ. Chết tiệt thật, thấy ta không đi lại được, chẳng còn tác dụng gì nữa thì muốn vứt bỏ cho bớt gánh nặng hả. Các người, cũng tàn nhẫn thật! Sớm biết thế này, lẽ ra ta cho mỗi tên một ít thuốc, ta mà chết, tất cả các ngươi cũng phải bồi táng theo! Sao mình lại không làm vậy cơ chứ! Chết tiệt thật! Chết tiệt thật!” Đồng thời, anh ta cũng thấy bàn tay Lữ Cánh Nam ấn lên trán mình, trong lòng không khỏi lấy làm chấn động: “Sao lại thế được? Tay cô ta đặt trên đầu mình đấy sao? Tại sao không có cảm giác gì thế này? Lẽ nào... thân thể mình chẳng những không nhúc nhích được, mà còn mất cả tri giác luôn rồi sao? Thế này thì có khác gì người thực vật? Lẽ nào bọn chúng muốn giày vò mình đến chết? Hay là muốn moi điều gì đó từ miệng mình? Bọn chúng đã nghi ngờ bao lâu rồi? Rốt cuộc là mình sơ hở ở điểm nào? Ở đâu nhỉ?”

Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam thảo luận về mấy khả năng có thể xảy ra, nhưng cũng đều bó tay trước tình trạng hiện tại của Sean, không biết nên trị liệu thế nào, lại đi tra trong máy tính của giáo sư Phương Tân cũng vẫn không tìm được phương pháp nào giải quyết. Đội trưởng Hồ Dương nói: “Giờ làm sao đây? Chúng ta không thể dừng mãi ở đây mà nghĩ cách được đâu.”

Lại nổ ra một trận tranh cãi nảy lửa, chủ yếu là xoay quanh chuyện tình hình sức khỏe của Sean lúc này và sự an toàn của cả nhóm. Đường Mẫn, Lữ Cánh Nam cho rằng, trước khi tìm được nguyên nhân tại sao thân thể Sean xảy ra hiện tượng đó thì không nên mạo hiểm cáng anh ta tiếp tục tiến lên, chỉ e tình hình sẽ ngày một nghiêm trọng hơn. Còn Ba Tang lại phản đối ý kiến đó, cho rằng lẽ nào cứ không tìm được nguyên nhân thì phải ở mãi một chỗ này? Với kỹ thuật và nhân lực trước mắt của họ, rất có thể sẽ chẳng bao giờ tìm được nguyên nhân tại sao, chuyện duy nhất sẽ xảy ra khi dừng chân tại đây chính là phải đụng độ với đám truy binh ở phía sau. Vì một người mà làm chuyện bất lợi cho cả nhóm, rõ ràng là lợi bất cập hại. Ngược lại, nếu tiếp tục tiến lên, biết đâu lại tìm được các bộ lạc khác ở đây, như thế may ra còn có một tia hy vọng. Hai bên đều có lý lẽ riêng, những người còn lại nhất thời cũng không biết quyết định thế nào. Bọn họ không hề ngại bị lũ người kia đuổi kịp, làm theo cách nào có lợi nhất cho sức khỏe của Sean, đó mới là điều họ quan tâm nhất.

Sean thầm miệt thị trong đầu: “Hừ, làm bộ làm tịch diễn kịch cho ai xem? Đối tốt với ta vậy cơ à? Ta không tin các người đâu! Tuyệt đối không tin!”

Lữ Cánh Nam bước tới phía trước mặt Sean, đoạn nói: “Nhất định anh ấy nghe được, nhìn thấy được, chỉ có điều không có cách nào biểu đạt ra được mà thôi. Nhất định anh ấy đang rất đau đớn, thậm chí còn không nhắm mắt lại được nữa.” Nói đoạn, cô liền vuốt mi mắt của Sean xuống, không ngờ lại không gặp phải trở lực gì, dễ dàng giúp anh ta nhắm mắt lại, nhưng nụ cười ấy thì vẫn đông cứng lại trên gương mặt, không thể nào hồi phục được dáng vẻ bình thường.

Sean lại âm thầm chửi bới: “Định làm gì hả? Không muốn cho ta thấy chứ gì? Hay là sợ những người khác nhìn ra được điều gì trong ánh mắt ta?”

