Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể Like, Đánh Dấu, Chuyển Giao Diện Đọc... Chỉ mất 40 giây của bạn thôi nhưng còn nhiều đều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 34 THỦY TINH CUNG

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã

Phiên bản Dịch · 23719 chữ · khoảng 86 phút đọc

CHƯƠNG 34:

THỦY TINH CUNG

Merkin thở dài nói: “Thật không ngờ đấy, thì ra tấm bản đồ cũng chỉ đường đến nơi này, xem ra hồi ức của Tây Mễ là chính xác rồi, giờ chỉ còn xem rốt cuộc tấm bản đồ ấy chỉ tường tận đến mức nào thôi. Mấy trăm cây số lưng chừng núi bị bao bọc trong sương tuyết mù mịt, lại chỉ có một lối vào rộng chừng một mét là có thể đi xuống dưới, đám giáo đồ Mật giáo cổ đại ấy sao lại tìm ra được nơi như thế chứ? Thật là không thể tin nổi…

Hậu duệ Bạch Ngân

Người áo xám bước vào nhà, không ngờ lại là Lạt ma Á La. Ngọn lửa nhỏ trong bếp lò vùng vẫy run rẩy một hồi, ánh sáng hắt lên chiếu vào gương mặt ông, già nua mà điềm tĩnh. “Anh biết là tôi sẽ đến…”

“Đó là lẽ dĩ nhiên.” Cương Nhật Phổ Bạc kéo một chiếc thảm trên giường đắp lên đầu gối, đoạn nói: “Ông nhất định có rất nhiều chuyện muốn hỏi tôi, vừa khéo, tôi cũng có khá nhiều chuyện muốn hỏi ông. Một nghìn năm rồi, các ông trước sau vẫn không chịu bỏ cuộc, xem ra, năm xưa Đạo quân Ánh sáng không chỉ mang đi báu vật trong Tứ phương miếu thôi phải không, ngoài ra còn thứ gì đó khác có thể khiến các người quyết chí đi tìm như thế?”

Lạt ma Á La hỏi ngược lại: “Còn các anh? Cũng cùng chung cảnh ngộ, cùng chung vận mệnh, chẳng phải các anh cũng chưa từng bỏ cuộc đấy hay sao?”

“Không!” Cương Nhật Phổ Bạc nhìn ngọn lửa đang nhảy múa đến mức xuất thần, trầm giọng xuống: “Gia tộc chúng tôi đã bỏ cuộc từ lâu rồi. La Long Ni Khắc – Cương Nhật Phổ Bạc tôi đây, đã là người cuối cùng của gia tộc, trở thành một gã hậu duệ Bạch Ngân danh phù kỳ thực. Khi tổ tiên tôi chọn lựa mảnh đất này để định cư, chúng tôi đã thôi không còn tìm kiếm nó nữa. Có lẽ, cứ để bí mật ấy chôn vùi trong dòng sông thời gian thì tốt hơn.”

Nói tới đây, Cương Nhật Phổ Bạc ngẩng đầu lên mỉm cười với Lạt ma Á La, rồi hỏi: “Xem ra thì bọn Cường Ba vẫn chưa biết thân phận thực sự của đám Mật tu giả các ông phải không?”

Lạt ma Á La gật đầu: “Đợi thời cơ đến rồi mới cho họ biết thì tốt hơn.”

Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Điều này thì tôi có thể hiểu được. Thế nhưng, các ông đã để họ giúp đỡ tìm kiếm Bạc Ba La, song dường như lại không nói cho họ biết mấy thông tin thì phải? Đến cả lang tiêu mà cũng không biết là gì…”

Lạt ma Á La nói: “Hầu hết tư liệu chúng tôi nắm được đều đã đưa cho họ cả rồi, vấn đề còn lại là phải xem họ lĩnh ngộ lý giải được bao nhiêu mà thôi; còn về lang tiêu, bản thân tôi cũng không ngờ đến ngày nay nó vẫn còn phát huy được tác dụng; ngoài ra còn một số việc mà chúng tôi không biết, đây chính là lý do tôi đến tìm gặp anh.”

“Ừm”, Cương Nhật Phổ Bạc tựa như ngộ ra điều gì đó, nói: “gia tộc chúng tôi vì bị vu hãm, không nuốt được mối hờn căm này, nên mới quyết tìm Dquas hòng rửa nỗi oan khuất mà gia tộc phải gánh chịu. Tất nhiên, có thể tìm thấy các bảo vật trong Tứ phương miếu, trùng chấn lại thanh uy của gia tộc, khôi phục sự huy hoàng năm xưa cũng là một nguyên nhân rất quan trọng. Còn các ông thì sao?”

Đêm đã khuya, Cương Lạp hoàn toàn không hứng thú chút nào với câu chuyện của hai người, nó cụp tai ngủ thiếp đi, chỉ còn ngọn lửa là vẫn nhảy múa không biết mệt mỏi.

Sáng sớm hôm sau, Nhạc Dương dậy rất sớm, chỉ thấy cảnh vật bên ngoài đẹp mê hồn, không khí trong lành, hồ nước núi non trông như tranh vẽ, anh chàng tập một bài thể dục, hít thở không khí thanh khiết, tinh thần sảng khoái, không kìm được mà phải ca tụng rằng, nếu được ở đây chắc chắn sẽ sống lâu thêm mấy năm.

Nhạc Dương đã nghe Trác Mộc Cường Ba kể, rằng người Đạt Mã rất thanh đạm chất phác, cuộc sống đơn giản đến khó có thể tin nổi. Đàn ông trưởng thành chặt củi rèn sắt, còn dệt vải và dọn dẹp nhà cửa là việc của đàn bà, người già thì ngồi ngoài cửa xe sợi, nếu không thì đan lưới, hôm nào trời lạnh quá thì ngồi bên bếp lò. Dạo trước, trẻ con ở đây còn ít được giáo dục, đa phần đều được để mặc ngoài đồng cỏ với bò cừu hoặc tự do chơi đùa với bạn bè cùng lứa, lớn lên thì kết hôn sinh con, toàn bộ cuộc sống chỉ có thế, ngày lại qua ngày. Khi nghe kể mười mấy năm trước, trẻ con ở đây không cần đọc sách đi học, Nhạc Dương và Trương Lập không những không cảm thấy thương hại chúng, ngược lại còn tỏ ra hết sức ngưỡng mộ nữa.

Nhạc Dương đang say sưa ngắm cảnh, thấy Trương Lập cũng bước ra, liền cất tiếng: “Chào buổi sáng!”

Trương Lập nói: “Tập hợp, tập hợp, giáo quan gọi tập hợp kìa!”

Các đồng chí ở Cục Khí tượng thông báo, trong khoảng thời gian ngắn tới đây thời tiết không thích hợp cho leo núi, Lữ Cánh Nam nói với các thành viên trong đội, mấy ngày này sẽ để dân làng dẫn họ đi thăm dò các tuyến đường, hy vọng có thể tìm được con đường lên núi nào khác ngoài con đường đã bị đàn sói chiếm cứ.

Vì lý do an toàn, mọi người vẫn chia làm ba nhóm do những dân làng quen thuộc địa hình dẫn đường, cẩn thận tránh xa khu vực bầy sói tập trung, đi khắp xung quanh núi tuyết để đo đạc quan trắc. Mấy ngày liền bôn ba vất vả, đến cả người như Trác Mộc Cường Ba cũng cảm thấy hơi mệt mỏi, xem ra họ vẫn phải tăng cường rèn luyện thể lực thêm nữa.

Không chỉ vậy, họ còn chẳng có thời gian để nghỉ ngơi. Mỗi ngày trở về đều phải chỉnh lý, phân tích các tuyến đường mới thăm dò được, còn phải tiếp tục nghiên cứu tấm bản đồ đã được các chuyên gia đánh dấu kia. Hướng đi của mạch núi nhìn đại để thì không sai rồi, nhưng trên bản đồ không đánh dấu chỉ đường lên núi, đây cũng là lý do căn bản khiến họ phải nhọc công đến vậy. Lữ Cánh Nam nói với mọi người, về nơi này, ngọn núi này, ngoài bản đồ ra còn một bằng chứng khác nữa. Trong tư liệu lịch sử từng có ghi chép rất rõ ràng, tượng Phật và kinh thư theo Văn Thành công chúa vào đất Tạng năm xưa xuất hiện lần cuối cùng chính ở huyện Đạt Mã này, bởi thế mà từ rất nhiều năm trước, nhà nước đã tiến hành khảo sát ở khu vực núi non gần đây. Có điều khi ấy còn chưa có bản đồ chỉ rõ là ngọn núi nào, mà điều kiện kỹ thuật cũng không được hoàn bị cho lắm, cuối cùng đội khảo sát đã mất tích toàn bộ ở khu vực này, nghĩ lại thì có lẽ chính là lần mà Mã Bảo nhắc đến lúc họ mới tới đây rồi. Lữ Cánh Nam nói, về sau, nhà nước còn tổ chức đội khảo sát khoa học tới đây thăm dò nhiều lần nữa, nhưng vì nhiều nguyên nhân khác nhau, nên cuối cùng cũng vẫn buộc phải bỏ cuộc. Nhạc Dương lập tức liên tưởng đến người dẫn đường Cương Nhật Phổ Bạc mà đội trưởng Hồ Dương nhắc tới, liền thì thầm nói riêng với Trác Mộc Cường Ba rằng, có lẽ Lạt ma Á La biết một số việc liên quan đến Cương Nhật Phổ Bạc, có điều tới giờ anh vẫn chưa nghĩ ra nên hỏi ông như thế nào thôi.

Trác Mộc Cường Ba kinh ngạc nói: “Còn phải hỏi như thế nào nữa à? Trực tiếp hỏi thôi, để tôi đi tìm đại sư luôn.”

Trác Mộc Cường Ba tìm được Lạt ma Á La, liền hỏi ngay: “Đại sư, hôm qua ngài và a quả đọ sức một trận, có phải đã nhận ra được điểm gì đó từ thân thủ hay gì đấy của anh ấy phải không? Thí dụ như thân phận, lai lịch gì đó chẳng hạn. Nói thực lòng, tôi đã ở với anh ấy hơn nửa năm, trước giờ vẫn cứ nghĩ anh ấy chỉ là một người dân Tạng bình thường, nhưng hôm qua, từ những hiểu biết của anh ấy về Đạo quân Ánh sáng và Bạc Ba La, có thể thấy thân phận của a quả dường như không tầm thường một chút nào.”

Lạt ma Á La hơi ngạc nhiên đưa mắt nhìn Trác Mộc Cường Ba, hiển nhiên ông không ngờ gã lại đem mình và Cương Nhật Phổ Bạc liên hệ với nhau nhanh như vậy. Có điều cuộc nói chuyện đêm qua với Cương Nhật Phổ Bạc đã mở được khá nhiều nút thắt nghi vấn trong lòng ông, vậy nên đại sư cũng thẳng thắn trả lời luôn: “Đúng thế, tôi biết thân phận của Cương Nhật Phổ Bạc. Anh ta là người của gia tộc La Long Ni Khắc, chúng tôi gọi họ là hậu duệ Bạch Ngân.”

Thấy Trác Mộc Cường Ba hoàn toàn không hiểu gì, Lạt ma Á La nở một nụ cười điềm đạm, ý bảo gã tìm chỗ nào đó ngồi xuống, chậm rãi giải thích: “Sự việc này, thông thường phải là người hiểu biết về lịch sử các gia tộc ở Thổ Phồn mới dễ dàng thông hiểu được. Để tôi nói về gia tộc trước nhé. Vương triều Thổ Phồn hùng cứ cao nguyên Thanh Tạng cả mấy trăm năm, ngoài hai gia tộc thế gia đại thần Nương thị và Vi thị, còn có rất nhiều gia tộc được trọng dụng qua nhiều triều đại, họ cũng giống như Dương gia tướng, Nhạc gia tướng, Tiết gia tướng… mà ngày nay mọi người đều đã quá quen thuộc rồi vậy. Triều đại thay đổi, quý tộc thế tập cha truyền con nối, có rất nhiều gia tộc đã cùng hưởng vinh chịu nhục với Thổ Phồn. Đây chính là gia tộc, mỗi triều đại đều có mấy gia tộc lớn mạnh, tôi không nhắc đến hết ở đây, mà chỉ nói riêng về gia tộc La Long Ni Khắc thôi. Cậu cũng biết rồi đấy, Đạo quân Ánh sáng là lực lượng chiến đấu mạnh nhất do Tạng vương Tùng Tán Can Bố lập nên, về sau thì chủ thể của Đạo quân Ánh sáng là bộ tộc Qua Ba, nhưng trước khi chiến thắng Tượng Hùng, cậu có biết những người nào là chủ thể của Đạo quân Ánh sáng này hay không?”

Trác Mộc Cường Ba đã lờ mờ đoán được: “Lẽ nào lại là…”

Lạt ma Á La gật đầu: “Đúng thế, chính là gia tộc La Long Ni Khắc. Trong lịch sử, họ cũng từng được gọi là Nô bộc của Ánh sáng, họ chính là Đạo quân Ánh sáng tiền nhiệm. Sau khi bộ tộc Qua Ba được biên vào làm bộ phận chính của Đạo quân Ánh sáng, gia tộc La Long Ni Khắc được thuyên chuyển sang một cánh quân khác, ngoài chuyện đó ra, họ vẫn đảm nhận sứ mệnh giống như Đạo quân Ánh sáng, cũng tức là quân thân vệ của Tạng vương. Cũng có nghĩa là, vào thời đó, gia tộc La Long Ni Khắc đảm nhiệm cùng một cương vị với Đạo quân Ánh sáng, họ chính là những người tiếp cận gần nhất với bộ tộc Qua Ba. Còn nữa, tôi vẫn nhớ hôm qua Nhạc Dương đã nhắc đến một chuyện, nói rằng tại sao Tạng vương lại dám dùng một đội quân không trực tiếp trung thành với mình làm cận vệ, gia tộc La Long Ni Khắc này, chính là một trong các nguyên do đó. Gia tộc này đã trực tiếp thề sẽ tận hiến sức lực cho Tạng vương, so về số lượng trong quân thân vệ thời bấy giờ, bọn họ còn đông hơn cả Qua Ba tộc, đại khái cũng có vai trò khắc chế bộ tộc Qua Ba, cân bằng thực lực. Bởi vậy, khi Đạo quân Ánh sáng đột nhiên biến mất, gia tộc này cũng phải đối mặt với nguy cơ vô cùng to lớn…”

Lạt ma Á La ngừng nói, Trác Mộc Cường Ba liền thắc mắc: “Đạo quân Ánh sáng biến mất thì liên quan gì với bọn họ kia chứ?”

Lạt ma Á La nói: “Đạo quân Ánh sáng tuy là đội quân bí mật của Thổ Phồn, nhưng không phải là không ai hay biết, ít nhất cũng có hai gia tộc Nương thị và Vi thị là biết chuyện. Hơn nữa, khi ấy, những gia tộc lớn mạnh, nắm giữ các bí mật tối cao của quốc gia cũng ít nhiều biết được một chút. Vì vậy, bí mật về nguyên do tại sao Đạo quân Ánh sáng có thể trở thành lực lượng chiến đấu mạnh nhất của vương triều Thổ Phồn vẫn là điều mà các gia tộc lớn đều khao khát nhòm ngó. Sau khi Đạo quân Ánh sáng biến mất, cân bằng thế lực giữa các gia tộc lớn bị phá vỡ, không còn lực lượng nào áp chế được họ nữa, những gia tộc này thèm khát được sở hữu sức mạnh của Đạo quân Ánh sáng; hơn nữa, cậu chớ quên rằng, cùng biến mất với Đạo quân Ánh sáng còn có tất cả báu vật của vương triều Thổ Phồn thời kỳ toàn thịnh. Chỉ với hai điểm này thôi, cũng đủ khiến những gia tộc thực lực hùng mạnh kia đào đất sâu ba thước lên tìm kiếm bất cứ đầu mối nào liên quan đến Đạo quân Ánh sáng rồi. Mà những đầu mối này, ngoài hai gia tộc Nương thị và Vi thị ra, ai sẽ là người bị nghĩ đến đầu tiên chứ?”

Trác Mộc Cường Ba giờ mới hiểu ra: “Gia tộc La Long Ni Khắc!”

Lạt ma Á La gật đầu: “Không sai. Họ từng đảm nhiệm công việc ở cùng một nơi với Đạo quân Ánh sáng, lại là người tiền nhiệm của bộ tộc Qua Ba, trong con mắt người ngoài, chắc chắn họ còn biết rất nhiều ẩn tình bên trong mà không ai khác biết được. Vì vậy, trong cuộc chiến loạn sau này, vận mệnh của họ cũng giống như những người Qua Ba bị Đạo quân Ánh sáng bỏ rơi vậy, họ trở thành mục tiêu đầu tiên mà các gia tộc lớn muốn đối phó. Những gia tộc hơi có thực lực một chút, đều muốn tìm được đầu mối về Đạo quân Ánh sáng từ gia tộc La Long Ni Khắc. Liên tiếp nhiều năm chinh chiến, dẫu rằng sức chiến đấu của gia tộc La Long Ni Khắc cực cao, nhưng rồi cuối cùng cũng không thể thoát được số phận bi thảm. Thế nhưng, sự thực là họ cũng hoàn toàn không hề hay biết về sự biến mất của Đạo quân Ánh sáng, chỉ là vô tình đã trở thành chìa khóa mở cửa kho báu trong mắt người ngoài mà thôi.”

Trác Mộc Cường Ba bừng tỉnh ngộ, nói: “Thì ra là vậy. Thế nên để rửa sạch mối oan khiên, họ phải tìm ra Đạo quân Ánh sáng, và cũng gia nhập hàng ngũ những người đi tìm kiếm Bạc Ba La. Chẳng trách a quả lai nói, gia tộc nhà họ đã tìm kiếm gần nghìn năm nay rồi.”

Lạt ma Á La gật đầu: “Ừm, về sau những hậu nhân của gia tộc La Long Ni Khắc còn sống sót sau cơn chiến loạn đã bị buộc phải thay tên đổi họ, sống lưu vong hoặc ẩn cư. Có điều, để ghi nhớ lòng trung thành của họ với vương thất và sự cống hiến trong công cuộc mở rộng cương thổ của vương triều Thổ Phồn, người đời sau gọi họ là hậu duệ Bạch Ngân, ý chỉ những võ sĩ mạnh mẽ, sức chiến đấu chỉ đứng sau có Đạo quân Ánh sáng.”

Trác Mộc Cường Ba lại nó: “Vậy hôm qua làm sao đại sư nhận ra được th ân phận của anh ấy thế?”

Lạt ma Á La mỉm cười: “Chuyện này thì đơn giản thôi. Đầu tiên cậu phải biết, lịch sử của một số gia tộc thậm chí còn dài hơn cả bản thân vương triều Thổ Phồn nữa, những gia tộc này đều có huy chương, kỳ hiệu và những hoa văn trang trí đặc trưng chỉ thuộc về gia tộc họ. Thời đó, chỉ cần nhìn thấy những tiêu chí đặc biệt này, là lập tức có thể nhận ra đây là thuộc về gia tộc nào, cũng giống như bây giờ cậu thấy logo của ngân hàng Kiến thiết, ngân hàng Công thương là nhận ra ngay vậy thôi. Tôi nhận ra tiêu ký của gia tộc La Long Ni Khắc trên cán đao Cương Nhật Phổ Bạc, mà thực ra, đến ngày nay, mọi người cũng vẫn thường trông thấy những tiêu ký đó mà.”

Thấy vẻ hoài nghi trên mặt Trác Mộc Cường Ba, Lạt ma Á La nói: “Vì chiến tranh, những gia tộc ấy thường là bị tiêu diệt toàn bộ, huy hiệu của họ tản mát khắp trên cao nguyên, bị che phủ trong những bờ cây bụi cỏ. Về sau, khi dân du mục tìm thấy chúng, lịch sử đã bị lãng quên, nên người ta không thể nhận ra được đó là vật thuộc về ai, ở thời nào nữa, liền coi là những thứ trên trời rơi xuống, là vật trời cao ban tặng, vậy là những huy hiệu của gia tộc ấy liền được coi là vật tượng trưng cho may mắn, được giữ gìn như một thứ bùa hộ thân. Những huy hiệu gia tộc ấy, cũng chính là thiên khâm mà người ta vẫn thấy bây giờ. Tất nhiên, thiên khâm không chỉ gồm có huy hiệu của gia tộc, mà còn có cả các pháp khí từng được các tôn giáo cổ đại sử dụng. Ngoài ra, trong số rất nhiều hoa văn kỳ quái trên thiên châu, có không ít là hoa văn chuyên dụng của một số gia tộc nào đó, chỉ là đến ngày nay, e rằng không còn ai nhận ra được chúng nữa mà thôi.”

Lúc này, Nhạc Dương chạy đến hỏi: “Cường Ba thiếu gia, đại sư, hai người…”

Lạt ma Á La hỏi: “Nói chuyện xong rồi, có chuyện gì vậy?”

Nhạc Dương nói: “Cường Ba thiếu gia, giáo sư Phương Tân muốn anh qua nói một chút về tình hình bầy sói hôm trước.”

Trác Mộc Cường Ba đứng lên hỏi: “Các cậu chưa kể à?”

Nhạc Dương gãi đầu: “Giáo sư bảo chúng tôi kể không chuyên nghiệp chút nào…”

Trác Mộc Cường Ba cười lên ha hả, sải chân bước đi. Nhạc Dương ở phía sau căn vặn: “Thế nào, Lạt ma Á La nói gì vậy?”

Trở vào trong nhà, Mẫn Mẫn và Trương Lập đang tranh luận gì đó, rõ ràng cô không tin những gì Trương Lập kể cho lắm, giáo sư Phương Tân đang nhập dữ liệu vào máy tính. Trác Mộc Cường Ba đã tự mình trải qua vụ đụng độ với bầy sói, lại lựa ra những chỗ chính yếu, nên nhanh chóng giúp giáo sư Phương Tân hiểu được tất cả mọi chuyện họ gặp phải hôm trước.

Nghe Trác Mộc Cường Ba kể xong, giáo sư Phương Tân nói: “Rõ ràng là sói di cư rồi, nhưng lại có điểm khác biệt với tất cả những đàn sói di cư mà chúng ta từng nghiên cứu, tôi muốn đích thân đi quan sát một phen…”

“Không, không, không, không thể được…” giáo sư Phương Tân còn chưa dứt lời, đã bị mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba cực lực ngăn cản. Hệ số nguy hiểm quá lớn, nhưng giáo sư Phương Tân đâu dễ dàng bỏ cuộc đến thế, cuối cùng Trác Mộc Cường Ba đành nói, muốn đi cũng phải đợi vũ khí trang bị vận chuyển đến đã, sau đó còn phải hỏi ý kiến Lữ Cánh Nam, vậy mới khiến giáo sư Phương Tân tạm gác ý định đó lại.

Trương Lập nói: “À, tôi định hỏi anh từ hôm qua rồi cơ, Cường Ba thiếu gia, hôm trước anh nói, chỉ ở trong đàn sói di trú mới có thể xuất hiện vua sói, những đàn khác thì chỉ có sói đầu đàn, sói thống lĩnh, chuyện là như thế nào vậy?”

Trác Mộc Cường Ba đưa mắt nhìn giáo sư Phương Tân, nói: “Chuyện này để thầy giáo giải thích thì rõ ràng hơn.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Cậu có biết tập trí là gì không?”

Trương Lập và Nhạc Dương cùng lúc lắc đầu. Giáo sư Phương Tân liền giảng giải: “Thấy chưa, đây chính là chỗ tai hại của việc không thích học đấy. Tập trí, chính là chỉ trí tuệ tập thể. Hệ thần kinh của những cá thể nhỏ bé như ong mật hay kiến đều hết sức đơn giản, khi chúng là một cá thể thì hầu như chẳng có trí tuệ gì. Thế nhưng, khi số lượng cá thể đạt đến một con số nhất định, sẽ tự động nảy sinh một dạng trí tuệ tập thể, chúng có thể xây dựng những cái tổ phức tạp, tuân theo những quy tắc xã hội phức tạp, có lúc thoạt nhìn thấy gần như là xã hội loài người thu nhỏ vậy, thậm chí còn tinh chuẩn hơn cả con người nữa, tại sao lại như vậy chứ?”

Nhạc Dương và Trương Lập lại lắc đầu, giáo sư Phương Tân tiếp tục giải thích: “Ở đây có một vấn đề cấp độ. Một là điểm, vô số điểm nối lại với nhau thì thành đường, hai đường thẳng giao nhau thì thành một mặt phẳng, vô số mặt phẳng chồng chất lên nhau thì tổ hợp thành không gian lập thể mà chúng ta đang tồn tại, đây chính là không gian vĩ độ mà các nhà khoa học vẫn thường nói đến, các không gian vĩ độ cao đều do các không gian vĩ độ thấp tổ hợp mà thành. Đồng thời các nhà khoa học cũng cho rằng, phương diện trí tuệ cũng tương tự như vĩ độ không gian này vậy, sao các cậu ngây ra thế? Chà chà, vậy mà cũng không hiểu được hả? Thôi thì tôi nói đơn giản hơn một chút vậy, các cậu thử tưởng tượng một chút nhé, một cái bóng đèn nếu tắt hay sáng, thì nó chỉ có thể biểu thị tắt hay sáng thôi, có đúng không? Nếu như có một nghìn cái bóng đèn xếp thành hình vuông, vậy thì khi bật hay tắt một phần những bóng đèn trong đó, chẳng phải là sẽ có thể hiện thành những hình khác nhau hay sao? Như vậy đã hiểu được chưa, một con ong mật chính là một cái bóng đèn, nó không có trí tuệ gì cả, là một cá thể cùng lắm chỉ có một chút bản năng sinh tồn, nhưng khi cả đàn ong tập trung lại, bọn chúng liền trở thành động vật có tính xã hội, chúng có ong chúa, có ong đực, có binh sĩ chiến đấu, có con phụ trách ong non, có con thu thập lương thực. Khi ấy, hiện ra trước mắt chúng ta, là một đại biểu gia đình đầy trí tuệ.”

Nhạc Dương và Trương Lập đã hơi hơi hiểu, bắt đầu gật gù. Kế đó, giáo sư Phương Tân lại nói: “Kiểu trí tuệ tập thể này thích hợp với đại đa số các loài động vật quần cư, bao gồm cả tổ tiên loài người chúng ta; cùng một lý do đó, cũng bao gồm cả đàn sói. Khi đàn sói lấy gia tộc làm đơn vị, chúng chủ yếu là săn bắt, vấn đề mà con sói đầu đàn quan tâm chỉ là bảo vệ lãnh địa của gia tộc và địa vị thủ lĩnh của mình, đảm bảo gia tộc của nó có thể tiếp tục tồn tại lâu dài, mặc dù trong đàn sói có sản sinh ra quan hệ địa vị xã hội cao thấp, nhưng trí tuệ rất có hạn. Khi chúng phát triển thành một tập đoàn sói, quan hệ xã hội không chỉ là trong nội bộ gia tộc với nhau nữa, đồng thời, giữa các gia tộc cũng sẽ nảy sinh sự phân biệt về địa vị xã hội, săn bắt tập thể cũng cần sự phối hợp chặt chẽ hơn, điều động chỉ huy chuẩn xác hơn, có điều chúng cũng vẫn có một vấn đề,đó là vấn đề khu vực. Khu vực hạn định phạm vi hoạt động của chúng, không dám dời khỏi hoàn cảnh sinh tồn ban đầu của mình thì trước sau khó có thể đột phá được giới hạn thấp để nảy sinh trí tuệ tập thể. Cổ nhân có câu, đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường, trong thời đại không có thông tin điện tử như bây giờ, nếu muốn tăng cường kiến thức, thì cần phải du lịch khắp nơi, đối với bầy sói cũng vậy thôi. Chỉ có trên con đường di cư, chúng mới gặp được các sinh vật chủng loại khác nhau, giao lưu với những đàn sói ở khu vực khác, có thể học được các kỹ xảo săn bắt đặc biêt; trên đường di cư, mới cần phải thích ứng với những hoàn cảnh sinh tồn khác nhau; quan trọng hơn cả, là bầy sói di cư sẽ không ngừng lớn mạnh, khi số lượng sói trong đàn tăng đến một điểm giới hạn, toàn thể đàn sói sẽ nảy sinh đột phát, sản sinh ra trí tuệ tập thể mà tôi vừa nói đến.

Giáo sư Phương Tân hít sâu vào một hơi, nói: “Về điểm tới hạn này thì trong giới học thuật cũng chưa có định luận, tóm lại, nếu số lượng bầy sói tăng đến một cơ số tương đối lớn, cả bầy sẽ xuất hiện một thay đổi nghiêng trời lệch đất. Phải biết rằng, trong bản thân lũ sói đã tiến hóa ra các loại ngôn ngữ cơ thể, cơ chế phụ trách săn bắt và đẳng cấp xã hội rất nghiêm khắc, khi chúng nảy sinh hiện tượng trí tuệ tập thể, trí tuệ của cả bầy sẽ có một bước nhảy lớn. Có chuyên gia đã tính toán, khi đó, trí tuệ và hình thái xã hội của bầy sói sẽ có thể đạt đến hoặc vượt trên trình độ văn minh của xã hội nô lệ loài người. Nói một cách thông tục hơn, chẳng hạn như bầy sói di cư xuất hiện hôm nay vậy, chỉ số thông minh của chúng còn cao hơn cả người thời đồ đá, có khả năng là đã đạt đến trình độ văn minh của nước ta thời kỳ triều Hạ(1), hoặc giả có thể còn cao hơn. Sự thực là, xã hội loài người xưa cũng thông qua hình thức trí tuệ tập thể này mà tiến hóa tới thứ mà chúng ta ngày nay gọi là văn minh, người ta vẫn thường nói, con người có trí tuệ từ lao động, điều này không hoàn toàn chuẩn xác cho lắm, nói một cách chuẩn xác, thì phải là, con người có trí tuệ từ trong lao động tập thể.”

1. Ông giáo sư này nghiên cứu về chó nhiều quá đến mức không còn tỉnh táo nữa rồi. Trí tuệ tập thể chỉ là một trong nhiều điều kiện lịch sử để hình thành nên nền văn minh nhân loại; vì thế cho dù chó sói có chỉ số IQ cao như trong truyện, thậm chí vượt cả loài người, nhưng không có hai chi trước phát triển để có thể chế tạo và sử dụng công cụ lao động thì sói vẫn là… chó thôi. Điều này giáo trình Sinh học phổ thông đã nói qua rồi.

Bình minh núi tuyết

Nhìn vẻ mặt nghi hoặc của Nhạc Dương, giáo sư Phương Tân mỉm cười nói: “Tôi biết cậu muốn hỏi gì rồi, nếu bầy sói đã có thể tiến hóa đến đẳng cấp xã hội cao như thế rồi, tại sao lại không xuất hiện người sói phải không? Thực ra cũng rất đáng tiếc, tại sao ngày nay không xuất hiện người sói chứ? Đó chính là vì, bọn chúng đã chậm mất một bước, tổ tiên chúng ta đã tiến lên trí tuệ tập thể trước rồi, cũng chính là nền văn minh mà ngày nay mọi người vẫn nói, trong khi bầy sói muốn tiến lên một nền văn minh thuộc về loài sói thì lịch sử đã không cho phép nữa rồi. Cậu phải biết rằng, tiền để xuất hiện sói di cư là những năm tháng đói kém, nếu không có con người, bọn chúng đã có thể đạt được tiến hóa cực đại, nhưng rất đáng tiếc, con người đã tiến hóa trước chúng. Cậu thử nghĩ xem, khi khó khăn đói kém, con người cũng phải đối mặt với tình trạng ấy, bầy sói dù có lợi hại đến đâu cũng sao có thể so được với loài người cũng đói khát như chúng cơ chứ. Trong lịch sử từng xuât hiện những lúc sói thành họa trên diện tích lớn, tổ tiên chúng ta đã dốc hết sức lực ra để diệt trừ, giờ thì đã hiểu ra rồi chứ. Vì vậy lũ sói chỉ có thể dừng ở sói di cư, chứ không thể tiến hóa thêm một bước nữa. Nhưng cho dù là thế, muốn khống chế cả một tập thể rất nhiều con sói, cân đối công việc ở các phương diện khác nhau, thì cũng cần có một vị thủ lĩnh có mưu lược, kiến thức, năng lực hành động đều vượt xa những con sói khác, chính là vua sói, được tất cả bầy đàn công nhận.”

Trương Lập nói: “Vậy thì trong đàn sói mà chúng ta thấy kia…”

Giáo sư Phương Tân lắc đầu: “Trong đàn sói các cậu trông thấy đó không có vua sói đâu. Trước tiên là đàn sói chưa đủ số lượng để nảy sinh trí tuệ tập thể, chưa đạt đến mức có thể đột phá rào cản trí tuệ. Kế đó, nếu đã có vua sói, thì địa vị của nó là hết sức siêu nhiên, không cần phải tốn công tìm kiếm để nhận diện làm gì, nhìn một cái là thấy ngay… Ừm, tất nhiên, tôi cũng chưa thấy bao giờ, có điều đại đa số các chuyên gia đều có nhận định như vậy cả. Tôi nghĩ, với cảm giác mà đàn sói này mang đến cho tôi và Cường Ba, có lẽ chúng là bộ phận nhỏ ly khai khỏi một đàn sói đã sản sinh trí tuệ tập thể, do mấy con sói đầu lĩnh dẫn đầu, còn mục đích và kế hoạch của chúng là gì thì vẫn còn phải tiến hành quan sát sâu hơn mới đưa ra kết luận được. Cường Ba, cậu thấy thế nào?”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu: “Tôi cũng cho là như vậy. Trong quá trình chiến đấu giữa bầy sói và đàn bò Yak, không thấy xuất hiện một vị chỉ huy duy nhất, bọn chúng chia thành mấy nhóm lớn để triển khai hành động.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Đúng rồi, các cậu kể rằng cuối cùng khi lang tiêu vang lên, trên núi tuyết có dạ đế đáp lại tiếng sói tru hả?”

Nhạc Dương gật đầu: “Dạ đế ấy chính là yêu tinh tuyết, chú Cương Nhật Phổ Bạc bảo thế.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Ờ, người tuyết, yêu tinh tuyết, dã nhân, dạ đế, các cách gọi đều có cả, có điều chỉ người Hạ Ba Nhĩ sống trong dãy Himalaya và cư dân ở đây mới phát âm là “dạ đế” thôi. Tôi từng nghe một thuyết nói rằng, cách phát âm “dạ đế” này là do người Hán lưu lại, người Hạ Nhĩ Ba lại đem nó dịch âm ra, về sau lại được dịch âm sang nước ngoài, rồi lại được dịch âm ngược trở lại một lần nữa.”

Nhạc Dương nói: “Làm sao có chuyện đó được?”

Giáo sư Phương Tân mỉm cười: “Cậu không biết sao, ở huyện Đạt Mã từng có một con đường cổ nối liền Đại Đường và Thổ Phồn, tương truyền là do Văn Thành công chúa hoạch định xây dựng, người nước Đại Đường có thể thông qua con đường này mà thẳng đến Thiên Trúc, ừm, bên ngoài huyện thành có bia khắc bằng chữ Hán mà. Cũng có khả năng là do người Hán chúng ta đặt tên lắm chứ, có điều trong sử liệu không thể tìm thấy dấu tích gì mà thôi. Chúng tôi từng tìm kiếm trên diện rộng, cuối cùng chỉ phát hiện trong một cuốn tạp ký của người thời Tống có bài thơ Đường không đề tên tác giả nhắc đến: Đỉnh cao núi tuyết; có vượn đêm gào; trăng vừa lộ ra; có sói hòa theo… Chữ đêm gào (dạ đề) này có phải chữ dạ đế mà người Hạ Nhĩ Ba dịch âm ra hay không thì chúng tôi không thể biết được.”

“Cổ đạo Đường – Phiên?” Nhạc Dương lấy làm kỳ lạ nói: “Giáo quan và Mã Bảo có nhắc đến đâu nhỉ?”

Giáo sư Phương Tân nói: “Ừm, là thế này, con đường đó đã biến mất từ lâu lắm rồi, có thuyết nói đấy là đường do Văn Thành công chúa xây nên, cũng có thuyết bảo đó là đường Xích Tôn công chúa đã đi và đất Tạng, nhưng đến ngày nay thì ngoài một tấm bia đá có khắc chữ Hán ra, không thể tìm được một sử liệu nào, cũng không tìm thấy dấu vết của con đường cổ xưa ấy nữa. Tôi đoán chừng có lẽ là vì con đường này băng qua đại tuyết sơn, quả thực hết sức hiểm trở khó đi, vậy nên sử dụng chưa được bao lâu đã bị bỏ hoang rồi. Chúng tôi cũng tình cờ nghe nói đến khi đến huyện Đạt Mã lần trước thôi, đúng không, Cường Ba?”

Trác Mộc Cường Ba gật gật đầu: “À, ờ, chữ dạ đế ấy trong tiếng Hạ Nhĩ Ba nghĩa là… người sống trên vách đá…” Dòng suy tư của gã bay đi rất xa, rất xa, dạ đế, người sống trên vách đá, sống chung với sói, bộ tộc Qua Ba… liệu có một liên hệ nào đó hay chăng?

Đêm hôm ấy, Trác Mộc Cường Ba mơ một giấc mơ kỳ quái. Trong mơ, gã đến một nơi giống như hinh vòng cung trên bề mặt trăng, giữa vòng vây núi non trùng điệp là một mặt hồ phẳng lặng như gương, ánh trăng hòa tan trong nước hồ, tinh tú lấp lánh trên mặt hồ. Bên bờ hồ, một đám người mơ hồ đang ngồi, họ cao giọng ca hát, lời ca hào hùng phóng khoáng, nghe tựa như tiếng gọi từ thời viễn cổ xa xăm, khiến Trác Mộc Cường Ba chợt thấy nhớ nhung, chỉ muốn đến gần họ, cùng cất cao tiếng hát.

Xung quanh những người đó còn có rất nhiều sói, chúng ngồi chồm hỗm bên cạnh mọi người, ngẩng đầu nhìn trời cao, cũng hòa theo tiếng ca khàn khàn hào hùng ấy mà cất tiếng tru khi cao khi thấp. Tiếng sói tru không ngờ lại hết sức hài hòa với tiếng hát, ngoài ra còn có tiếng côn trùng, chim muông, tiếng gió hòa vào, cùng làm nên một bản hợp xướng giữa trời đất mênh mang.

Trong không gian đặc biệt ấy, Trác Mộc Cường Ba cảm thấy tự do chưa từng thấy, gỡ bỏ được những xiềng xích trong lòng, vứt hết phiền não của chốn thế tục, tâm linh được giải phóng, cơ hồ như muốn theo tiếng ca cất cánh bay cao.

Ba ngày sau đó, ngoài khu vực bị bầy sói chiếm cứ, thật sự họ không tìm thấy con đường nào khác có thể lên núi, đội trưởng Hồ Dương lấy làm bực tức, đến cả lúc nói chuyện bình thường, khẩu khí của anh cũng hết sức nặng nề cứ như thể đang mắng chửi người ta vậy. Trác Mộc Cường Ba cũng đem suy nghĩ của giáo sư Phương Tân nói với Lữ Cánh Nam, tuy cô cho rằng khảo sát đàn sói này không phải là chuyện họ nên quan tâm, nhưng con đường lên núi mà đội trưởng Hồ Dương đã tốn công tìm ra thì lại rất đáng đi xem thế nào. Chỉ có điều, các đồng chí ở Cục Khí tượng mãi vẫn chưa tính toán được khi nào thì thời tiết trên núi thuận lợi, vũ khí lại phải đợi tới khi xác định xong thời gian lên núi mới được đưa đến, không có vũ khí, bọn họ cũng biết điều mà không đến quấy nhiễu lũ sói ấy.

Lại thêm mấy ngày nữa qua đi, công tác khảo sát về cơ bản đã kết thúc, hàng ngày, Lữ Cánh Nam để mọi người tập luyện mang vác nặng dưới chân núi, coi như là huấn luyện để thích ứng với môi trường. Khoảng thời gian này dễ chịu hơn so với lúc đi thăm dò địa hình rất nhiều, ít nhất thì buổi chiều còn có nửa ngày nghỉ ngơi. Mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba thường đến nhà Cương Nhật Phổ Bạc, gã và giáo sư Phương Tân vốn đã quen biết Cương Nhật Phổ Bạc từ trước, chuyện gì cũng nói được, nếu không phải đại bản doanh đặt ở làng Nạp Lạp, bọn gã đã ở lại luôn nhà anh ta rồi. Trác Mộc Cường Ba cũng hỏi về gia tộc của Cương Nhật Phổ Bạc, thấy gã đã biết chuyện, Cương Nhật Phổ Bạc cũng không tiện che giấu nữa, gật đầu thừa nhận luôn, về đại thể cũng nói giống như với Lạt ma Á La. Đội trưởng Hồ Dương thì vẫn nuôi hy vọng Cương Nhật Phổ Bạc có thể dẫn đường cho họ lên núi, vì tuy quãng đường đến khu vực có mù tuyết không vấn đề gì, nhưng ở vùng có mù tuyết che phủ thì tình hình sẽ như thế nào, không lên trên đó thì không thể nói được. Trương Lập và Nhạc Dương thì chỉ đến chơi, hai anh chàng này rất thích chơi với Cương Lạp, đặc biệt là Nhạc Dương, anh cực kỳ quý mến con chó ngao thân trắng như tuyết, hơn nữa lại còn hiểu được ý người này. Đường Mẫn cũng rất quý Cương Lạp, vừa gặp đã yêu thích ngay, nhưng không hiểu vì nguyên nhân gì, Cương Lạp lại chẳng buồn để ý đến cô, đã mấy lần giở trò, hoặc cùng Nhạc Dương, Trương Lập đùa ác, khiến cô nàng cuống đến đỏ lựng cả mắt lên. Quan hệ của Cương Lạp với Lữ Cánh Nam cũng không được tốt lắm, có lúc còn nhe nanh múa vuốt ra với cô nữa, rõ ràng là có ý đồ muốn đọ sức với cô nàng này một phen. Còn Ba Tang và Lạt ma Á La thì ít khi đến, nói ra thì cũng lạ, từ lúc đến thôn Nạp Lạp, Ba Tang thường xuyên nhìn núi tuyết và quầng sương trên đỉnh núi mà ngây người ra, có lúc còn đờ đẫn một lúc rất lâu nữa. Nhưng từ sau khi xảy ra sự việc kia, mọi người đều cố gắng tránh không làm phiền anh ta, vừa hy vọng Ba Tang nhớ ra được gì đó, lại sợ anh ta bệnh cũ tái phát. Kỳ thực, Nhạc Dương còn phát hiện Trương Lập cũng có tình trạng tương tự như vậy, ngay cả lúc chơi đùa với Cương Lạp cũng có thể thấy anh chàng ngây người nhìn chăm chăm về phía núi tuyết, không biết là đang nghĩ gì nữa.

Kết quả dự báo của Cục Khí tượng cuối cùng cũng được gửi đến, vậy là quyết định cuối cùng về ngày tháng lên núi đã được đưa ra, giờ thì chỉ còn vấn đề tuyến đường nữa thôi. Vũ khí vừa đến tay, giáo sư Phương Tân và đội trưởng Hồ Dương đều nôn nóng muốn tới khu vực của bầy sói xem xét. Lữ Cánh Nam dặn dò ba bốn lượt, nhắc cả đội cố gắng không làm tổn thương đến lũ sói. Dù sao thì số lượng sói trong lãnh thổ Trung Quốc cũng đã ít đến độ đáng thương rồi, ước chừng chỉ còn bằng với số lượng lạc đà một bướu hoang dã, ít hơn cả lũ gấu mèo nữa.

Không ngờ, họ còn chưa kịp xuất phát thì đã nhận được tin của Cương Nhật Phổ Bạc. “Mọi người không cần mang theo nhiều vũ khí đi tìm chúng nữa đâu, mang theo các thiết bị đo đạc là đủ rồi.” Nhìn bọn Trác Mộc Cường Ba đang chuẩn bị hành trang lên đường, Cương Nhật Phổ Bạc điềm đạm nói.

“Gì hả, tại sao?” Trương Lập buột miệng hỏi.

Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Chúng bỏ đi rồi, sáng sớm hôm nay tôi đã trông thấy.”

“Đi rồi? Đi đâu?” Lần này người cuống lên là giáo sư Phương Tân.

Cương Nhật Phổ Bạc lắc đầu: “Không biết. Hôm nay tôi vừa tỉnh dậy thì phát hiện lũ cừu trong chuồng, chúng đã trả lại hết, còn thêm mấy con cừu con nữa. Cương Lạp nói với tôi, nó không cảm giác thấy mùi của lũ sói đâu nữa, tôi mới lấy can đảm đi xem thử. Quả nhiên, chúng đi hết cả rồi, đàn bò Yak cũng đi rồi, không còn gì để lại cả.(1)”

“Đi thôi, mau dẫn tôi đi xem nào!” giáo sư Phương Tân đã luống cuống đến nỗi rối rít cả lên. Ở đây, người nghiên cứu sói lâu nhất, khát khao được quan sát tập tính sinh sống của đàn sói nhất phải kể đến giáo sư đầu tiên, một cơ hội tốt như vậy mà lại vô duyên với mình, thử hỏi làm sao mà ông không cuống quýt! Giáo sư Phương Tân không mang theo thứ gì, chỉ đeo chiếc máy tính xách tay rồi kéo Cương Nhật Phổ Bạc đi luôn. Lữ Cánh Nam dặn dò mấy câu, rồi mọi người vẫn mang theo một số vũ khí nhẹ đuổi theo phía sau. Đội trưởng Hồ Dương nửa tin nửa ngờ, mang theo cả bộ thiết bị đo đạc.

Khi bọn Trác Mộc Cường Ba trở lại nơi lũ sói và đàn bò Yak kịch chiến, trong lòng mọi người đều dâng lên một xúc cảm bồi hồi. Trác Mộc Cường Ba chợt thấy trống rỗng, tựa như vừa đánh mất thứ gì, thực ra, mặc dù lũ sói ấy khiến người ta cảm thấy ghê sợ, nhưng gã vẫn muốn nhìn thấy chúng lần nữa. Lũ sói đã tụ tập ở phía sau một triền núi khác, nơi đây giờ chỉ còn lại vài bãi chất thải của cả sói lẫn bò Yak, và thức ăn thừa của sói bỏ lại nữa, tất cả chúng đã di rời tập thể, dốc núi đá cuội lại không lưu vết chân, nên không thể biết chúng đã đi về phương nào.

Nghĩ đến cuộc chiến kịch liệt của lũ sói và đàn bò Yak Trác Mộc Cường Ba từng kể với mình, cùng sự giảo hoạt và trí tuệ của chúng, giáo sư Phương Tân cứ không ngừng lắc đầu. Sao mình lại không kiên quyết đòi đến trước xem thử một lần nhỉ? Tiếc quá, tiếc quá là tiếc. Ông cẩn thận thu thập đống phân sói còn vương lại, không thấy sói thì mang ít phân về nghiên cứu cũng được. đội trưởng Hồ Dương thì sử dụng các thiết bị đo đạc, cẩn thận giảng giải cho Lữ Cánh Nam về tuyến đường lên núi mà anh vạch ra, cũng những vấn đề cần chú ý đặc biệt dọc đường. Khi nói đến khu vực mù tuyết, có mấy lần anh liếc sang phía Cương Nhật Phổ Bạc. Nhưng Cương Nhật Phổ Bạc đã cố ý đứng ở chỗ xa, chỉ đi theo Trác Mộc Cường Ba và giáo sư Phương Tân. Lạt ma Á La thấy vậy, khóe miệng liền nở một nụ cười thần bí.

Đoàn người rời khỏi nơi tụ tập của bầy sói, lúc sắp chia tay, Cương Nhật Phổ Bạc hỏi bọn họ bao giờ lên núi tuyết, Trác Mộc Cường Ba đáp: “Ngày mai sẽ đi.”

Cương Nhật Phổ Bạc không hỏi gì thêm nữa. Cương Lạp nghe nói Trác Mộc Cường Ba sắp đi, liền cắn chặt gấu quần gã, không để cho đi. Trác Mộc Cường Ba ngồi xổm xuống, ôm cổ Cương Lạp nói: “Hì, Cương Lạp xem đấy, tao hứa rồi mà, nhất định sẽ về thăm mày, tao có làm hay không nào?”

Cương Lạp bất mãn lắc đầu. Trác Mộc Cường Ba lại nói: “Lần này, tao lại hứa với mày, khi nào tìm được nơi ấy, tao sẽ nhanh chóng trở lại thăm mày, thế có được không? Lần này sẽ không để mày phải đợi lâu thế đâu! Nói không chừng, tao còn đưa về cho mày một người bạn thực sự nữa. Cương Lạp, nhìn tao đây này, mày là cô bé ngoan mà, có phải không? Mày biết mà, tao sẽ không gạt mày đâu, lần này, tao sẽ đi tìm vua của chúng mày… Ngoan ngoãn đợi tao về nhế, được không?”

Cương Lạp nghe như nửa hiểu nửa không, tủi thân cúi gằm đầu xuống, trong mũi khọt khà khọt khẹt. Trác Mộc Cường Ba phải khuyên giải mãi nói mới chịu thôi. Cương Nhật Phổ Bạc dẫn theo Cương Lạp đứng trên dốc núi nhìn bọn Trác Mộc Cường Ba đi khỏi, nét mặt hết sức phức tạp, hồi lâu sau mới nghe anh ta nói với Cương Lạp: “Họ đi rồi, chúng ta cũng trở về thôi.”

Trở về thôn Nạp Lạp, đội trưởng Hồ Dương liền thuật lại kỹ càng tình hình đo đạc quan trắc của ngày hôm nay với mọi người, chỉ ra các tình huống nguy hiểm có thể xuất hiện và cách đề phòng những hiểm họa tự nhiên. Đối với việc mang theo vũ khí lên núi tuyết, anh tỏ ra không tán đồng cho lắm, trước tiên là vì riêng bộ trang bị buộc phỉa mang theo khi leo núi đã nặng nề lắm rồi, hơn nữa khả năng kẻ địch xuất hiện trên núi tuyết là rất thấp, nếu có người thì đã phát hiện từ một quãng rất xa rồi, thêm nữa mang theo vũ khí có thể dẫn đến một số tai họa tự nhiên. Lữ Cánh Nam thương lượng với mọi người, rồi quyết định vẫn chọn một số vũ khí nhẹ mang theo, phòng họa khi chưa xảy ra vẫn hơn, sau đó cô lại dặn dò cả đội đi ngủ sớm, ngày mai họ sẽ có cả một hành trình mang vác nặng leo núi.

Ở thôn Nạp Lạp đã mấy ngày, mọi người đều đã thân quen với dân làng. Dân ở đây nhiệt tình hiếu khách, lại giỏi ca múa, nghe nói cả đoàn sắp đi, còn định mở tiệc tiễn đưa, nhưng bị Lữ Cánh Nam và đội trưởng Hồ Dương từ chối. đội trưởng Hồ Dương nói với Mã Bảo, nếu muốn chúc mừng thì đợi khi họ trở về chúc mừng cũng chưa muộn. Mã Bảo thầm nghĩ, nếu lên núi tuyết, không biết còn có thể trở về hay không nữa…

Nghỉ ngơi trong làng một đêm, hôm sau khi trời còn chưa sáng, đoàn người đã vác trên lưng những chiếc ba lô nặng trịch tiến về phía đỉnh núi tuyết. Ban đầu đội trưởng Hồ Dương nghĩ có thể thuê hai người Hạ Nhĩ Ba gồng gánh đống máy móc, nhưng mấy người Hạ Nhĩ Ba vừa nghe thấy họ muốn lên núi Tư Tất Kiệt Mạc còn đáng sợ hơn cả đỉnh Chomolungma thì không ai chịu đi theo nữa, đều bảo nơi ấy là vùng tuyệt địa bị ma quỷ nguyền rủa, người nào đến đó đều không thể sống sót trở về. Các thành viên trong đội phải cắm trại trên sườn núi một đêm, các thứ trang bị cộng thêm vũ khí, thực sự là không nhẹ chút nào.

Đi được hơn một tiếng đồng hồ trên con đường lên núi mà trời vẫn chưa sáng hẳn, Nhạc Dương nói: “Sao phải xuất phát sớm vậy làm gì chứ?”

Đội trưởng Hồ Dương đáp: “Tôi đã tính toán kỹ rồi, với tốc độ hiện nay của chúng ta, cần phải đi hết tốc lực mới có thể lên được quá lằn tuyết trước buổi trưa, ở đó sẽ là nơi đóng quân lâm thời để chúng ta lên đỉnh. Lên đến đó, muốn phục hồi thể lực ít nhất cũng cần nửa ngày mới đủ.”

Trương Lập nói: “Không nghiêm trọng đến vậy chứ, chúng ta leo thẳng lên từ độ cao năm nghìn mét so với mực nước biển, lằn tuyết ở độ cao khoảng sáu nghìn mét, cho dù đường núi xa, không khí loãng thì cũng đâu cần đến nửa ngày hồi phục thể lực chứ?”

Ba Tang nhìn bầu trời đêm, trăng tròn còn chưa lặn, mây mỏng như tấm sa, bình tĩnh nói: “Đến chiều sẽ có gió lớn.”

Lữ Cánh Nam cũng nói: “Đúng thế, các đồng chí ở Cục Khí tượng nói, buổi chiều gió rất lớn, nếu trước giờ trưa mà không thể đến được nơi đóng quân lâm thời đã định trước, việc leo trèo buổi chiều sẽ khiến chúng ta tiêu hao nhiều thể lực hơn nữa.”

Đường Mẫn nghi hoặc lặp lại: “Gió lớn lắm à?”

Bọn họ đều chưa từng trải nghiệm gió trên núi tuyết, gió như thế nào thì gọi là gió lớn họ cũng chưa có khái niệm rõ ràng cho lắm.

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Cô nhóc, ở đây không phải là Tử vong Tây phong cốc, nó gọi là Tử vong Tây phong đới, cả mạch núi hướng về phía Tây Bắc dài mấy trăm cây số đều bị bao bọc trong dải gió Tây. Những cơn gió thốc kia vượt qua núi, đến phía bên kia thì gặp phải khí áp thấp của cao nguyên, liền cuộn ngược trở lại, hoàn toàn khác hẳn với gió xuống dốc trên các sông băng thông thường, đó tuyệt đối là gió lên dốc đấy, chỗ chúng tôi vẫn gọi là vòi rồng xoắn, khá giống với lồng quay trong máy giặt là một kiểu gió lốc theo hướng ngang. Gió thổi thốc từ phía dưới lên trên, muốn đứng cũng khó có thể đứng cho vững được, dù dựng trại kiểu kén tằm cũng không thể chống đỡ lại thế gió ấy được, trừ phi có thể đến nơi đóng quân lâm thời đã định trước kịp lúc, bằng không rất có thể ngay từ dưới chân núi chúng ta đã bị thổi cho tan đàn xẻ nghé đó.”

Hiện giờ vãn còn ở chân núi tuyết, cả đoàn đều dốc hết tốc lực băng qua những con dốc đầy cỏ, trăng lặng sao mờ, sắc trời sáng dần lên, tinh thần của mọi người cũng dần dần khá hơn.

Gió sớm lành lạnh phất vào mặt làm tinh thần sảng khoái, không khí đặc biệt thanh tân, hít sâu một hơi, tựa như có bạc hà trong miệng, mát đến tận phế phủ, tiếng côn trùng ẩn trong đám cỏ không ngừng không nghỉ, khi cao khi thấp, rất có âm điệu, khi thì như tiếng huyền cầm trầm ấm thiết tha, lúc lại như tiếng đàn tranh cao vút vời vợi. Phía Nam rặng núi, tinh tú vẫn còn chưa khuất hẳn, ánh sao lấm tấm lấp lóe như những viên bảo thạch, một vầng trăng sáng lộ nửa mặt ra trong áng mây, chậm rãi chìm xuống phía sau đỉnh núi phía Tây, vừa đúng lúc trông như một hạt minh châu khảm trên đỉnh núi, ánh trăng dịu dàng phản chiếu lên núi tuyết tựa ánh sáng của chư thần phổ chiếu khắp mặt đất mênh mang. Vào thời khắc đó, trắng xóa là tuyết trên núi, trắng sáng lên chính là vầng nguyệt trong mây kia.

Đi tới lưng chừng núi thì trăng đã lặn về Tây, thay vào đó là ráng mây rực rỡ hiện ra phía trời Đông. Phía sau rặng núi sáng bừng lên, nơi chân trời bị tách ra một quầng sáng hình cung rõ rệt, những ráng mây bảy sắc đùn lên, tập trung phía trên rặng núi trập trùng, tựa như trăm loài chim cùng tề tựu về chầu chim phượng. Những dải ánh sáng ấy biến hóa hết sức khác thường, lúc như cưỡi rồng ngự gió ngự sương, lúc lại như cá chép vượt biển, có lúc lại giống chim ưng bắt thỏ, hay thiên mã hoành không, màu sắc diễm lệ phi phàm, đỏ như hồng bảo thạch, trắng như ngọc mỡ dê, lam thì như bầu trời xanh ngắt, lục thì như đồng cỏ mênh mang, quả là thiên công tạo hóa, khiến người ta lưu luyến quên cả lối về, tâm trạng cũng thông suốt và thư giãn hơn nhiều. Trong những ráng mây sắc màu rực rỡ ấy, vầng hồng từ từ dâng lên, mới đầu còn như một tiểu cô nương hay xấu hổ, giơ đàn tì bà lên che khuất nửa mặt, chỉ để lộ ra một nửa nhỏ của khuôn mặt, sắc đỏ bừng bừng, ngượng ngùng thẹn thùng không dám ra ngoài. Mọi người đều không cầm lòng được mà dừng bước, sững sờ đứng trên lưng chừng núi đợi mặt trời lên, tâm trạng ấy, tựa hồ như đợi chú gà con mổ vỡ vỏ trứng chui ra, tràn đầy niềm vui và sự kích động như khi chứng kiến một sinh mạng mới sắp có mặt trên đời này. Vầng hồng mới nhú không hề chói lóa, ánh sáng ôn nhuận mềm mại như ngọc, thần quang đều thu vào bên trong, nhưng lại ẩn chứa sức mạnh vô cùng vô tận. Nó chầm chậm gắng sức dâng lên cao, từng chút, từng chút, một cái mâm bằng huyết ngọc từ từ thành hình giữa những đỉnh núi sừng sững, mây mù bốn phương tám hướng đều tụ về triều kiến như muôn sao chầu quanh vầng nguyệt, tưng bừng hoan ca để chúc mừng ngọn nguồn của vạn vật trong trời đất lại một lần nữa xuất hiện. Cuối cùng, vầng hồng ấy vùng lên mạnh mẽ, tựa như dưa chín rụng cuống, chim non phá vỡ vỏ trứng, hoàn toàn thoát khỏi đường chân trời hình thành bởi dãy núi non nhấp nhô trùng điệp, tựa như cánh chim thoát khỏi lồng tung bay cao vút; tốc độ dâng lên của vầng dương cũng dần tăng, chỉ trong khoảnh khắc ánh sáng chói ngời đã phủ xuống mặt đất bao la, cả ngọn núi tuyết thần thánh cũng khẽ run lên trước uy nghi ấy! Mặt đất kiền thành cúi đầu khuất phục, những cơn gió đang thỏa sức tung hoành giữa núi non bỗng dưng lặng đi, cảm giác ấm áp bao bọc toàn thân mỗi người, khiến một chút mệt mỏi cùng tất thảy nỗi u uất khó chịu trong tâm thức đều tan biến. Đó là nguồn ánh sáng đã tạo nên vạn vật chúng sinh, đó là suối nguồn của mọi thứ lực lượng, đó là vị chúa tể chân chính của cả tinh hệ này! Mọi người không sao hiểu nổi, cảnh mặt trời trên núi tuyết này có điểm gì khác với những nơi khác, tại sao lại khiến tâm trạng của mình xao động đến thế, cảm giác xung động chỉ muốn khóc òa lên mà quỳ xuống bái lạy ấy khởi nguồn từ nơi nao? Nhất thời, thiên địa đều chìm trong tĩnh lặng, chỉ có quầng sáng chói lòa đang chăm chú quan sát vạn vật nó tỏa chiếu, không phân chính tà, không có đúng sai, từ thuở hằng cổ nó đã tồn tại, rồi mãi mãi về sau nó cũng vẫn bừng cháy như thế, đối với nó, con người chỉ là một loại chúng sinh trên mặt đất mênh mang này, cũng hèn mọn nhỏ bé, cũng chỉ là một thứ ký sinh vật sống trên thân thể đồng loại của nó, địa cầu.

Lặng ngắt một hồi lâu, không ai nói gì, tâm trạng mỗi người mỗi khác, có hào hùng, có thẹn thùng, có kính ngưỡng, có tự ti. Mang theo tâm trạng phức tạp lạ thường, Lạt ma Á La là người đầu tiên xoay lại; mấy người Trác Mộc Cường Ba, Đường Mẫn vẫn đứng bần thần ở đó. Lữ Cánh Nam lạnh lùng phát ra mệnh lệnh: “Tiếp tục tiến lên.”

1. Thật tiếc khi lần này đội của Lữ Cánh Nam đã bỏ lỡ cơ hội rút ngắn hành trình tìm Bạc Ba La của họ.

Cánh cửa Địa ngục

Đội trưởng Hồ Dương ngoảnh lại, chưa đi được mấy bước đã đột nhiên trợn mắt há hốc miệng ra, ngẩng đầu ngước nhìn đỉnh núi mà không thốt lên được tiếng nào. Trương Lập đứng bên cạnh anh cũng ngước nhìn theo, chỉ thấy trên vách núi tuyết, trên dốc núi tựa như miếng bạch ngọc khổng lồ không tì vết ấy đột nhiên xuất hiện một dải lụa đỏ như máu, không khác nào dải thắt lưng trên tấm váy trắng của nữ thần núi tuyết, nổi bật mà tuyệt diễm đến lạ kỳ, sắc đỏ rực như muốn nhỏ máu ra, lại toán lên cả vài phần bí ẩn yêu dị. Trương Lập chỉ lên đỉnh núi kêu toáng: “Nhìn xem! Nhìn kìa! Đó là gì thế?”

Nhạc Dương cũng kinh ngạc thốt lên: “Vừa nãy làm gì có mà, chuyện gì thế nhỉ? Có phải ráng mây bay qua không?”

Đường Mẫn reo vang: “Đẹp quá! Mỹ lệ quá, màu sắc này, màu sắc này thật là…”

Giáo sư Phương Tân nói: “Không phải ráng mây, mây và tuyết có gần nhau đến mấy cũng không thể thế được. Lẽ nào! Lẽ nào là…”

Đội trưởng Hồ Dương giờ mới cất tiếng: “Huyết tuyết (tuyết đỏ như máu), đó là huyết tuyết đấy! Lần này xuất hành thật đúng là hỏng bét rồi.”

Vừa nghe thấy “huyết tuyết”, mọi người đều sực tỉnh. Huyết tuyết và kỳ vân (mây như lá cờ) cũng là những cảnh sắc kỳ lạ hiếm thấy ở vùng núi tuyết cao nguyên, nhưng ý nghĩa khác hẳn nhau, kỳ vân trắng muốn như chiếc khăn Hada là tượng trưng của may mắn cát tường; huyết tuyết lại ngầm ám chỉ tại nạn, bị dân Tạng coi là điềm chẳng lành. Có lúc ở lưng chừng núi, giữa màn tuyết trắng ngần bỗng dưng xuất hiện một quầng đỏ như máu, người ta gọi là huyết tuyết, nhưng lại gần thì không thấy gì nữa, chuyện như thế bọn Trác Mộc Cường Ba chỉ mới nghe nói thôi chứ chưa tận mắt chứng kiến bao giờ. Giải thích theo quan đểm khoa học, huyết tuyết này có lẽ cũng giống như cầu vồng hoặc ảo ảnh, thuộc loại hiện tượng chiết xạ quang học, còn tại sao hiện tượng này lại xuất hiện ở giữa tầng tuyết, đồng thời mỗi khi xuất hiện thường kèm theo các hiện tượng tự nhiên mang tính chất phá hoại như tuyết lở, cuồng phong thì tạm thời đến nay vẫn chưa có cách giải thích nào xác đáng.

Đội trưởng Hồ Dương kiến nghị: “Huyết tuyết xuất hiện, thời tiết sẽ biến đổi. Tôi cảm thấy, chúng ta nên trở về thôn làng dưới chân núi, chọn một thời cơ khác để lên đỉnh thì đảm bảo hơn.” Anh hướng về phía Lữ Cánh Nam đang xây lưng lại với mình hỏi, “Thế nào?”

Lữ Cánh Nam ngoảnh lại, khe khẽ lắc đầu, kiên định nói: “Lần này chúng ta buộc phải lên đến đỉnh, cơ hội chỉ có một lần thôi. Không thể không nghĩ rộng ra được, ở vùng chịu ảnh hưởng của dải gió Tây này, mỗi năm từ đầu tháng Năm đến giữa tháng Chín là mùa mưa, gió mùa Đông Nam mạnh sẽ gây mưa lớn kéo dài, mây mù khắp nơi, băng tuyết sụt lở vô thường, khí hậu rất khắc nghiệt. Khoảng trung tuần tháng Mười một đến trung tuần tháng Hai năm sau, lại bị luồng không khí lạnh Tây Bắc khống chế, nhiệt độ có thể hạ xuống đến âm 60 độ C, nhiệt độ trung bình là khoảng âm 40 độ C đến khoảng âm 50 độ C, tốc độ gió cao nhất có thể đạt 90 mét/giây. Từ đầu tháng Ba đến cuối tháng Tư, là mùa xuân, mùa quá độ từ mùa gió sang mùa mưa, còn từ đầu tháng Chín đến cuối tháng Mười là mùa thu, mùa quá độ từ mùa mưa sang mùa gió. Trong khoảng thời gian này mới có thể xuất hiện thời tiết tương đối tốt. Vì vậy mới nói, nếu lần này không thể lên đỉnh núi, chúng ta sẽ phải đợi thêm một năm nữa, bất kể là nhà nước hay là bản thân chúng ta cũng đều không thể đợi lâu như vậy được. Thêm nữa, thông tin của Cục Khí tượng rất rõ ràng, gần đây tầng mây khí quyển rất bình hòa, chắc sẽ không tụ tập ở gần dải núi này(1), đây là cơ hội tốt nhất đồng thời cũng là cơ hội duy nhất của chúng ta. Mặc dù nói có điềm lạ, đường phía trước chưa rõ ra sao, nhưng chúng ta cũng không thể mạo hiểm phen này.”

Trương Lập cũng lên tiếng ủng hộ: “Không sao, có lần nào mà chúng ta không mạo hiểm đâu.”

Đội trưởng Hồ Dương nhìn bóng lưng Lữ Cánh Nam thầm nhủ: “Quả nhiên là có chuyện gì đó không thể kéo dài được nữa à?”

Không ngờ, mới chỉ đi được thêm hai tiếng đồng hồ nữa, thế gió trên dốc núi đột nhiên lớn hẳn, tựa như một bức tường chắn trước mặt chặn đứng bước tiến của các thành viên trong đội. Nhạc Dương cuống quýt hét toáng lên: “Không phải nói đến chiều mới có gió à? Sao giờ đã có rồi thế này?”

Đội trưởng Hồ Dương lắc đầu: “Huyết tuyết, đây chính là huyết tuyết đấy!”

Lữ Cánh Nam nói: “Nếu cứ tiếp tục tiến lên như thế này, chỉ sợ đến được nơi đóng quân lâm thời, thể lực của chúng ta đã tiêu hao cạn kiệt rồi, ngày mai không thể tiếp tục lên đỉnh, có cách nào hay không, đội trưởng Hồ?”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Phương án hai mà tối qua chúng ta đã định ra, nơi đóng quân lâm thời còn lại ở đâu?”

Lữ Cánh Nam hướng về phía gió lớn, trải tấm bản đồ xuống đất, lấy đá đè lên: “Anh xem…”

Đội trưởng Hồ Dương xem bản đồ, đoạn nói với Lữ Cánh Nam: “Dùng vệ tinh dẫn đường, nhờ các đồng chí bên Cục Khí tượng và Cục Địa chất hiệp trợ, chúng ta phải đi vòng tránh cơn gió này. Phía trên lằn tuyết, leo trèo sẽ khó khăn gấp mười lần bây giờ, không thể tiêu hao thể lực một cách vô nghĩa ở đây thế này được.”

Dọc đường, Lữ Cánh Nam dùng vệ tinh định vị dẫn đường, đồng thời không ngừng liên lạc với thế giới bên ngoài bằng điện thoại di động. Khu vực gần dãy Himalaya này có một điểm tốt là thế, vệ tinh phủ sóng, điện thoại di động có tín hiệu, có thể giữ liên lạc với thế giới bên ngoài.

Cuối cùng, nhờ có sự giúp đỡ của hệ thống định vị vệ tinh, các chuyên gia phân tích bản đồ, nhân viên quan trắc khí tượng và các nhà địa chất học, mọi người đã tìm được một chỗ có thế gió tương đối yếu ở một cái khe phía Nam ngọn núi. Đây vốn là một mảnh đất bằng phẳng, nhưng ở giữa như bị người khổng lồ nào đó dùng thìa múc đi một miếng, diện tích cũng không lớn lắm, cơn gió lốc lướt qua bên trên khe núi, ít nhất thì cũng có thể dựng trại một cách ổn định, đây chính là nơi đóng quân lâm thời số hai của họ.

Lều của họ là lều con tằm chuyên dụng ở các vùng địa cực, thoạt nhìn trông như nửa con tằm nằm ngang trên mặt đất. Loại lều này bên trong có mười sau đinh chốt, bên ngoài lại có thêm bốn dây cáp gia cố, khiến nó có thể cố định hết sức chắc chắn, bất kể là gió thổi theo hướng nào cũng ngăn được. Quan trọng hơn nữa là, nó sử dụng nguyên liệu mảng mỏng được cường hóa gồm hai lớp dạng tổ ong được bơm đầy không khí, cộng thêm ngoại hình vỏ tằm, khiến lều có thể chống đỡ được đã lăn và tuyết lở bình thường. Ở môi trường địa cực, gió mạnh có thể thổi cho những tảng đá to bằng cái thớt lăn lông lốc khắp nơi, lều bạt bình thường đụng phải là thủng lỗ ngay, chỉ có loại lều con tằm này mới chống đỡ được. Ở Nam Cực, trạm khảo sát khoa học của Trung Quốc cũng có hình dạng kiểu con tằm như thế này, có điều để tăng thêm diện tích sử dụng, trạm khảo sát đã được xây dựng trong giống một cái thùng sắt chôn một nửa dưới lòng đất hơn.

Lều bạt tương đối thấp, phải khom người, cong lưng mới chui vào được, giống như là chui vào cái túi ngủ cỡ lớn vậy, thông thường một lều nằm được bốn người, nhưng muốn nổi lửa nấu cơm hay làm các việc gì khác thì phải ra ngoài. Họ bắc nồi cao áp ở sát vách khe núi, nơi này rất cao so với mực nước biển, áp suất không khí thấp, không dùng nồi cao áp thì không thể nấu chín được thức ăn, đến đun nước cũng không thể sôi. Ăn qua loa bữa trưa, các thành viên trong đội lại bắt đầu bận rộn, họ phải quan sát đo đạc hướng gió, tốc độ gió, tình hình tụ tan của tầng mây, quan trắc địa hình, xác định tuyến đường của ngày hôm sau, kiểm tra nước tuyết tan, quan sát hoàn cảnh xung quanh và thảm thực vật mọc trên đất. Vì đội của bọn họ nhận được nhiều sự giúp đỡ từ nhiều phía khác nhau, nên trong khi Lữ Cánh Nam liên hệ với bên ngoài, những nơi này cũng nhờ họ giúp quan trắc sự thay đổi khí hậu và hoàn cảnh tại thực địa. Giờ đã cắm trại ở lưng chừng núi, họ vốn cũng chuẩn bị đo đạc quan trắc điều kiện thời tiết và địa lý để chuẩn bị đầy đủ cho hành trình lên đỉnh ngày hôm sau, vậy nên cũng tiện thể nhận lời luôn.

“Hướng gió, Đông Nam chếch về phía Tây, gió lên dốc.”

“Tốc độ gió, 15 mét/giây, đang dần tăng tốc.”

“Nhiệt độ, âm 2 độ C, quá trưa nhiệt độ sẽ tiếp tục hạ thấp.”

“Khí áp, 56,466 kPa (1 kilopascal = 0,01at; vậy khí áp ở đó chỉ bằng nửa điều kiện tiêu chuẩn).”

“Thảm thực vật bề mặt, hiện nay có thể thấy tuyết liên hoa, tam chỉ phượng mao cúc, còn có… một số thực vật họ dương xỉ vô danh.”

“Hiện nay, chúng tôi đang ở dưới lằn tuyết, vị trí này thuộc tầng đất đông cứng, đã lấy xong mẫu đất, tiếp sau đây sẽ đo đạc khả năng thoát khí, hoạt tính xúc tác, lượng vi sinh vật, sinh vật, lượng khoáng cacbon hữu cơ, lượng đạm, độ axit kiềm… Bên trên lằn tuyết, nhìn bằng mắt thường thì ước chừng khoảng ba cây số là vào tầng phủ tuyết, năm cây số là vào phạm vi bao phủ của mù tuyết. Trước mắt vẫn chưa rõ tình hình trên đỉnh núi ra sao, mù tuyết đang không ngừng lấn xuống dưới, đến chiều ước chừng có thể lấn xuống thêm năm trăm mét nữa.”

“Chất nước là thế nào…”

Dưới sự chỉ dẫn của các chuyên gia, các số liệu đều được báo về. Tình hình xung quanh thì được giáo sư Phương Tân và Nhạc Dương dùng thiết bị thu hình chụp lại, tạm thời không thể sử dụng mạng không dây truyền dẫn, sau khi xuống núi mới gửi đi được.

Bận rộn cả ngày, đến khi mặt trời gần lặn xuống dải núi đằng Tây mọi người mới hoàn thành các công việc điều tra cơ bản. Lúc này tốc độ gió đã tăng lên tới 22 mét/giây, nhiệt độ giảm xuống còn âm 15 độ, mà đây mới chỉ là vùng phụ cận bên dưới lằn tuyết, các thành viên trong đội ít nhiều cũng đều có chuẩn bị tâm lý sẵn sàng cho hành trình lên đỉnh ngày hôm sau.

Gió trong khe núi tương đối nhẹ nhang, lại có bếp lửa ấm áp, ăn xong cơm tối, cả đội ngồi vây quanh bếp lửa. Lữ Cánh Nam tuyên bố với mọi người: “Theo thông tin từ các đồng chí bên Cục Khí tượng, ngày mai thời tiết tiếp tục quang đãng, không có đám mây nào có ảnh hưởng đến hành động lần này của chúng ta hình thành ở khu vực xung quanh đây, tốc độ gió và hướng gió đều tương đương hôm nay. Mọi người hãy nghỉ ngơi cho tốt một đêm, thành công hay không đều nằm cả ở lần này đó. Có điều, trước mắt chúng ta vẫn còn chưa nắm rõ được tình hình bên trong khu vực bị mù tuyết bao phủ, đây cũng là mối nguy lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt.”

Thấy không khí hơi nặng nề ngột ngạt, đội trưởng Hồ Dương là người có kinh nghiệm dẫn đội phong phú, liền hô hào mọi người: “Hiếm có lúc mọi người tụ tập thế này, để tôi chúc tất cả ngày mai thành công lên đến đỉnh núi trước nhé. Nào, mọi người cùng hát một bài đi, tất cả chúc mừng một phen, tôi bắt nhịp cho, chắc chắn bài này ai cũng biết…”

Không khí trong trại lập tức sôi nổi hẳn lên. Đa số những người có mặt hôm nay đều từng chung hoạn nạn, đồng sinh cộng tử, hết lần này đến lần khác dắt nhau bò ra khỏi vòng tay thần Chết, mỗi người đều hiểu rõ và giữ vững một niềm tin rằng, bất kể phía trước có bao nhiêu hiểm nguy khó nhọc, bất kể sẽ gặp phải ngăn trở thế nào, bọn họ cũng sẽ hết lần này đến lần khác cùng nhau bò ra khỏi vòng tay Tử thần.

Đội trưởng Hồ Dương mở đầu, Đường Mẫn cũng rất có năng khiếu văn nghệ, hát múa đều rất hay, giọng hát của Trác Mộc Cường Ba không ngờ cũng rất có sức thu hút, cả Trương Lập và Nhạc Dương đều vỗ tay khen hay rối rít. Kể cả người xưa nay chưa từng có dính dấp gì đến văn nghệ như Lạt ma Á La cũng bị huy động đứng lên, hát một bài kinh tiếng Phạn, chỉ có mình Ba Tang là chỉ cười khẩy lạnh lùng, một mình đứng ở cửa khe núi ngước nhìn ngọn núi tuyết.

Đội trưởng Hồ Dương kể cho mọi người nghe những trải nghiệm của mình khi đi khảo sát khoa học, giọng kể truyền cảm, thần thái trên mặt cũng hết sức sinh động, đến chỗ hấp dẫn mọi người đều nín thở chăm chú lắng nhe, chỗ nào tức cười lại khiến tất cả phá lên cười ha hả. Nhạc Dương đã được nghe những chuyện này trước, khi tinh ý phát hiện ra Ba Tang đang đứng một mình ở cửa khe núi, bèn len lén rời khỏi đống lửa, đến bên cạnh anh ta hỏi: “Sao thế? Anh Ba Tang! Không qua nói chuyện với mọi người à?”

Ba Tang cười lạnh lùng: “Tôi thích ở đây một mình, cậu không cần phải để ý làm gì.”

Nhạc Dương nói: “Có phải thấy núi tuyết, anh lại nhớ ra điều gì không?”

Ba Tang lắc đầu: “Không. Năm đó khi bọn tôi vượt qua dải gió Tây này, toàn bộ đều đi phía trên lằn tuyết cả, gió tuyết mờ mịt, không thể nhận biết phương hướng, ngoài núi tuyết ra thì căn bản chẳng thấy gì hết.”

“Ồ.” Nhạc Dương biết Ba Tang thích quạnh quẽ một mình, đang chuẩn bị trở lại chỗ mọi người bên đống lửa, chợt lại nghe Ba Tang nói: “Sương mù…”

Nhạc Dương ngẩng đầu nhìn, mù tuyết mờ mịt bao bọc quanh đỉnh núi chính trông như một cây nấm khổng lồ, hai đỉnh phụ hai bên cũng ít nhiều bị hơi mờ che khuất, liền lẩm bẩm hỏi: “Sương mù làm sao chứ?”

Ba Tang khẳng định: “Sương mù đang rút đi.”

“Hả, không phải chứ,” Nhạc Dương kinh ngạc nói, “đến tối gió thốc càng mạnh hơn mà, sương mù phải lớn hơn mới đúng chứ?”

Ba Tang lắc đầu: “Tôi ở đây quan sát nửa tiếng đồng hồ rồi, đúng là sương mù đang lui. Tôi nghĩ, đến nửa đêm nay khẳng định là sẽ có thu hoạch bất ngờ.”

Nhạc Dương vội đem tình hình này báo lại với Lữ Cánh Nam. Lữ Cánh Nam và giáo sư Phương Tân, đội trưởng Hồ Dương thương lượng một hồi, cảm thấy cũng có khả năng này, bèn lập tức sắp xếp cho hai anh chàng trẻ tuổi Nhạc Dương, Trương Lập nghỉ ngơi, chuẩn bị tiến hành quan sát lúc nửa đêm, cả Lạt ma Á La cũng vào lều nhập định.

Đến nửa đêm, Lạt ma Á La đánh thức hai người dây, rồi cùng ra khỏi lều quan sát. Vầng nguyệt sáng treo lơ lửng giữa tầng không, gió núi lạnh buốt, ngọn núi tuyết vốn bị sương mù mờ mịt bao phủ kia không ngờ đã vén tấm sa mỏng che mặt lên, để lộ ra bản lai diện mục. Ba người hít ngược vào một hơi khí lạnh, dung mạo thật sự của ngọn núi tuyết kia thật dữ tợn chẳng khác nào ác quỷ, quả không thẹn với danh xưng nữ thần Tư Tất Kiệt Mạc, hai đỉnh phụ và đỉnh chính hợp thành một chiếc chĩa ba, tổng cộng có ba tuyến đường dốc có thể lên đỉnh chính, độ dốc của mỗi tuyến đường đều vào khoảng gần hoặc hơn 75 độ, khiến cả ngọn núi tuyết Tư Tất Kiệt Mạc này trông như một chiếc chuông cổ. Ở lưng chừng núi, một lưỡi băng khổng lồ liếm ngang qua, ăn lẹm cả vào ba tuyến đường dố, đồng thời do chịu ảnh hưởng của gió thốc quanh năm, nên bị cắt vụn tơi bời, các khe băng hệt như những vết đao chém tung hoành ngang dọc, đen ngòn sâu không thấy đáy, muốn lên được đỉnh núi thì buộc phải băng qua khu vực khe băng chằng chịt ấy. Gió thốc thổi khiến tuyết đọng nơi lưng chừng núi cuồn cuộn tung bay mù trời, nhưng gió cũng khiến tuyết trên đỉnh núi chất lên tựa như mái hiên, nơi tuyết dày nhất thì giống như một tán nấm cao vượt hẳn lên, làm thành cái núm chuông trông giống đầu người. Dưới ánh trăng ảm đạm, cả ngọn núi tuyết hệt như một bóng u linh khoác áo choàng, từng đống tuyết đọng chính là cái miệng khổng lồ đang ngoác ra của nó, và cái miệng này có thể ngậm lại bất cứ lúc nào. Giữa khu vực khe băng chằng chịt và đống tuyết dạng như cây nấm trên đỉnh núi, lộ ra một khoảng vách đá trần, vừa nhìn đã biết toàn đá lởm chởm chất chồng, bề mặt trông như ruộng ngày khô hạn, chốc chốc lại có tảng đá lớn bị gió thổi tốc lên, nhìn từ xa không biết là đã bị văng đi nơi nào.

Ba người lần lượt nhìn vào ốm nhòm, không ai nói năng gì, sau cùng, chỉ có Nhạc Dương thốt lên: “Ngọn núi này mà cũng leo lên được sao?”

Lạt ma Á La lắc đầu. Chưa nói chuyện khác, chỉ riêng những khe băng nứt toác kia thôi, nếu không dùng công cụ thì căn bản không thể vượt qua được. Còn cả những đống đã chất chồng đó nữa, đến đá còn bị thổi lăn qua lăn lại ầm ầm, dải gió Tây đáng sợ ấy làm sao mà vượt qua được đây? Dù cho có vượt qua được chăng nữa, thì vẫn còn cái đống tuyết như mũ nấm trên cao kia, đừng nói là lớn tiếng nói chuyện, sợ rằng bước chân hơi mạnh một chút cũng đủ khiến nó ập xuống rồi, khi ấy thì là tuyết sập chứ không phải tuyết lở đâu!

Trương Lập điều chỉnh ống kính máy ảnh, cắn môi nói: “Cả ba con đường đều phải đi xuyên qua vùng khe băng và dải gió Tây, còn đống tuyết trên đỉnh núi kia thì ở dốc phía Nam và phía Bắc đỡ hơn một chút, chỉ hơn một chút thôi. Đáng sợ thật, quả là đáng sợ, chẳng trách xưa nay chưa có ai lên đỉnh ngọn núi này từ phía biên giới Trung Quốc cả.”

Nhạc Dương nói: “Còn một điểm rất quái dị, tại sao đến khuya mù tuyết lại tan đi như vậy nhỉ? Vì nhiệt độ quá lạnh à?”

Trương Lập lắc đầu: “Không biết, để mai hỏi anh Ba Tang xem.”

Lạt ma Á La nói: “Ghi lại hết cả chưa? Chúng ta cũng về nghỉ thôi, ngày mai để họ xem lại những hình ảnh này, mọi người cùng nghĩ cách. Chẳng… ôi…”

Sáng sớm hôm sau, lúc mọi người bước chân ra khỏi lều thì mây mù sương tuyết trên đỉnh núi chưa tụ lại hết, vẫn còn lờ mờ nhìn thấy những khe rãnh chằng chịt trên băng. Nhìn đống ảnh và phim Trương Lập chụp, không ai nói được câu nào. Đến cả người có kinh nghiệm ở vùng địa cực phong phú như đội trưởng Hồ Dương cũng cảm thấy chuyện này hết sức hóc búa, đối mặt với những khe băng rộng toác như vô số cái miệng khổng lồ đang há hốc ấy, anh căn bản không thể định ra tuyến đường nào được. Nhạc Dương quay sang hỏi Ba Tang: “Anh Ba Tang, sao anh biết đến đêm mù tuyết sẽ tan đi thế?”

Ba Tang nói: “Không biết, tôi chỉ đưa ra kết luận dựa vào quan sát thời gian dài thôi, rốt cuộc là tại sao thì tôi cũng không rõ. Đội trưởng Hồ Dương và mấy người nữa chẳng phải đã nói là có khả năng này hay sao, có khi họ biết nguyên nhân đấy.”

Nhạc Dương nghi hoặc nhìn sang phía đội trưởng Hồ Dương. Anh này liền gật đầu: “Chúng tôi cho rằng, mù tuyết kia không đơn thuần chỉ có tuyết, mà còn có cả sương mù thực sự nữa.”

Nhạc Dương ngạc nhiên thốt lên: “Không thể nào chứ, trên đỉnh núi tuyết làm gì có mưa, nước đọng đều đông cứng thành băng cả, lấy đâu ra hơi sương thực sự chứ?”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Chúng tôi nghĩ như thế này, nếu là nơi từng có một đám người cư trú, chắc chắn phải có nguồn nước, tuyết đọng trên núi tuyết này tan ra có thể giải quyết được vấn đề nguồn nước; sau đó là có một khe núi tương đối bằng phẳng, nhiệt độ trong khe núi cao hơn trên bề mặt núi tuyết rất nhiều, ban ngày ánh mặt trời chiếu vào làm hơi nước bốc lên, lên đến bề mặt núi tuyết thì lại gặp phải không khí lạnh, vậy là hình thành hơi mù dày đặc, đến tối nhiệt độ giảm xuống, không còn hơi nước bốc lên nữa, sương mù kia tự nhiên cũng tan đi thôi. Gió lốc của dải gió Tây dồn tuyết thành hình nấm như thế kia, thế nên mù tuyết thực ra không nổi rõ cho lắm. Giáo quan Lữ Cánh Nam cũng nghĩ giống như tôi vậy.”

Lữ Cánh Nam gật đầu: “Giờ tình hinh phía trước đã rõ ràng rồi, ở đây thảo luận cũng không ra kết quả gì đâu, chúng ta đến đó rồi sẽ phân tích cụ thể dựa trên tình huống cụ thể luôn. Để tránh gió thốc thổi chính diện, chúng ta sẽ leo lên từ sườn núi phía Nam, nếu quả thực không thể lên được, thì sẽ từ trong sơn cốc bám mặt băng leo lên vậy.”

Buổi sáng sớm, vì áp suất không khí chịu ảnh hưởng từ vòng quay của trái đất, sức gió quả nhiên yếu hơn trong ngày rất nhiều, nhưng nói chung vẫn rất mạnh. Các thành viên trong đội mượn gió trợ sức, tốc độ trèo dốc còn nhanh hơn bình thường đi đường núi, chẳng mấy đã vượt qua lằn ranh tuyết. Trên đường đi vượt qua mặt Nam của ngọn núi, họ phát hiện thêm một khe nữa. Cái khe này so với khe núi nơi họ trú đêm qua thì lớn hơn rất nhiều, bên ngoài dường như đã hình thành một vòng lặp hết sức quái dị của gió, mỗi lần chỉ có một chút gió nhẹ thổi vào bên trong. Nhưng điều khiến các thành viên trong nhóm dừng lại chụp ảnh, là hai cái giò Mã Ni rất lớn trong khe núi ấy, cờ phướn đón gió tung bay phần phật. Gò Mã Ni do vô số tảng đá trắng chất lên có thể nói là kiến trúc nhân tạo duy nhất trên ngọn núi này, những tảng đá cầu nguyện ở tàng dưới cùng đã bị phong hóa quá nửa, phải mất bao nhiêu thời gian mới khiến tảng đá bị cơn gió yếu như thế phong hóa kia chứ. Còn những tảng đá cầu nguyện phía trên cùng vẫn còn ánh lên sắc sơn đỏ mới, chứng tỏ ở đây vẫn có người đến quỳ bái.

Càng khiến người ta kinh ngạc hơn nữa là, trên những tảng đá cầu nguyện ấy không khắc Lục tự đại minh chú như thường thấy, mà là các ký hiệu cổ xưa của người Tạng, chắc rằng đến cả người khắc ra chúng cũng chẳng còn biết những ký hiệu này mang ý nghĩa gì nửa rồi, nhưng họ vẫn cứ khắc hết sức chuẩn xác. Vậy là, trong mắt đội leo núi đặc biệt này liền xuất hiện vô số tảng đá trắng chất thành hai gò Mã Ni to tướng, bên trên mỗi tảng đá đều khắc thành những ký hiệu chuyển tải thông điệp: “Kẻ nào bước qua cửa này, phải từ bỏ tất thảy hy vọng.”

1. Thực tế ở nước ta đã chứng tỏ không thể hoàn toàn tin vào Cục Khí tượng được.

Khe băng nứt

Người am hiểu văn hóa Tây phương là Trác Mộc Cường Ba lập tức hiểu ra “Cánh cửa Địa ngục” mà Đường Thọ kêu gào ấy rốt cuộc là chỉ nơi nào. Gã không hiểu đây là tình cờ xảo hợp hay là kỳ tích, chỉ biết là lúc này, khi đứng ở chốn đây, gã đã cảm nhận được nó một cách sâu sắc. Ngẩng đầu nhìn lên, phía sau Cánh cửa Địa ngục, khe băng nứt tựa như lối vào chốn u minh, vô số con ma thú há miệng rộng ngoác, đợi chờ những linh hồn bị cắn xé rơi xuống, gió núi phát ra những tiếng rít gào nghe như loài ma quỷ đang gầm thét, khiến người ta không khỏi run rẩy hãi hùng; xoay người nhìn lại, chỉ thấy núi non nhấp nhô trùng điệp, toát lên một vẻ đẹp quyến rũ như thục nữ dưới ánh trăng dịu dàng, cảnh vật óng ánh lên một sắc lục pha lẫn ánh bạc như bảo ngọc, khắp trời tinh tú hòa cùng vầng nguyệt nhảy múa hoan ca. Gã lập tức trào lên một cảm giác, nơi này thật là yên tĩnh xiết bao, chỉ có ngọn gió đến tự chốn thiên đường đang ve vuốt bên cạnh mình, dịu dàng đến chừng như khiến người ta chỉ muốn ngả mình vào lòng mẹ. Đứng trước Cánh cửa Địa ngục, hướng về hai đầu sinh tử, Trác Mộc Cường Ba chỉnh lại trang phục, ánh mắt kiên định như sắt thép hướng về phía Địa ngục thẳm sâu, thầm nhủ: “Cánh cửa Địa ngục, ta đến đây!”

Lạt ma Á La chỉ vào hoa văn bên dưới những văn tự trên đá Mã Ni: “Đây là hoa văn đặc trưng của gia tộc La Long Ni Khắc.”

Trương Lập hoan hỉ thốt lên: “Cũng có nghĩa là, đây chính là con đường chỉ có chú Cương Nhật Phổ Bạc mới biết, chúng ta không hề đi lầm đâu!”

Giáo sư Phương Tân nói: “Chỉ có những tảng đá ở mười mấy tầng trên cùng mới có hoa văn, những tảng đá bên dưới bất luận là văn tự hay điêu khắc đều có chút khác biệt, cũng có nghĩa là, gia tộc La Long Ni Khắc đã phát hiện ra nơi này vào khoảng hơn một trăm năm về trước.” Ông đưa mắt nhìn khu vực đầy khe băng rãnh băng phía sau “cánh cửa” lẩm bẩm nói: “Nhưng mà, con đường lên núi này, phải làm sao mới vượt qua được khu vực băng vỡ đây?”

Mau lại đây mà xem, mọi người xem đây là cái gì!” Nhạc Dương cũng có phát hiện bất ngờ. đội trưởng Hồ Dương vội chạy đến chỗ anh chàng, bất giác đưa tay lên vân vê hàm râu, thốt ra một tiếng: “Ồ”. Giáo sư Phương Tân cũng đi tới, lập tức ngồi xổm xuống, lấy làm kỳ quái nói: “Sao lại thế được nhỉ?”

Chỉ thấy chỗ Nhạc Dương đang ngồi chồm hỗm, cũng là chính giữa Cánh cửa Địa ngục kia, trên tầng đã cứng có vô số vết đục tương đối nông, bị những tảng đá chất lộn xộn che khuất, nhưng quan sát kỹ một chút sẽ không khó nhận ra những bậc thang người xưa khoét ra để lên núi. Đây chính là một con đường, một con đường hiện lên rõ mồn một trước mắt mọi người.

Nhạc Dương nói: “Lẽ nào, chúng ta đã phát hiện ra con đường cổ nối liền Đại Đường với Thổ Phồn?”

Giáo sư Phương Tân lắc đầu: “Không phải đâu, người xưa càng không có khả năng leo lên ngọn núi tuyết nguy hiểm thế này. Đường – Phiên cổ đạo nhất định là đi xuyên qua các sơn cốc nơi những dãy núi giao nhau, không thể nào vượt qua đỉnh núi mà đi thế này được. Nhưng mà, nếu đã đục thành bậc thang đá, vậy chứng tỏ rằng từng có rất nhiều người đi qua đây, thế nên mới cần phải làm thành đường, con đường này thông thẳng đến khe băng nứt đó, ai lại đi đường này chứ nhỉ?”

Đội trưởng Hồ Dương cũng lắc đầu, hoàn toàn không hiểu.

Không có quá nhiều thời gian để thảo luận, họ chỉ dừng lại một lúc trước Cánh cửa Địa ngục rồi lại vội vã đi lên phía Bắc. Sau khi qua Cánh cửa Địa ngục, gió đã lớn hơn rõ rệt, không còn là người leo núi nữa, mà là gió đẩy người tiến lên phía trước, đẩy cả đoàn người tiến thẳng vào sâu trong địa ngục âm u.

Vượt qua khu vực bị lưỡi băng liếm quẹt xuống, mọi người đã lên đến bên dưới sống núi, độ dốc bỗng đột ngột tăng, vách đã sừng sững trước mặt cả đoàn như một gã khổng lồ, lên độc dốc 75 độ ấy thật chẳng khác biệt gì so với leo bám một bề mặt thẳng đứng cả. Vách cao dựng đứng chắn phía trước họ lúc này rất giống với “nấc thang thứ hai”(1) trên đỉnh Chomolungma, nhưng độ cao thì phải gấp mấy chục lần “nấc thang thứ hai” đó. Trương Lập huýt sáo một tiếng: “Ối chà chà… được rồi, giờ mới chính thức bắt đầu leo núi đây.”

Đường Mẫn thấp giọng hỏi: “Đội trưởng Hồ, tại sao lại chọn con đường này thế?”

Đội trưởng Hồ Dương mỉm cười: “Tôi biết cô đang nghĩ gì rồi, có phải muốn nói, độ dốc của vách núi phía bên kia thấp hơn, xem ra thì dễ leo hơn, đúng không?”

Đường Mẫn gật đầu.

Đội trưởng Hồ Dương lắc đầu nói: “Sơn cốc phía bên kia có rất nhiều băng tuyết đọng, độ lún sâu có thể hơn cả chiều cao người, mà bên dưới còn có những khe nứt rất lớn không nhìn thấy được, bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra hiện tượng lở băng lở tuyết. Đội trưởng Hồ này chơi với băng tuyết nhiều năm rồi, không chọn sai đường cho cô đâu. Phải biết một điều là, muốn l ên núi tuyết thì chỉ được đi trên sườn núi, tuyệt không thể đi vào sơn cốc đâu đấy.”

Đội trưởng Hồ Dương lấy ra một chiếc dùi đục đá và một nắm móc, nói với mọi người: “Nào, chúng ta lên đó thôi!”

Leo vách núi là một môn thể thao ngoài trời hiện đại, hiện nay càng ngày càng có nhiều người quen với môn này hơn, nhưng đeo trên lưng ba bốn chục kg mà leo vách núi trong môi trường không khí loãng ở độ cao sáu nghìn năm trăm mét so với mực nước biển thì không phải chuyện những người ưa thích môn leo vách đá bình thường có thể làm được. Các thành viên chuẩn bị xong công cụ, liền vươn mười ngón tay ra tìm kiếm điểm leo bám trên vách đá trần, chôn dùi đục xuống, buộc dây thừng chính, móc khóa, rồi thắt chặt dây an toàn, mở ra một con đường trên vách đá dựng đứng ở độ cao sáu nghìn năm trăm mét trên mực nước biển.

Môi trường không khí loãng và nhiệt độ cực thấp là một khảo nghiệm lớn nhất đối với các thành viên trong đội, trong quá trình huấn luyện đặc biệt, họ đã biết làm cách nào để khiến hô hấp của mình trong hoàn cảnh này đạt được hiệu quả tương đồng như ở khu vực có độ cao tuyệt đối thấp hơn, và làm cách nào để lợi dụng cử động cực nhanh của các đốt ngón tay nhằm thúc đẩy tuần hoàn máu, kháng cự lại cái lạnh. Leo vách đã kiểu như thế này đối với bọn Trác Mộc Cường Ba không phải là vấn đề khó khăn gì, mà mọi người cũng đều biết, khảo nghiệm khó khăn hơn gấp bội vẫn còn đang ở phía trước, ở khu vực khe băng rãnh băng và phía sau đó nữa… Tử vong Tây phong đới!

Leo lên chừng hai trăm mét, độ dốc giảm dần, nhưng vẫn phải nhờ các thiết bị bảo hộ thì mới thuận lợi tiến lên được, mọi người leo liền một hơi, thẳng đến phía trước khe băng nứt mà không gặp phải hiểm nguy gì quá lớn. Lúc này, cả một dòng sông băng chằng chịt vết nứt trải ngang trước mắt, trông như những con mãnh thú tham lam, bao nhiêu linh hồn cũng không thể nhét đầy nổi những cái dạ dày không đáy của lũ chúng.

Khe băng nứt này là cả một dòng sông băng bị gió xâm thực mà thành, trông như làn da bị giá lạnh làm cho nứt nẻ, trước tiên là ba cái rãnh theo chiều dọc, sau đó là vì chịu lực không đều mà lại phân tầng đứt gãy theo chiều ngang, những chỗ nứt gãy đều tạo thành đường ngoằn ngoèo như gân lá, đâu đâu cũng là khe hở toang hoác. Những chỗ nứt toác ấy chịu ảnh hưởng của gió núi, mỗi ngày lại mỗi rộng thêm, có nhiều chỗ đã không thể coi là khe nứt được nữa. Dưới tác động của nhiều loại lực khác nhau, nơi đây đã hình thành nên vô số trụ băng sừng sững chọc trời, chính là một trong những cảnh tượng kỳ lạ hiếm thấy trên núi tuyết: rừng tháp băng!

Đứng ở mép dưới sông băng, nhìn dòng sông băng khổng lồ bị gió cắt chằng chịt đầy những vết sẹo này, cảnh tượng hiện lên trước mắt họ lúc ấy là như thế nào chứ. Hệt như một tảng đậu phụ lớn, bốn phía đều hoàn chỉnh, nhưng phần giữa lại bị ai đó dùng máy đánh trứng khuấy loạn lên, ba vệt nứt chính rộng đến cả trăm mét, bên dưới sụt xuống thành rừng tháp băng, dọc theo những vệt nứt chính ấy, những khe nứt nhỏ hơn vươn ra bốn phương tám hướng như đường gân lá, nguyên cả một dòng sông băng đều ở trong trạng thái có thể sụp đổ vỡ tan bất cứ lúc nào. Tuy rằng những khe nứt ở bên rìa có thể bước chân qua được, nhưng bề mặt sông băng trơn như tấm kính, cho dù có lắp thêm vuốt đi trên băng cũng không thể đảm bảo có thể bước đi vững vàng, huống hồ càng đi vào khu vực trung tâm, các vết nứt càng lớn, sức người không thể nào nhảy qua nổi. Vài khe nứt còn cắt sông băng thành những vách băng hình cán chêm đầu to chân bé, bên trên là mặt băng rộng mấy trăm mét vuông, bên dưới lại nhỏ thít vào như lưng ong, gió thổi qua cũng khiến người ta có cảm giác nó muốn đổ sập xuống, càng không nói gì đến chuyện đứng vững ở chỗ ấy. Còn có những trụ băng đã đổ vật xuống, nhưng lại không chịu nằm ngang, mà gác lên những trụ băng khác, thành như cánh cổng hoặc như những quân bài domino xếp chồng lên nhau.

Nhìn bức vách thủy tinh bị dao chém rìu bổ này, Lạt ma Á La chợt nhớ đến hồ axit họ từng phải nhảy qua ở Đảo Huyền Không tự. Còn Trác Mộc Cường Ba, Trương Lập và đội trưởng Hồ Dương thì cùng lúc nghĩ đến hang động sông băng ở Khả Khả Tây Lý, hai thứ cực kỳ giống nhau mà lại hoàn toàn khác biệt. Hang động sông băng nối liền với những vết nứt lớn trên mặt đất, cuối cùng thông thẳng xuống dòng chảy ngầm dưới lòng đất, còn cở đây toàn là băng nứt ra, bên dưới là tầng đất đông cứng hơn sắt thép, từ độ cao thế này mà ngã xuống thì chẳng khác gì từ nóc nhà cao tầng nhảy xuống cả. Máy đo khoảng cách bằng tia laser hiển thị, khe nứt sâu nhất ước chừng khoảng một trăm năm mươi mét, đây cũng là độ dày củ khu vực băng phủ này. Thoạt nhìn thì khu vực băng nứt chằng chịt này không xa lắm, nhưng thực ra cũng có đến mấy cây số lộ trình, khoảng cách như vậy mà phải băng qua bên trên vô số khe nứt tung hoành, thực sự là không thể làm nổi.

Đứng trước những khe rãnh ấy, mỗi người đều thầm suy tư, làm sao vượt qua được bây giờ? Những trụ băng kia cứng mà giòn, nếu dùng dây móc bám vào đu qua, không may mà trụ băng gãy lìa, bên dưới toàn là những cọc băng nhọn như đầu thương mũi giáo, rơi xuống thì ắt sẽ bị đâm cho thủng lỗ chỗ khắp người. Mà dù cho trụ băng có đủ chắc chắn để giữ được dây móc, thì vẫn còn những trụ băng sắc bén như dao như rìu ở cạnh đấy, ngộ nhỡ va đập chính diện mà không bị xẻ thành đôi mảnh mới là chuyện lạ. Càng tệ hại hơn nữa là, có một số chỗ nứt khoảng cách giữa hai bờ rất lớn, vượt quá cả cỡ chiều dài dây móc.

“Tôi nghĩ thế này…”

Đội trưởng Hồ Dương đang rầu rĩ không nghĩ ra được cách băng qua chỗ này, vừa nghe thấy câu nói ấy lền tức khắc nộ khí xung thiên, lập tức định mở miệng mắng người, nhưng ngoảnh đầu lại nhìn, hóa ra người vừa lên tiếng lại là Trác Mộc Cường Ba, anh đành nhẫn nhịn không phát tác nữa.

Trác Mộc Cường Ba chỉ vào phía đối diện nói: “Bên dưới này là tầng đất đông, mà khe nứt cuối cùng và phía trên kia có hình thành một dốc băng, chỉ cần tìm một khe nứt đủ lớn, có thể trực tiếp trượt xuống tầng đất đông là được. Trước tiên chúng ta trượt xuống bên dưới khe nứt, chắc là sẽ có đường thông, rồi cứ thế đi xuyên qua khu vực nứt gãy này, vượt luôn qua rừng tháp băng, cuối cùng thì bám vào vách băng mà lên phía trên, tôi cho rằng như vậy thì an toàn hơn là đi trên bề mặt sông băng nhiều.”

Giáo sư Phương Tân phản đối: “Không được, ai biết bên dưới khe nứt tình hình như thế nào chứ? Nếu bị kẹt ở giữa lên không được, xuống không xong thì phiền phức lắm đó.”

Đội trưởng Hồ Dương cười khổ nói: “Tôi biết ý cậu rồi, Cường Ba à, có phải cậu cảm thấy, những động băng tan chảy này gần giống với hang động băng mà lần trước chúng ta đã chui vào ở Khả Khả Tây Lý hay không?”

Đúng là Trác Mộc Cường Ba có suy nghĩ này, giờ nghe đội trưởng Hồ Dương nói vậy, gã cũng đoán xem ra mình đã nghĩ sai ở đâu đó.

Đội trưởng Hồ Dương lắc đầu nói: “Động băng tan chảy và động băng thoạt nghe chỉ lệch nhau có một chữ thôi, nhưng thực ra khác biệt rất lớn. Hang động băng là do băng tan nhiều năm tác dụng lên sơn thể, khoét ra hang động bên trong lòng núi; còn động băng tan chảy trên sông băng này đây, chủ thể của nó là sông băng bị ảnh hưởng của luồng khí nóng, tự thân xảy ra hiện tượng tan chảy, bên trong toàn là những chỗ nứt toác, đâu đâu cũng thấy vực sâu với vách băng dựng ngược, căn bản không tìm đâu ra đường mà đặt chân xuống, con người không thể đi trong đó được đâu.”

Mẫn Mẫn cuống lên hỏi: “Vậy, vậy phải làm sao bây giờ?”

Đám Nhạc Dương, Trương Lập không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn sang phía Lạt ma Á La. Vị sư già trầm tư hồi lâu, đoạn mới nói: “Diện tích sông băng này lớn quá, dù tôi qua được thì cũng không có cách nào đưa mọi người cùng qua, hơn nữa…” Ông nhìn một ba lô to tướng đầy những thứ tối cần thiết khi leo núi, sắc mặt nặng nề nói: “Chưa chắc gì tôi đã vượt qua được.”

Đúng lúc này, Trác Mộc Cường Ba kêu lên: “Mọi người, có thể im lặng một chút được không…” Tất cả mọi ánh mắt đều hướng về phía gã, chỉ thấy Trác Mộc Cường Ba đang tập trung toàn bộ tinh thần lắng nghê gì đó, rồi nói với những người còn lại, “Hình như tôi nghe thấy tiếng Cương Lạp.”

Nhạc Dương nghển lên nhìn khắp bốn phía xung quanh, trên núi tuyết rặt một vùng trắng xóa, chẳng thấy gì hết.

Trong khe núi cách đó một quãng xa, ba bóng người cao lớn cũng đứng bên sông băng, trên người khoác một bộ áo phòng hóa chất bịt kín toàn thân màu trắng, hoàn toàn hòa làm một với ngọn núi tuyết, dù đến gần cũng không thể phân biệt nổi đây rốt cuộc là người hay mấy tảng đá phủ tuyết nữa. Đầu mình tay chân của họ đều hoàn toàn bịt kín, trước ngực có một ống dẫn khí nhỏ thò ra nối liền với mặt nạ phòng độc, nhìn qua kính mắt chống đạn có thể trông thấy ba cặp mắt trông như mắt diều hâu đại bàng. Người bên phải cất tiếng: “Chuyện gì thế? Bọn chúng đang nhìn cái gì vậy? Lẽ nào chúng ta bị phát hiện rồi?”

Người bên trái lắc đầu: “Không thể nào, chúng ta cách chúng xa như vậy làm sao bị phát hiện được chứ. Phải không, ông chủ.” Giọng nói ấy trong sự hòa nhã thân thiết mang cả vẻ xu nịnh, trong sự cung kính toát lên vẻ nhún nhường, rõ ràng chính là giọng của Max.

Cái bóng cao hơn hẳn đứng giữa hai tên đồng bọn kia chính là Merkin. Y hạ ống nhòm xuống nói: “Ừm, xem ra chúng gặp phiền phức rồi.”

Sau lưng ba người, không ngờ còn có cả một đám mặc trang phục phòng hóa chất màu trắng nữa, ai nấy đều cầm vũ khí các loại, ánh mắt hừng hực sát khí.

Mọi người cùng yên lặng, âm thanh lập tức rõ hẳn lên. Trong tiếng gió, quả nhiên có lẫn cả tiếng chó sủa, âm thanh rất thấp trầm nhưng lại truyền được rất xa. Giáo sư Phương Tân mừng rỡ reo lên: “Cương Lạp đến rồi, vậy Cương Nhật Phổ Bạc nhất định cũng ở quanh đây thôi, rốt cuộc anh ấy cũng nghĩ thông được rồi.”

Lạt ma Á La lắng nghe âm thanh ấy, trong lòng lại hết sức kinh hãi: “Không thể nào, âm thanh gần chúng ta như vậy rồi, không thể có chuyện chúng ta vẫn không thấy gì hết được, rốt cuộc là âm thanh vọng ra từ đâu chứ?”

Khi âm thanh vang lên lần nữa, mọi người đều lấy làm ngạc nhiên, bởi vì, âm thanh ấy không phải từ bên dưới vọng lên, mà ở ngay phía trước mặt họ, trong dòng sông băng!

Tiếng sủa càng gần hơn, Nhạc Dương giơ đèn chiếu lên soi thử, rồi kinh ngạc kêu toáng lên: “Cường Ba thiếu gia, nhìn kia kìa!”

Chỉ thấy dưới đáy sông băng, bên trong đường rãnh sâu hun hút kia, bổ ra một bóng xanh ngọc bích lấp lóa, không phải Cương Lạp thì còn ai vào đây được nữa? Con linh ngao cứ chạy qua chạy lại bên dưới, tỏ ra hết sức hưng phấn. Trác Mộc Cường Ba không kìm được mà thất thanh hỏi: “Cương Lạp, sao mày lại xuống dưới đó thế?”

Đội trưởng Hồ Dương nhíu mày hỏi: “Lẽ nào, con đường ấy thực sự ở bên dưới kia?”

Chỉ thoáng sau đó, một người đàn ông đội mũ da cáo, mặc áo chẽn bó sát người, hông đeo thanh đao theo sau Cương Lạp bước ra, lại không phải Cương Nhật Phổ Bạc thì còn ai! Cương Nhật Phổ Bạc hiển nhiên cũng không ngờ sẽ gặp bọn Trác Mộc Cường Ba ở đây, nét mặt lộ rõ vẻ kinh ngạc, cất tiếng hỏi: “Mấy người… sao vẫn chưa lên núi vậy?”

Lữ Cánh Nam quay sang hỏi đội trưởng Hồ Dương: “Vậy chúng ta cứ xuống đó trước nhé?”

Đội trưởng Hồ Dương không nén được nụ cười, gật đầu đồng ý. Nếu người duy nhất biết đường là Cương Nhật Phổ Bạc đã ở dưới đó rồi, vậy thì bên dưới ấy chắc chắn là có đường. Xem ra chắc là anh ta tưởng rằng hôm qua bọn họ định lên đỉnh chỉ trong một ngày, đoán chừng hôm nay đến thu nhặt thi thể, không ngờ hôm qua họ chỉ leo núi có nửa ngày rồi nghỉ ngơi qua đêm bên dưới lằn tuyết, hôm nay gặp mặt nhau ở đây cũng coi như là may mắn đi vậy.

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Xem ra Cường Ba thiếu gia nói đúng rồi đấy, bên dưới có đường, phải trượt xuống đó xem sao. Chỉ có điều e rằng sau khi vượt qua được rừng tháp băng, leo vách băng sẽ tương đối khó đấy.”

Lữ Cánh Nam chỉ thị: “Trượt nhanh xuống tầng đất đông, trước khi mù tuyết hoàn toàn che phủ khu vực khe rãnh này phải leo ngược lên dốc băng!”

Các thành viên trong đội nhất tề bắt tay hành động, nhanh nhẹn đóng xong đinh tán, mũi khoan thép, móc dây thừng, chẳng buồn dùng đến các thiết bị an toàn như thừng phụ và thiết bị hạ độ cao, cứ thế trực tiếp trượt xuống luôn.

Max nói: “Sao vậy… không ngờ chúng lại trượt xuống khe băng kia!”

“To gan thật, chúng nó điên rồi chắc? Tao chưa nghe nói có ai dám vượt sông băng theo lối đi xuyên qua khe nứt như thế này cả!” Merkin quay sang hỏi người đứng bên phải mình, “Mày thấy sao hả Thiết Quân?”

Gã đàn ông tên là Thiết Quân này thấp hơn Merkin cả một cái đầu, nhưng nhìn phần vai hắn không ngờ lại còn rộng hơn cả vai Merkin, cánh tay cũng hết sức cường tráng, cả người hắn lúc đứng yên bất động thành ra hình một cái tam giác ngược, cộng thêm cả đôi cánh tay dài đến gối, trông chẳng khác gì con tinh tinh cả. Hắn cất tiếng nghe cũng như loài dã thú đang gầm ghè: “Tôi cho là trừ phi chúng có mục tiêu xác định, bằng không sẽ không dám xuống khe bắng nứt ấy đâu.” Tiếng Anh của hắn cũng không được chuẩn cho lắm. Max liếc nhìn một cái đầy khinh bỉ.

Merkin gật đầu: “Ừm, đúng thế, chúng có bản đồ mà.” Tới đây, Merkin thở dài nói: “Thật không ngờ đấy, thì ra tấm bản đồ cũng chỉ đường đến nơi này, xem ra hồi ức của Tây Mễ là chính xác rồi, giờ chỉ còn xem rốt cuộc tấm bản đồ ấy chỉ tường tận đến mức nào thôi. Mấy trăm cây số lưng chừng núi bị bao bọc trong sương tuyết mù mịt, lại chỉ có một lối vào rộng chừng một mét là có thể đi xuống dưới, đám giáo đồ Mật giáo cổ đại ấy sao lại tìm ra được nơi như thế chứ? Thật là không thể tin nổi… Nếu ký ức của Tây Mễ chuẩn xác hơn một chút nữa! Nếu sườn núi đó không có từ trường đáng sợ nhường ấy! Nếu không có dải gió Tây chết tiệt ấy! Nếu không có đám sương mù dày đặc ấy! Chỉ cần thỏa mãn bất cứ điều kiện nào, tao cũng đã tìm được cái lối vào kia rồi! Hừ…”

Trượt xuống đáy khe băng, Trác Mộc Cường Ba bước tới bên cạnh Cương Nhật Phổ Bạc, ôm lấy Cương Lạp ngoảnh đầu lại hỏi: “A quả, sao anh lại ở đây?”

Nhạc Dương ở cạnh đấy cười hì hì hết sức gian xảo: “Chú à, chắc không phải chú ở đây đợi bọn tôi đấy chứ?”

Cương Nhật Phổ Bạc giận dữ quát: “Nói càn nói xiên! Tôi chỉ là… chỉ là…”

Đội trưởng Hồ Dương cũng không nghĩ khác lắm.

Mặc dù Cương Nhật Phổ Bạc đã kiên quyết từ chối dẫn đường cho họ lên núi, nhưng từ lúc biết họ vẫn quyết giữ ý lên núi tuyết cho bằng được, trong lòng cứ nghĩ mãi về Trác Mộc Cường Ba, giáo sư Phương Tân và cả Lạt ma Á La nữa, suy đi tính lại cuối cùng anh ta cũng không thể yên tâm. Đêm qua lại đột nhiên nằm mộng, vậy nên anh ta mới đến những chỗ mà mình biết trên núi xem thử một lượt coi sao. Chẳng ngờ, bọn Trác Mộc Cường Ba đi đường vòng quanh núi, rồi lại còn nghỉ ngơi một đêm ở bên dưới lằn ranh tuyết, đến hôm sau mới bắt đầu leo lên đỉnh. Cương Nhật Phổ Bạc dù nửa đêm về sáng mới bắt đầu lên núi, nhưng anh ta vốn đã thông thuộc đường xá, lại thêm cả Cương Lạp dẫn đường, vậy nên đã vượt lên phía trước cả bọn.

Cương Nhật Phổ Bạc chỉ nói hai câu ấy, rồi cũng không biết phải giải thích ra sao, đành thở dài nói: “Đêm qua tôi mơ thấy Lạp Chân, cô ấy trách móc tôi, vậy nên, mới muốn đến đây xem thế nào…”

Trác Mộc Cường Ba biết vị “a quả” này của mình ngoài miệng thì sắc bén như đao, nhưng trong tâm thì mềm như đậu phụ, gã ấn mạnh hai tay lên bờ vai Cương Nhật Phổ Bạc, cũng không nói gì thêm nữa.

Đội trưởng Hồ Dương nhìn hang băng tan sâu hun hút, nói: “Thì ra, anh biết con đường duy nhất có thể lên đỉnh núi, hóa ra bí mật chính là ở trong dòng sông băng khổng lồ. Chẳng trách những đoàn leo núi khác trước nay vẫn không thể nào lên đến đỉnh được, thì ra bọn họ đều không thể vượt qua được dòng sông băng bị phủ kín trong sương mù dày đặc này.”

Giáo sư Phương Tân mừng rỡ nói: “Cương Nhật, đằng nào chúng ta cũng khéo gặp ở đây rồi, hay anh dẫn đường cho chúng tôi nhé?”

Cương Nhật Phổ Bạc ngoảnh mặt đi, ấp úng nói: “Tôi, tôi không dẫn đường được. Muốn đi thì các vị tự tìm đường lấy mà đi, tôi chỉ theo sau thôi.”

Giáo sư Phương Tân lấy làm khó hiểu: “Anh hà tất phải…”

Cương Nhật Phổ Bạc kiên quyết đáp: “Tôi không thể phản bội lại lời thề!”

1. “Nấc thang thứ hai”: chỉ vách đá dựng đứng cao chừng 5 mét chắn trên con đường truyền thống lên đỉnh Chomolungma ở sườn phía Bắc, nằm ở độ cao từ 8.680 mét đến 8700 mét; muốn lên đỉnh núi thì buộc phải vượt qua vách đá này.

Thủy tinh cung (1)

Đã đến cửa hang rồi mà Cương Nhật Phổ Bạc vẫn còn nói không muốn dẫn đường, khiến mọi người đều hơi khó xử. đội trưởng Hồ Dương phát cáu lên: “Sợ cái chó gì! Tự chúng tôi tìm đường, chết trong này là cùng chứ gì!” Nói thì nói vậy, nhưng đây cũng chỉ là lời trong lúc tức khí lên mà thôi.

Không còn cách nào khác, họ đành tự mình nghĩ cách. Lữ Cánh Nam sắp xếp: “Tầm nhìn ở đây rất thấp, hơn nữa tầng băng bên trên còn có nguy cơ sập xuống, nói chuyện phải nhỏ giọng thôi, nhất định phải đi sát vào nhau. Diện tích sông băng này rất lớn, đặc biệt là sau khi sương mù lên, nếu lỡ để lạc đường thì rất có thể là sẽ không ra khỏi đây được đâu. Đã lắp xong thiết bị phát tín hiệu cả chưa?”

Ba Tang gật đầu, như vậy cho dù họ có lạc đường trong màn sương cũng có thể dựa vào thiết bị tiếp nhận tín hiệu mà tìm thấy con đường đi lên này. Lữ Cánh Nam ngẩng đầu nhìn sắc trời, chiếc mâm bạc kia đã không còn trong tầm mắt, chỉ thấy vài điểm tinh tú ảm đạm lu mờ, bèn nói: “Mặt trời sắp lên rồi, sương mù cũng đang nhanh chóng hình thành, chúng ta phải tăng tốc lên.”

Đứng bên dưới đáy sông băng ngẩng đầu ngước nhìn sông băng, cảm giác tựa hồ như một khối lập phương khổng lồ có phần đáy bị khoét rỗng vậy, trên đỉnh đầu hình thành rất nhiều khối băng nhọn hoắt như mũi dùi treo ngược, trông như từng mũi giáo nhọn sẵn sàng đâm thẳng xuống mặt đất bất cứ lúc nào. Mà dưới đất cũng còn rất nhiều mũi băng rơi xuống, cắm sâu vào tầng đất đông cứng, lại còn có rất nhiều trụ băng cỡ lớn mọc lên sừng sững như những cây măng tre khổng lồ, thoạt nhìn cửa hang này hệt như con ác long thời cổ đại đang há ngoác cái miệng đầy răng nanh sắc nhọn. đội trưởng Hồ Dương đi vào trước tiên, mọi người cũng lục tục tiến vào miệng con ác long, cẩn thận tránh những mũi dùi nhọn hoắt trên bề mặt. Trên đầu gió thổi vù vù, chốc chốc lại có tiếng “cạch cạch” của những mẩu băng nhỏ rơi xuống, cả đoàn người đến thở mạnh cũng không dám thở nữa.

Tầm nhìn bên dưới sông băng rất hạn chế, khá là giống với hang động Trác Mộc Cường Ba và đội trưởng Hồ Dương đã vào năm trước, chỉ khác là bức tường băng khổng lồ bên ngoài dày hơn hẳn mà thôi. Ánh đèn chiếu qua, băng tuyết phản xạ tạo nên một vùng ánh sáng lấp lóa lạ lùng, dưới đế những trụ băng vỡ rạn để lộ ra những vệt như vảy cá, phảng phất như trong bóng tối ẩn tàng vô số loài yêu ma quỷ quái. Càng đi sâu vào bên trong lại càng tăm tối, dưới ánh sáng của ngọn đèn sương mù, những cây măng hoàn toàn từ băng tuyết nhô cao đến hai mét, ngoài ra còn những vuốt thú mỏ ưng khoằm xuống ở khắp nơi nơi, mỗi lần đi qua bên dưới chúng, mọi người đều có cảm giác như tính mạng mình đang bị quái thú nắm trong lòng bàn tay vậy. Đi tiếp về phía trước, tầng đất đông được tuyết đọng che phủ cũng đã nứt toác ra, bên dưới đen ngòm như mực, không hiểu sâu đến mức độ nào, nghiêng tai lắng nghe, liền mờ mờ văng vẳng lên tiếng cuồn cuộn như sấm rền. Đường Mẫn lo lắng nói: “Bên dưới là gì vậy?”

Nhạc Dương nhún vai nói: “Ai biết được đâu, có lẽ lại là một tảng khe băng thôi, ai mà rơi xuống đấy chắc khó leo lên nổi.”

“Dòng chảy ngầm!” Trương Lập làm ra vẻ rất kinh nghệm giải thích, “Đó là dòng chảy ngầm thông thẳng xuống lòng đất, một hiện tượng tự nhiên hết sức kỳ dị, nước lạnh dưới không độ C rất nhiều, nhưng không hề đóng băng, ngược lại sau khi rời khỏi dòng chảy thì mới nhanh chóng kết thành băng. Để rơi xuống đấy sẽ bị đóng thành băng cứng đờ luôn, tuyệt đối không có cơ hội sống sót.” Nhìn bộ dạng của anh chàng, cả Trác Mộc Cường Ba và Hồ Dương đều cảm thấy hơi tức cười.

Khe nứt lớn dần lên, khiến cả đoàn người lại có cảm giác như trở lại khe núi lớn dưới lòng đất có Đảo Huyền Không tự, chỉ là bây giờ, con đường đá cứng chắc đã biến thành đống tuyết đọng rời rạc, đi trên con đường thế này, nguy cơ sụt lở lúc nào cũng lơ lửng treo trên đầu mỗi người. Lúc này, kinh nghiệm của đội trưởng Hồ Dương giúp ích rất nhiều, mỗi khi xuất hiện chỗ rẽ, anh liền dựa vào những thay đổi nhỏ nhặt của hướng gió và độ dày của băng tuyết để chỉ dẫn cho mọi người con đường chính xác, không đến nỗi đi vào ngõ cụt không thể tiến lên phía trước được nữa.

Có điều đến đoạn về sau, đường rẽ càng lúc càng nhiều, đội trưởng Hồ Dương cũng bắt đầu lực bất tòng tâm. Khi ấy, Cương Nhật Phổ Bạc vẫn tuân thủ lời hứa của mình, luôn đi theo sau cả đoàn người, nhưng anh ta lại để Cương Lạp đi trước tiên. Có điều, khi Nhạc Dương, Trương Lập trêu đùa, Cương Nhật Phổ Bạc lại hết sức nghiêm túc đáp: “Tôi không dẫn đường.” Nhìn vẻ mặt nghiêm túc của anh, tựa hồ có ẩn tình gì khó nói, bọn Nhạc Dương cũng không tiện hỏi han thêm. Cả đám đi theo sau Cương Lạp, mỗi lúc một đến gần khu vực trung tâm sông băng.

Các khe nứt càng lúc càng nhiều, những chỗ có thể đặt chân lại càng lúc càng hẹp, thành viên trong đội đành hóp bụng bám sát người vào vách băng như mấy con thằn lằn, hai chân nhích từng chút một hết sức cẩn thận, có điều mọi người đều tin tưởng rằng Cương Lạp sẽ đưa họ thoát khỏi chốn hiểm nguy này.

Mười mấy phút sau đó, cả đoàn người rơi vào một tình huống tiến thoái lưỡng nan, phía trước không còn đường nữa. Con đường nhỏ do tuyết đọng lại trên vách băng tạo thành cũng chỉ rộng chừng vài chục phân, giờ đây, ở phía trước mặt họ, tuyết đã sụt xuống chỉ còn một lớp dày chừng vài centimet, căn bản không thể đi được. Nhưng Cương Lạp vẫn tung tăng nhảy nhót, thân hình nhanh nhẹn tựa như trên đất bằng. Nhạc Dương nhìn theo bóng Cương Lạp, thốt lên: “Cương Lạp lợi hại thật đấy.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Tất nhiên, Hải lam thú là Tuyết sơn thần thú, nó ở trong khu vực núi tuyết này có khác nào cá ở trong nước đâu.”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Trông thấy chưa, chỗ này chỉ rộng chừng bảy tám mét, chúng ta còn qua được. Mỗi người cố gắng lên, đừng để Cương Lạp coi thường đấy!”

Cương Nhật Phổ Bạc hiếu kỳ nói: “Qua thế nào hả?”

Lạt ma Á La đi đầu tiên, ba lô vẫn đeo nguyên trên lưng, ông chạy lấy đà chừng hơn chục mét, kế đó Cương Nhật Phổ Bạc liền thấy một bóng người đột nhiên chạy vụt lên, vươn móc sắt lắp trên tay bấm vào mặt băng, cả người lao đi vun vút trên vách băng dựng đứng. Một bước, hai bước, ba bước, mỗi lúc một lên cao, chạy nhanh chừng sáu bảy bước như thế thân thể vị sư già mới bắt đầu hạ dần độ cao, lại chạy thêm hơn chục bước nữa, rồi an toàn hạ xuống con đường phủ tuyết phía bên kia. Vết nứt rộng chừng bảy tám mét, không ngờ lại vượt qua một cách thuận lợi như thế. Kế đó, trước ánh mắt đầy ngạc nhiên của Cương Nhật Phổ Bạc, từng thành viên khác đều lần lượt chạy trên vách băng thẳng đứng, thân hình lướt đi đẹp mắt, nhanh nhẹn như loài khỉ vượn vậy. Cương Nhật Phổ Bạc nhìn mà hoàn toàn ngẩn người ra, cuối cùng mới sực phát hiện chỉ còn lại một mình đang đứng lẻ loi phía bên này. Có điều anh ta cũng có cách riêng của mình, chỉ thấy cổ tay Cương Nhật Phổ Bạc hơi lỏng ra một chút, trong lòng bàn tay đã nắm một chiếc móc phi dây, vù vù xoay hai vòng rồi tung lên, chiếc móc liền bám chặt vào một đường nứt trên mặt băng, kế đó anh ta cũng đu người men theo vách băng, còn đạp chân chạy trên đó mấy bước nữa, chỉ có điều không chạy nhanh như bọn Trác Mộc Cường Ba mà thôi.

Cương Nhật Phổ Bạc đuổi kịp mọi người, vẫn không thể tin nổi những gì mắt mình vừa nhìn thấy, cất tiếng hỏi: “Mọi người, làm thế nào vậy?”

Nhạc Dương cười đáp: “Đây gọi là chạy đạp tường, làm một kỹ xảo trong môn chạy Parkour, một môn thể thao cực hạn rất được ưa chuộng bên nước ngoài, chúng tôi đã luyện cái này mất hơn nửa năm đấy. Người bình thường đạp lên tường có thể chạy được khoảng ba đến năm bước, chỉ cần nắm vững kỹ xảo thì có thể liên tiếp chạy trên tường chừng bảy tám bước gì đấy, thêm vào lực bám của móng vuốt, tự nhiên là có thể chạy mười mấy bước trên vách băng như thế rồi. Kỹ thuật của chú cũng không tệ chút nào đâu, giống như dây móc của chúng tôi ấy.” Nhạc Dương nói xong, nghĩ kỹ lại, chợt nhận ra ngoài động tác ném dây khác với kỹ thuật sử dụng dây móc của họ, còn đâu các kỹ xảo như đu dây, đạp chân, tung mình, hạ cánh của Cương Nhật Phổ Bạc đều giống hệt như những gì họ được huấn luyện, cảm tưởng như là mấy người cùng học chung một vị sư phụ vậy.

Đâu đâu cũng có những đoạn tuyết sụt lõm xuống, ngắn thì năm ba mét, dài thì bảy tám mét, thêm nữa địa hình nơi này đầy những thông đạo chằng chịt như sào huyệt của loài thú nào đó từ thời viễn cổ, vậy nên đi trong khe băng nứt này cũng hết sức khó khăn. Đây cũng là nguyên nhân khiến rất nhiều người thà mạo hiểm cả tính mạng băng qua vùng đất này phía trên khe băng chứ cũng không dám xuống sâu bên dưới.

Đi được một lúc, Lạt ma Á La khản giọng nói: “Đường phía trước không dễ đi rồi.”

Đường Mẫn thò đầu lên trên, khẽ nói: “Chỗ đứt gãy này rộng quá.”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Đứt gãy cũng có mấy loại, phía trước đây là dải đứt gãy hoàn toàn.” Trác Mộc Cường Ba nhổm lên quan sát, phía trước là hai động huyệt giao nhau, vách băng dựng đứng không có chỗ nào để đặt chân, phải vòng qua chỗ giao nhau rồi đi thêm mấy chục mét nữa mới thấy chỗ đặt chân mới. Cương Nhật Phổ Bạc mỉm cười nói: “Lần này thì qua thế nào đây?”

Trương Lập cười cười đầy tự tin: “Chú à, chú xem đây này!”

Lần này, Lạt ma Á La đã dùng đến dây móc, bắn thẳng lên tầng băng lơ lửng trên đỉnh đầu, đu sang phía bờ đối diện như khỉ đu dây vậy, vì tuyết bám trên tầng băng rất mỏng, dây móc đâm sâu vào mấy mét mà cũng không thể bám chắc, thêm vào ba lô nặng quá tải trọng đeo trên lưng, nên lạt ma chỉ đu được nửa đường là dây móc đã tuột ra, nhưng ông không hề hoảng loạn, kịp thời dùng đến sợi dây móc thứ hai, thân hình đung đưa nhẹ nhàng vượt qua khu vực hoàn toàn đứt gãy ấy. Các thành viên trong đội liền bám vào dây thừng an toàn do Lạt ma Á La mang qua, đục các điểm bảo vệ trên vách băng, từng bước từng bước bám thừng leo qua. Cương Nhật Phổ Bạc nhìn bóng Lạt ma Á La phía bên kia, lẩm bẩm nói: “Quả nhiên Mật tu giả cũng biết trò khahata này.”

Ngoài ra, xà tuyết và ụ băng cũng hết sức nguy hiểm, một số nơi còn phải vượt qua những khe nứt ở tầng đất đông cứng, gác bên trên khe nứt là xà tuyết, thoạt nhìn trông như sợi bông vậy. Thậm chí có chỗ hoàn toàn là những mảng tuyết đan xen lên nhau gác thành một cây cầu tuyết, chỉ nhìn thôi đã thấy đung đưa muốn sập xuống rồi chứ đừng nói là đặt chân lên đó mà bước qua. Chỉ có Cương Lạp mới dám nhảy qua chạy lại trên ấy, thật cũng không biết sao mà lá gan nó to như thế nữa, tưởng như hoàn toàn không hề sợ hãi vực sâu vạn dặm bên dưới vậy.

Còn có những nơi, băng tuyết và vách đá tách rời nhau, nhưng lại không hoàn toàn chia cắt, biến thành những “chạc cây” chĩa ra khỏi vách đá, một số chỗ “chạc cây” ấy bị cắt lìa, cuối cùng hình thành nên những ụ băng lửng lơ giữa không trung. Các ụ băng cách nhau khoảng một hai mét, bọn Trác Mộc Cường Ba phải nhảy qua những ụ băng bên trên vực sâu không thấy đáy như hồi nhỏ chơi trò nhảy ô vuông vậy. Vì chịu lực không đều, nên rất dễ xảy ra trường hợp ụ băng đột nhiên nghiêng đổ, trong khoảnh khắc ngắn ngủi không đủ để xoay người ấy, các thành viên trong đội đều phải vận dụng hết thân thủ hơn người cùng tốc độ phản ứng cực nhanh của mình mới có thể vượt qua một cách bình yên được. Trong chớp mắt khi ụ băng sụp xuống, dây móc có thể bắn vào vách đá, bắn lên băng treo trên đỉnh, bắn vào một ụ băng khác, ngoài ra cũng có thể sử dụng áo cánh dơi lướt xuống ụ băng ở thấp hơn, hoặc dùng áo cánh dơi chao liệng một quãng… sau đó bắn dây móc vào điểm cố định chắc chắn, các đội viên đều giở hết tuyệt kỹ, thể hiện thành quả huấn luyện một cách tuyệt vời. Đối với Cương Nhật Phổ Bạc, đây chắc chắn là một màn diễn tạp kỹ đặc sắc nhất, kinh hiểm nhất, kích thích nhất mà anh ta từng được xem trong đời, chỉ thấy anh ta cứ gật đầu lia lịa, rồi lại như trầm ngâm suy nghĩ gì đó, đoạn sử dụng chiếc móc dây nhỏ trong tay mình theo sát phía sau mọi người mà không hề kém cạnh.

Họ cứ đi như vậy bên dưới khe nứt không biết bao nhiêu lâu, mọi người đều đã thấy hơi mệt mỏi, những cơn gió lạnh buốt bắt đầu khiến các thành viên khó thở, cũng may là khe nứt lại đang dần dần hẹp lại, tựa hồ như có dấu hiệu khép sát vào. Cương Nhật Phổ Bạc giờ mới cất tiếng hỏi Nhạc Dương đang đi phía trước mình: “Kỹ thuật ném dây này của mọi người, là học từ vị pháp sư kia phải không?”

Nhạc Dương nói: “Không phải đâu, giáo quan dạy chúng tôi đấy.”

Cương Nhật Phổ Bạc đưa mắt liếc sang phía Lữ Cánh Nam, nhủ thầm trong bụng: “Những tưởng chỉ có một Mật tu giả, thì ra cả con nhóc này cũng thế.”

Nhạc Dương lại nói: “Sao chú lại hỏi vậy? À, phải rồi, kỹ thuật quăng dây móc của chú giống của bọn tôi lắm, thế chú học ở đâu ra thế?”

Cương Nhật Phổ Bạc cười cười đáp: “Cậu không biết à, kỹ thuật ném dây này vốn là một trong những tuyệt kỹ bí mật của người Tạng chúng tôi. Kỹ thuật của tôi, đều là do tổ tiên truyền lại cả.”

“Ồ,” Nhạc Dương kinh ngạc thốt lên, “tôi, tôi lại cứ ngỡ đây cũng là kỹ thuật phát triển từ môn chạy Parkour cơ đấy, sao lại…” Nhạc Dương ném dây móc ra, nhấp nhô liên tiếp mấy lượt, rồi lại đứng trên một con đường băng tuyết khác. Cương Nhật Phổ Bạc theo sát phía sau, nói: “Kỹ thuật ném dây thừng này đã có từ thời xa xưa, chúng tôi gọi là trò khahata, hiện nay e là không còn nhiều người biết nữa rồi. Thoạt đầu, chỉ là trò trượt từ độ cao trăm thước xuống trên dây thừng, cùng lúc đó, người biểu diễn phải thực hiện một loạt động tác có độ khó cao khác như lộn nhào, đảo vị, xoay người… Trong đó, loại khó nhất là buộc một sợi dây thừng giữa những vách đá cao vạn trượng, cũng hơi giống với trò đi trên dây của ngày nay vậy, có điều hồi đó người ta còn đổ nước lên dây thừng, gió núi thổi qua liền khiến nước đọng trên ấy đóng thành băng luôn. Người biểu diễn không được dùng bất cứ công cụ nào mà phải trượt từ vách đá bên này sang vách đá bên kia, ngoài ra, lúc trượt dây còn phải nhét hai tay vào thắt lưng, thân hình như thể đang nhảy múa trong gió, vì thế môn này còn một tên gọi khác là nhảy múa trên thừng băng. Tương truyền, kỹ thuật này là do Liên Hoa Sinh đại sư mang đến Tây Tạng, có điều là, sau đời A Để Hiệp đại sư thì không còn người nào biết nhảy múa trên thừng băng nữa rồi.

“Đi trên dây băng!” Nhạc Dương nghe mà trong mắt muốn lồi cả ra ngoài, “Tôi chưa bao giờ biết Tây Tạng lại có môn này đâu đấy!” Cương Nhật Phổ Bạc mỉm cười nói: “Mật kỹ cổ xưa của Tây Tạng nhiều không kể xiết, có điều sau này đa phần đều đã thất lạc trong chiến loạn, ngày nay chỉ sợ còn chưa đến một phần trăm lưu giữ lại được. Giống như môn ném thừng này vậy, mới đầu chỉ là trò chơi biểu diễn của những nông nô cùng khổ trong buổi tế lễ hàng năm, về sau dần dần đã diễn biến thành một nghề nghiệp đặc biệt, dùng nó để kiếm sống như những kẻ hành tẩu giang hồ, mãi nghệ mưu sinh, đến cuối thời Minh đầu thời Thanh, một số người ném dây đã không thỏa mãn với chuyện sử dụng kỹ nghệ của mình trong các lễ hội nữa, họ quấn dây thừng quanh người, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu cũng có thể buộc dây biểu diễn, về sau lại dần dần diễn biến theo hướng trở thành môn ném dây bay dây móc. Cho tới khi phát triển môn này thành một kiểu gần như cánh tay kéo dài, hễ vươn tay ra là có thể quăng dây, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể tung mình bay vút lên. Muốn sinh tồn trong núi tuyết, thì đây là một kỹ thuật tối cần thiết đó.”

Lại đi thêm mấy phút nữa, nơi họ đang đứng đây đã không còn gió nữa, nhưng vẫn rất lạnh lẽo. Trương Lập rét đến nỗi cứ khịt khịt suốt, bộ râu xồm của đội trưởng Hồ Dương bám đầy mạt băng, cái mũi đông cứng đỏ như mũi chú hề.

Trong động huyệt không những lạnh lẽo, mà còn có tiếng vọng làm âm thanh vang lên gấp bội phần, mỗi bước chân đặt xuống đều có thể nghe rõ mồn một, đến cả tiếng vụn băng rơi xuống cũng hòa vào tiếng bước chân đan xen của mọi người một cách hết sức rõ rệt. Đường Mẫn thấy hơi sờ sợ, đội trưởng Hồ Dương đi phía trước dẫn đường cất giọng an ủi: “Không cần căng thẳng quá thế, chúng ta đã vượt qua khu vực đứt gãy rồi, giờ ở đây là thành băng lũy tuyết. Sông băng trong dãy Himalaya khác với sông băng ở khu vực Khả Khả Tây Lý, cứ đi tiếp về phía trước, nói không chừng sẽ thấy được thủy tinh cung trong truyền thuyết đó, đẹp chẳng kém gì kỳ quan trong động băng ở Khả Khả Tây Lý đâu.”

Đường Mẫn từ trước đến giờ vẫn lấy làm tiếc vì không thể nhìn thấy kỳ quan trong động băng Khả Khả Tây Lý mà Trác Mộc Cường Ba kể lại, lúc này nghe nói có thể thấy kỳ quan thủy tinh cung đẹp không kém gì, trong lòng tức khắc bớt đi mấy phần sợ hãi, thêm vào mấy phần cảm giác mới lạ và chờ mong.

Đi sâu vào trong lòng sông băng, tầng băng xung quanh dần dần thay đổi, những bức tường băng như tuyết trắng chồng chất lên nhau trở nên trong suốt, hiện lên một thứ màu xanh lam nhàn nhạt của nước biển, quả nhiên giống hệt như là thủy tinh vậy, rực rỡ mê ly như mộng như ảo. Sắc hải lam ấy lan tràn khắp nơi, chuông băng, nhũ băng, cột băng, hoa băng, trụ băng, sương băng… hết thứ này đến thứ khác hiện lên trong mắt, làm cả toán người tùy tiện xâm phạm nơi đây không kịp nhìn ngắm hết. Đường Mẫn ngây ngẩn thốt lên: “Thủy tinh cung, đã đến thủy tinh cung rồi sao?”

Đội trưởng Hồ Dương lắc lắc bộ râu xồm xoàm, nói: “Chưa đâu, vẫn còn sớm mà, đây chỉ là lối đi thôi. Nếu như có thủy tinh cung ấy à, đã gọi là cung, thì ít nhất cũng phải có một gian cung điện lớn mới được chứ.”

Phía bên trên không còn thấy ánh mặt trời đâu nữa, họ đã hoàn toàn đi vào dưới đáy sông băng. Tiếng gió nhỏ dần, nhiệt độ cũng từ từ ấm lên, ánh đèn chiếu đến đâu cũng thấy hiện lên một mảng xanh ngăn ngắt, tức là thông đạo này hoàn toàn bằng đá thạch anh, không một ai hoài nghi điều ấy nữa. Trác Mộc Cường Ba và Trương Lập đã từng thấy cảnh tượng kỳ vĩ bên trong động băng ở Khả Khả Tây Lý, họ hiểu sắp tới sẽ xảy ra điều gì nếu như thật sự có thủy tinh cung ở chốn này. Cảm giác trước mắt bỗng sáng bừng lên ấy, sẽ khiến người ta phải kích động đến độ muốn rơi nước mắt.

Đi qua một chỗ ngoặt, đội trưởng Hồ Dương phát hiện ánh sáng ở phía trước mờ đi, anh liền bảo mọi người dừng lại, trước tiên tự mình ổn định lại xúc cảm đang sôi trào, đoạn nói: “Chuẩn bị xong chưa, mọi người, thời khắc xúc động sắp đến rồi, theo tôi nào!”

Bên ngoài khe nứt, gió Tây thổi vù vù, khí lạnh ập đến run cả người, hơi thở cũng đóng thành băng, dẫu là ở bên trong đường hầm, chốc chốc cũng vẫn có gió âm phơ phất khiến da đầu mọi người cứ sởn hết cả gai ốc lên. Đến chỗ này, gió đột nhiên dừng lại, không gian bất đồ rộng hẳn ra, nhiệt độ tăng cao đáng kể, cảm giác ấm áp nhẹ nhàng bao bọc lấy mỗi người. Quả là một không gian rộng rãi mà tĩnh lặng, tựa như cả nội tâm mỗi người cũng rộng mở ra cùng với không gian xung quanh vậy.

Chui ra khỏi lối thông chật hẹp, mọi người liền nhìn thấy hang băng khổng lồ hình bán cầu đó, tạo vật của thiên nhiên quả là huyền diệu vô cùng vô tận, đứng trước vẻ đẹp tuyệt trần ấy, không người nào là không ngửa mặt nức nở nghẹn ngào. Tuy đội trưởng Hồ Dương cũng biết thủy tinh cung là kỳ quan tuyệt thế, song cũng không thể ngờ thủy tinh cung ở đây lại đẹp đến nhường này.

Xuất hiện trước mắt họ, là cả một vương quốc thạch anh(1) tựa như mộng ảo, những chỗ mắt thường có thể nhìn thấy toàn là sông băng cổ xưa, trông như được tạc từ lam thạch anh, băng tinh ánh lên những quầng sáng diễm lệ, tựa hồ có vô số tinh linh màu xanh lam đang nhảy múa tung tăng vậy. Phía trước mặt là một hàng trụ bằng thạch anh tím, vươn sang hai phía theo hình cánh cung, như thể nữ thần vươn đôi cánh tay, nhẹ nhàng êm ái ôm cả tòa cung điện vào lòng. Đường kính những trụ thạch anh này đều vượt quá năm mét, độ cao cũng trên hai chục mét, bên cạnh rải chi chít những mầm thạch anh và hoa thạch anh nhỏ hơn. Nhìn qua bức tường vây tạo thành từ những cột trụ khổng lồ ấy, có thể trông thấy chính giữa cung điện là một mặt hồ… một hồ nước ẩn khuất sâu bên trong tầng băng.

Nước hồ màu trắng sữa, một thứ dung dịch như quỳnh tương phảng phất tỏa ra một mùi hương thanh thanh hấp dẫn, cả mặt hồ dập dờn gợn sóng lăn tăn, những nếp sóng ấy để lại các nét linh động đến say đắm lòng người trên vách tường và mái vòm của tòa băng cung. Tương truyền rằng, Dao trì trong núi Côn Luân chứa đầy quỳnh tương ngọc dịch, lúc này đây, chẳng phải hồ nước của bậc thiên tiên ấy đang hiển hiện ra trước mắt họ đấy hay sao?

Trời còn chưa sáng, nhưng ở đây lại có những tia sáng yếu ớt chiếu từ đỉnh vòm xuống, ánh sáng hắt lên từ những gợn sóng lăn tăn điểm trang khiến cả tòa thủy tinh cung trở nên lộng lẫy vô cùng. Ngước mắt nhìn lên đỉnh vòm thạch anh, chỉ thấy ánh sáng lấp lóa chập chờn như rắn vàng múa lượn; khi dịch ánh mắt sang phía tường dòng thác băng trút xuống trên mặt tường thạch anh tựa như hồ như “bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước”(2). Nhưng khiến người ta xúc động nhất, đích thị chính là hồ nước màu trắng sữa trong lòng sông băng kia. Giữa hồ sừng sững mọc lên ba ngọn núi băng, trông như Bồng Lai tiên đảo, bên cạnh còn có rất nhiều nấm băng cao đến một hai mét, bề mặt trơn nhẵn, hình thành nên những vũ đài băng thiên nhiên. Bên trên mặt hồ là những cầu băng cao thấp không đều, thông thẳng đến chốn u cảnh nơi tiên sơn, dung dịch trắng sữa nhẹ nhàng vỗ vào bệ cầu bên dưới, phát ra những âm thanh nghe như sóng vỗ bờ. Trên đỉnh tòa băng cung, huyền băng hóa sương, ngưng kết thành những viên trân châu óng ánh tinh khiết, từng viên từng viên rơi xuống, nghe như tiếng nước chảy gõ lên dây đàn, tiếng tinh tang tựa như nhạc tiên từ chốn thiên ngoại bay tới. Trong hồ nước hơi mù mờ mịt vẩn vít, mỗi khi có hạt trân châu rơi xuống, bên trong màn mê vụ ấy lại ảo hóa ra một nàng tiên thướt tha yểu điệu hay bóng lồng bóng phượng nhảy múa hòa theo âm điệu, đến cuối cùng lại tiêu tan thành mây khói, phiêu du lướt về chốn tiên sơn, nhưng dư âm vẫn còn nghe văng vẳng bên tai, hình ảnh như khắc sâu vào đáy mắt, khiến tâm tư cả bọn đều chìm vào một vùng hỗn độn mịt mùng, không biết thế giới xung quanh đang xảy ra chuyện gì nữa.

1. Đây chắc là một phương pháp miêu tả ẩn dụ của tác giả thôi, thạch anh (Silic điôxít – SiO2) là một khoáng chất nguồn gốc nham thạch không thể xuất hiện với số lượng và quy mô như thế trong lòng sông băng (thành phần hóa học là… ai cũng biết), lẫn vào đó một mảnh cũng chỉ với xác suất vô cùng nhỏ thôi. Mặt khác cũng có thể do lỗi dịch thuật, hoặc do trùng lặp thuật ngữ vì người Hán dùng từ “băng tinh thạch” để chỉ “đá thạch anh” chăng, nên trong nhiều truyện Trung Quốc khác (như Ma thổi đèn chẳng hạn) đều thấy xuất hiện những mỏ thạch anh lớn trong lòng băng vĩnh cửu.

2. Một câu trong bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị (Phan Huy Vịnh dịch):

“… Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước

Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao

Cung đàn lựa khúc thanh tao

Tiếng cung xé lụa, lựa vào bốn dây…”

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 20

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự