Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể Like, Đánh Dấu, Chuyển Giao Diện Đọc... Chỉ mất 40 giây của bạn thôi nhưng còn nhiều đều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 39 TIN MẬT CỦA HITLER

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã

Phiên bản Dịch · 28542 chữ · khoảng 103 phút đọc

Cánh cửa Sinh mệnh khép lại,

Cánh cửa Địa ngục mở ra.

Trong bóng tối u minh, các sứ giả kiên cường tìm về Thánh địa.

Thất bại ở núi Tử thần Tư Tất Kiệt Mạc trở về, Trác Mộc Cường Ba rơi vào tình cảnh vô cùng bi đát: cổ độc nhiễm trong máu, thời hạn sống còn chưa đầy năm, trở thành con nợ lớn vì công ty phá sản, đội ngũ mất sự đỡ đầu của nhà nước, tan tác mỗi người một nơi...

Nhưng họ, những người bạn sinh tử có nhau, đã nhanh chóng tập hợp lại, tự lực cánh sinh lao vào cuộc đua khốc liệt với những tổ chức lớn trên thế giới từ lâu vẫn truy tìm Hương Ba La. Họ có thêm thành viên, ráo riết luyện rèn, lặn lội trong hiểm nguy tìm kiếm các tư liệu mật quan trọng. Dưới sự dẫn dắt của Trác Mộc Cường Ba, bí mật của Mật quang Bảo giám tưởng như vĩnh viễn khép kín đã lần đầu hé lộ, và hình ảnh chân thực của Hương Ba La hiện ra tráng lệ như một sự khích lệ, đền đáp...

CHƯƠNG 39:

TIN MẬT CỦA HITLER

Giáo sư Phương Tân viết trong tài liệu như thế này: “Không nghi ngờ gì nữa, Hitler là một kẻ cuồng tín sùng bái năng lực siêu tự nhiên, tư tưởng này đã thúc giục y cùng một số quan chức cấp cao cũng sùng