Lữ Cánh Nam tựa hồ như biết được Sean đang nghĩ gì, lại nói tiếp: “Nhãn cầu không được bảo vệ, sẽ nhanh chóng bị khô, dẫn đến viêm kết mạc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị lực.”

Sean lại thầm nhủ: “Nói như hát hay ấy.” Nhưng điều làm anh ta thực sự lo lắng là, những giọng nói khác hình như cũng tán đồng với cách làm của Lữ Cánh Nam.

Lữ Cánh Nam lại nhúc nhắc chuyển động tứ chi của Sean, lần này anh ta cũng không có cảm giác gì. Chỉ nghe Lữ Cánh Nam nói: “Cơ bắp không có hiện tượng tê cứng, ngược lại mất đi sức lực và sự đàn hồi vốn có, tình trạng này không giống như bị nhiễm trùng dây thần kinh, mà có vẻ như là đại não không thể điều khiển được cơ thể nữa vậy.”

“Người... người thực vật!” Nhạc Dương kinh ngạc kêu lên: “Cô nói anh Sean sẽ biến thành người thực vật á?”

Ba Tang lấy móng tay vạch một đường cong trên lòng bàn tay Sean, lắc đầu nói: “Không phải sẽ, mà là đã.”

Trác Mộc Cường Ba tổng hợp ý kiến của các bên, cuối cùng quyết định: “Dùng nửa ngày kiểm tra thật kỹ xem rốt cuộc đã có thay đổi gì xảy ra trên cơ thể Sean. Còn nữa, cáng anh ấy đi liệu có gây tổn thương gì nghiêm trọng hơn nữa không? Nếu thực sự không tìm được cách trị liệu nào nữa, thì chỉ còn cách khiêng anh ấy tiếp tục tiến lên, vừa đi vừa nghĩ tiếp vậy thôi.”

“Thực ra...” Ba Tang thấp giọng làu bàu một tiếng. Anh ta vốn muốn nói, còn một cách nữa, chính là đợi đám người ở phía sau đuổi kịp, xem có thể giảng hòa với đối phương không, đằng nào thì ở chỗ này cũng không còn ai khác nữa, hai phe có thể bắt tay cùng đi tìm Bạc Ba La thần miếu, đồng thời, cũng có thể nghe ý kiến của những người kia về bệnh tình của Sean. Có điều bản thân anh ta cũng biết, cơ hội để điều đó xảy ra gần như là không có, ngay cả chính anh ta cũng chẳng tin, vì vậy nên rốt cuộc cũng không nêu ra nữa.

Kết quả kiểm tra là, bọn họ không thể làm gì để thay đổi tình trạng của Sean cả. Cuối cùng Lữ Cánh Nam kết luận: “Khiêng bằng cáng sẽ không gây thương tổn gì cho cơ thể anh ấy, nhưng hiện giờ cảm giác của Sean đã mất, hơn nữa lại không thể biểu đạt được cảm nhận của mình. Cũng có nghĩa là, nếu bản thân bị thương, dù là bị đâm, hay bị bỏng hoặc gì gì khác, anh ấy cũng không hề hay biết. Điều duy nhất chúng ta cần chú ý, chính là trong lúc vận chuyển cần chú ý bảo vệ tránh để cơ thể anh ấy bị thương.”

Vậy là, cả nhóm người lại tiếp tục cáng theo Sean với bộ mặt cười cứng đờ quái dị tiếp tục lên đường.

Ngày thứ hai sau khi Sean bị tê liệt hoàn toàn, anh ta nghe thấy Đường Mẫn nói với Lữ Cánh Nam: “Nhiệt độ anh ấy lại tăng lên rồi, sốt cao quá.”

“Dùng thuốc hạ sốt chưa?”

“Dùng rồi, nhưng hình như chẳng có tác dụng gì cả.”

“Ừm, trán anh ấy hình như không nóng, hay là trung khu điều khiển nhiệt độ trong hộp sọ xảy ra vấn đề gì rồi, giờ chúng ta chỉ có thể dùng biện pháp vật lý để giảm nhiệt độ thôi vậy.”

Sean không còn tri giác, nhưng anh ta biết, lúc này Đường Mẫn và Lữ Cánh Nam nhất định đang làm gì đó với cơ thể mình. Anh ta tự nhủ: “Mình đang sốt à? Sao lại thế được? Nếu bị sốt, đầu phải có cảm giác nặng nề, hơn nữa ý thức cũng mơ hồ dần đi mới đúng, nhưng sao mình lại cảm thấy tỉnh táo hơn bao giờ hết thế này. Chẳng lẽ là, nhiệt độ máu của mình đã tăng lên rồi sao? Tim đập nhanh hơn? Đáng ghét thật, cả nhịp tim của chính mình cũng hoàn toàn không cảm giác được. Giờ mình có khác nào một kẻ ký sinh, thân thể này đã hoàn toàn không thuộc về mình nữa rồi! Gượm đã... mình vừa nghĩ đến gì vậy nhỉ? Nhất định là vừa nghĩ ra được gì đó, có gì không ổn ở đây nhỉ?”

Sang ngày thứ ba, Đường Mẫn nói với Lữ Cánh Nam: “Nhiệt độ không giảm xuống, tim anh ấy đập nhanh hơn hẳn, cứ tiếp tục thế này, anh ấy sẽ...”

Trên cơ thể Sean bắt đầu xuất hiện những nốt đỏ lấm tấm bằng hạt thóc, trên mặt, trên cổ, mu bàn tay, ngực, sống lưng, gót chân, khắp nơi chỗ nào cũng có, giống như bị bọ chó đốt, hoặc bị nhện bò qua vậy.

Đến hôm thứ tư, nhiệt độ cơ thể Sean lại giảm xuống, các đốm đỏ cũng biến mất, nhưng Đường Mẫn lại phát hiện ra vấn đề khác. Cơ thể Sean đang gầy đi nhanh chóng, mặc dù ngày nào cũng tiêm chất dinh dưỡng đồng thời truyền đủ lượng nước muối sinh lý, nhưng Sean vẫn giống như người ba bốn ngày liền không ăn không uống gì cả, không, so với lúc họ vừa ra khỏi U Minh hà, anh ta còn thảm hơn nhiều. Làn da vốn trắng trẻo căng đầy, giờ giống như lớp vỏ cây khô khốc, chỉ còn một lớp mỏng dính bọc bên ngoài xương cốt, các cơ bắp đầy tính đàn hồi cũng trở nên khô đét tựa như miếng thịt bò khô, thứ duy nhất có thể thấy rõ ràng chỉ có từng sợi mạch máu gồ lên như những con giun ngoằn ngoèo, trông chẳng khác nào một lũ quái thú đang cuồn cuộn bám vào mảnh đất cằn cỗi khô kiệt.

Ngày thứ năm, Đường Mẫn thì thầm nói với Trác Mộc Cường Ba: “Em nghĩ, bọn em đã phát hiện ra nguyên nhân Sean bị gầy đi nhanh chóng rồi, trong cơ thể anh ấy, dường như có... có thứ gì đó.”

“Em nói gì hả? Dẫn anh đi xem nào.”

Lữ Cánh Nam đang đứng bên cạnh Sean, đôi hàng lông mày thanh tú nhíu chặt lại. Tình trạng của Sean lúc này rất không ổn, hai mắt đã lở loét, chảy ra chất mủ dịch màu vàng, trông chừng có vẻ như đã không còn cơ hội thấy lại ánh sáng; hai má gầy tóp lại, xương gò má gồ cao lên, hốc mắt hõm xuống thành hai hố sâu bầm máu, nhìn chẳng khác nào một cái xác ướp đang nhe răng ra mỉm cười cả. Đáng sợ hơn cả là phần bụng gầy đến lõm hẳn xuống của Sean, giờ chỉ còn lại một lớp da bọc lên trên xương chậu. Bên dưới lớp da ấy, có thể nhận rõ những sinh vật to tầm bằng ngón tay người đang nhung nhúc chuyển động.

Không chỉ một con, mà giống như cảnh tượng họ nhìn thấy trên bãi cát vậy, những chỗ gồ lên dưới lớp da dịch chuyển từ điểm này sang điểm khác, đây rõ ràng là cách di chuyển của loài sâu hay côn trùng gì đó. Lúc nhiều nhất có thể cùng lúc thấy sáu bảy chỗ gồ lên như thế dịch chuyển bên dưới da, có lúc chúng như bọn nòng nọc bơi trong hồ nước, tốc độ nhu động rất nhanh, cũng có lúc lại dừng lại, nhúc nhích từng chút từng chút một như bọn tằm đang gặm lá dâu; lại có lúc hai con đụng đầu nhau, rồi quấn chặt lại, tựa như đang tranh đoạt, lần nào con thất bại cũng nhúc nhích về phía lồng ngực Sean rồi biến mất.

Đây chính là nguyên nhân Sean gầy đi một cách nhanh chóng như vậy... chất dinh dưỡng họ truyền vào người Sean đều bị những sinh vật kỳ quái ấy hấp thu hết sạch. Mà bọn chúng dường như vẫn không có ý định dừng lại, vẫn còn tiếp tục lần lượt ăn hết nội tạng của anh ta. Trác Mộc Cường Ba tựa hồ còn nghe thấy cả những âm thanh “nhồm nhoàm” phát ra lúc chúng đang ngon lành gặm nhấm thức ăn nữa.

Trương Lập và Nhạc Dương cũng bước đến. Vừa nhìn thấy cảnh tượng đó, suýt chút nữa Trương Lập đã kêu toáng lên. Nhạc Dương vội bịt miệng anh lại, kéo sang một bên, giận dữ gắt gỏng: “Anh làm cái gì vậy? Lỡ để anh Sean nghe thấy thì sao?”

Sau khi để lại pháp sư Á La trông chừng Sean, những người còn lại đều bước sang một bên thảo luận. Lữ CánhNam nói: “Giờ thì coi như đã biết được nguyên nhân thực sự của hiện tượng lạ xảy đến với Sean rồi. Tại sao thuốc kháng viêm không có tác dụng? Tại sao lại sốt cao? Tại sao lại tê liệt? Tất cả đều do loài sinh vật ký sinh trong cơ thể anh ấy gây ra cả.”

Trương Lập thắc mắc: “Nhưng mà, chuyện này xảy ra từ lúc nào vậy nhỉ? À, chẳng lẽ là do bị con muỗi đó...”

Nhạc Dương nói: “Muỗi đẻ trứng bằng vòi ở đuôi cơ mà? Sao lại dùng miệng được? Hay là lúc ở trong hồ nước...”

Đường Mẫn lắc đầu: “Không thể nào, lúc ấy cả bọn chúng ta đều bị thương, nhưng chỉ có mỗi mình Sean là có vấn đề thôi.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Chắc là như vậy rồi, đây cũng là nguyên nhân giải thích tại sao tôi thì vẫn ổn còn Sean lại gặp vấn đề, khi ấy con muỗi đó đã đâm xuyên qua cánh tay tôi, còn Sean thì chỉ bị đâm vào một nửa. Dùng miệng để đưa ấu trùng vào ký sinh trong vật chủ, đây đích thực là một phương thức sinh sôi nảy nở rất tốt.” Gã bỗng phát hiện khi nghe thấy hai chữ “vật chủ”, Lữ Cánh Namnhìn mình với ánh mắt rất quái dị.

Đội trưởng Hồ Dương lắc đầu: “Cũng chưa chắc đã là ấu trùng của muỗi, cần biết rằng, bản thân muỗi đã là kẻ gieo rắc, khi hút máu, chúng có thể mang ký sinh trùng ở cơ thể mình chuyển sang những cá thể khác.”

Nhạc Dương nắm chặt bàn tay lại nói: “Vậy mà chúng ta không nghĩ ra, giờ thì rõ hết cả rồi!” Nguyên nhân chủ yếu là vì hình dáng bọn muỗi khổng lồ ấy quá dữ tợn, thực sự khiến người ta khó mà liên tưởng đến loài muỗi ở thế giới bên ngoài kia.

Lữ Cánh Nam nói: “Thông qua sự tuần hoàn máu, trước tiên chiếm cứ trung khu thần kinh, sau đó làm tê liệt toàn bộ thân thể con mồi, cắt đứt mọi cảm giác, như vậy có thể đảm bảo con mồi sống được một thời gian dài, không đến nỗi chết vì đau đớn, để cho chúng ăn từ từ. Bọn chúng vừa ăn, vừa bài tiết, chất bài tiết này có hàm lượng độc tính rất cao, gây thương tổn nghiêm trọng đến vật chủ. Loài ký sinh trùng này, quả thực quá đáng sợ!”

Đội trưởng Hồ Dương hỏi: “Giờ tính sao đây? Bắt bọn sâu ấy ra à?”

Đường Mẫn lắc đầu: “Cần quan sát trước đã, mấy ngày trước dùng máy siêu âm màu cũng đâu phát hiện được chúng.”

“Ừm,” Lữ Cánh Nam nói, “kết cấu cơ thể bọn sâu này rất giống với kết cấu các tổ chức mềm trong cơ thể người, nếu chúng náu mình trong các mạch máu thì siêu âm màu cũng khó mà nhận ra được.”

Trở lại bên cạnh Sean, dùng máy siêu âm màu kiểm tra lại, tất cả đều kinh ngạc đến nỗi không thốt lên nổi một lời. Khoảng trống, khoảng trống, khoảng trống, trên màn hình hiển thị cả phần bụng Sean chỗ nào cũng toàn là khoảng trống. Đường Mẫn vừa kiểm tra, nước mắt vừa lã chã tuôn rơi.

Lá gan đã bị ăn mất một phần ba, phổi gần như cũng chỉ còn khoảng một nửa, dạ dày và ruột đều thủng lỗ chỗ, nội tạng của Sean lúc này giống như cái tổ kiến có hàng trăm lối ra vào. Lần này, thông qua hình ảnh 3D, mọi người có thể thấy rõ ràng, lũ ký sinh trùng to bằng ngón tay trong ổ bụng Sean đang cuồn cuộn vặn vẹo như một đám ruột non cuốn vào nhau. Không hiểu chúng dùng cách gì, từ từ ăn hết các tổ chức mô, nhưng mạch máu thì vẫn giữ nguyên không hề tổn hại gì. Chỉ thấy những mạch máu to như rễ cây lúc này đang chăng như mạng nhện trong khoang bụng trống rỗng, phập phồng theo nhịp tim đều đặn, lúc thì tóp lại, thoáng sau đã căng phồng. Cảnh tượng quái dị trong màn hình hiển thị, khiến họ bất chợt nhớ đến loại dây leo kỳ dị mà đáng sợ bên trong Đảo Huyền Không tự.

Ba Tang lạnh lùng nói: “Anh ta không sống nổi đâu.” Ý muốn bảo đã tới lúc nghĩ đến chuyện bỏ Sean lại rồi, sự thực là, anh ta cũng đã nhẫn nhịn suốt mấy ngày nay không nói ra rồi.

Trác Mộc Cường Ba đột nhiên vươn tay ra, chụp lấy cổ áo Ba Tang, nhấc anh ta lên trước mặt mình, từ trên cao nhìn chằm chằm vào mắt đối phương, hai tay run lên khe khẽ. Ba Tang không ngờ Cường Ba thiếu gia lại giận dữ đến thế, nên cũng không tránh kịp cú chộp ấy của gã. Trác Mộc Cường Ba cố gắng khắc chế cảm xúc đang trào lên, cuối cùng cũng dập tắt được ngọn lửa giận đang bốc lên bừng bừng trong tâm thức, hạ thấp giọng, nhưng hết sức kiên định, nói: “Tôi không muốn nhắc lại một lần nào nữa, Trác Mộc Cường Ba này, không bao giờ bỏ rơi, bất cứ một người nào cả! Anh ấy là đồng đội của chúng ta đó, Ba Tang!”

Đây là câu nói cuối cùng mà Sean nghe thấy được. Cuối cùng, màng nhĩ anh ta đã vỡ toang, dịch mủ chảy ra theo hai lỗ tai, rồi anh ta nhanh chóng cảm nhận được sự tĩnh lặng tuyệt đối, trong lòng buồn bã thầm nhủ: “Cường Ba, không quen anh sớm hơn, thật là một điều đáng tiếc! Thì ra thế giới này cũng có thể thanh bình đến thế. Mình sắp chết rồi sao? Đây chắc là báo ứng, theo cách nói của người Trung Quốc...”

Trác Mộc Cường Ba đặt Ba Tang xuống. Nhưng Ba Tang cũng không có ý định từ bỏ ý đồ của mình, anh ta hỏi vặn lại: “Vậy anh tính làm sao?” Tình hình trước mắt đã rất rõ ràng, khoang bụng của Sean đã bị bọn ký sinh trùng ăn cho tan hoang, mặc dù nét mặt anh ta không có vẻ gì đau khổ, nhưng có ai dám khẳng định rằng, nỗi đau đớn không thể nào biểu đạt ra ấy không phải là càng đau đớn hơn bội phần? Bất luận có giết được bọn ký sinh trùng chưa rõ nguồn gốc lai lịch kia hay không thì Sean cũng chỉ sống được thêm một hai ngày nữa là cùng, mà với tình trạng như lúc này, sống thêm một ngày, là anh ta lại thêm một ngày đau khổ.

Trác Mộc Cường Ba không trả lời được. Ba Tang đặt tay lên cán đao, ánh mắt lạnh lùng như lưỡi dao đâm vào lồng ngực Trác Mộc Cường Ba. Ánh mắt Trác Mộc Cường Ba dấy lên niềm bi thương vô hạn, trong lòng thầm nhủ: “Ba Tang, sao anh có thể lạnh lùng đến thế? Người đó là chiến hữu đã từng đồng sinh cộng tử với chúng ta mà.”

Ánh mắt Ba Tang không hề nhượng bộ, đôi mắt lạnh lẽo ấy như thể đã đưa ra câu trả lời: “Tôi được tái sinh từ trong phần mộ, tôi đã phải giẫm đạp lên thi thể của chiến hữu để sống sót trở về. Tim tôi đã chết, nhưng chúng ta đều phải tiếp tục sống, xin hãy chấp nhận sự vô tình của tôi đi.”

Trác Mộc Cường Ba quay người đi, gã không thể đối diện với chuyện này. Những người khác cũng đều đang sụt sịt, cúi gằm mặt xuống. Ba Tang rút dao ra “choeng” một tiếng, lưỡi đao tỏa ra khí lạnh rợn người, nhưng mới rút ra được một nửa đã bị Lữ Cánh Nam ấn lại. Chỉ nghe cô điềm đạm nói: “Để tôi xử lý cho.” Cô mở cái bao da đựng thuốc ra, trong đó không chỉ có các loại thuốc men chữa bệnh, đồng thời, cũng có cả những thứ mang đến sự hủy diệt nữa.

Lữ Cánh Nam lấy ra một lọ thuốc ngủ, chầm chậm chuyển động thân lọ, hàng chữ bên trên đã ghi rõ, chỉ cần mười lăm giây là nó có thể đưa người ta vào giấc ngủ vĩnh hằng. Lữ Cánh Nam bất giác cắn môi, đây cũng là lần đầu tiên cô đảm nhậm vai trò này.

Chất lỏng trong suốt được tiêm vào mạch máu Sean, nó sẽ nhanh chóng theo dòng chảy của máu đi khắp thân thể, lúc đó, tất cả đều kết thúc. Lữ Cánh Nam tiêm xong, cả người khẽ run lên, rút đầu kim ra, đột nhiên vung mạnh tay ném ống kim tiêm ấy ra thật xa, tựa hồ như đó là thứ đã bị ma quỷ chạm vào, cô không thể cầm trên tay được nữa. Tất cả mọi người, đều lẳng lặng đứng đó, lẳng lặng cúi gằm mặt xuống.

Trác Mộc Cường Ba thì ngồi xổm ở một góc xa, cái vẫy tay rất lịch sự ấy, nụ cười thân thiện hữu hảo ấy, mái tóc bạch kim bay bay, tựa như đang hiện lên trước mắt gã. Lữ Cánh Nam bước lại gần, khuyên giải: “Trước khi xuất phát, chúng ta đều đã chuẩn bị tâm lý cả rồi mà, không phải vậy sao?”

Trác Mộc Cường Ba không hề nể nang, nói vặc lại: “Người ta từ tận bên kia đại dương tới, không có bất cứ yêu cầu nào, mà chỉ vì từng cùng băng rừng ở châu Mỹ đã khẳng khái nhiệt tình giúp đỡ chúng ta. Nếu không có Sean, cả bọn chúng ta liệu có mấy người sống sót? Còn các người thì sao? Ngoài nghi ngờ, các người đã làm gì chưa?”

Lữ Cánh Nam ngẩn người, cô không ngờ thì ra Trác Mộc Cường Ba phản cảm với thái độ cẩn trọng của bọn họ như thế. Nhưng về mặt này, cô cũng có những nguyên tắc của riêng mình: “Không sai, tôi nghi ngờ anh ta đấy, cho đến bây giờ cũng không hết nghi ngờ, đây là chức trách của tôi.” Nói tới đây, ngữ điệu đột nhiên thay đổi: “Nếu một ngày nào đó, tôi cũng giống như Sean thì sao?” Trác Mộc Cường Ba ngạc nhiên ngoảnh đầu lại.

Đúng lúc ấy, Đường Mẫn chợt gọi vang: “Anh Cường Ba, chị Cánh Nam, mau đến xem Sean này!”

Hơi thở của Sean ngắn mà gấp gáp, lũ ký sinh trùng trong khoang bụng anh ta rõ ràng đã bị chất thuốc ảnh hưởng, đang lăn lộn bên trong đó, dưới lớp da như có vô số con ếch nhỏ đang giãy giụa muốn thoát ra khỏi cơ thể Sean. Lớp da nhẽo nhèo ấy đột nhiên bật tung lên, phần bụng phồng to như cái lều, kế đó lại xẹp xuống, rồi lại có chỗ khác bật lên, có lúc có tới mấy điểm cùng bật lên, tựa như trong bụng anh ta đang có một con quái thú nhe nanh múa vuốt muốn phá toang lớp da bọc bên ngoài thoát ra vậy.

Trong thế giới tĩnh lặng ấy, Sean đang hồi tưởng vô số đường hầm trong mộ cổ, các loại cạm bẫy bí mật, nếu không có vụ án đó, nếu không gặp tấm bản đồ ấy, có lẽ giờ đây anh ta đã trở thành một luật sư xuất sắc rồi cũng nên. Anh ta lại nhớ đến những người trong tổ chức, anh ta đã học được ở họ một lượng tri thức đáng sợ, theo họ đến những nơi kinh hoàng nhất, kích thích mà điên cuồng nhất, đã bao giờ được nghỉ ngơi trong bình lặng thế này! Đột nhiên, Sean bỗng thấy tỉnh táo lạ thường, tri giác của anh ta dường như đã hồi phục, cảm giác đau đớn thấu tim gan từ khắp mọi bộ phận trên cơ thể truyền về, trong bụng dường như có gì đó đang bò qua bò lại, có thứ gì đó đang cắn mình. Anh ta đột nhiên sực hiểu ra tất cả, mấy ngày trước chẳng phải mình luôn lo lắng chuyện này sao? Đến phút cuối cùng không ngờ lại không nghĩ đến nó thì ra, đây chính là...

Sean bỗng nhiên khôi phục lại quyền kiểm soát cơ thể, miệng đã ngậm lại được, kế đó liền gắng sức hét lên: “Po li si - mei ke - ku te...”

Những người cạnh đó đều giật bắn mình, Sean đột nhiên ngồi bật dậy, miệng phát ra tiếng hét chói tai. Đồng thời, vì quá đau đớn, anh ta bất giác đưa tay móc vào bụng mình, lớp da mỏng dính lập tức bị móc toang một vết lớn, “toẹt” một tiếng, máu và các cơ quan nội tạng bị tàn phá tuôn ào ra ngoài, đồng thời còn có cả mấy con sâu màu trắng như mỡ dê, toàn thân gần như trong suốt, tựa hồ không nhuốm một chút máu nào. Nếu không có cơ thể khô kiệt đang run rẩy của Sean ngay bên cạnh, thử hỏi ai có thể liên tưởng bọn chúng với cảnh tượng tàn nhẫn khủng khiếp nhường này cơ chứ?

Sau khi để lại lời cuối cùng, Sean lại ngã xuống, lần này, anh ta đã biến thành một cái xác không còn sự sống.

“Sean!”

“Anh Sean!”

...

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 15

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự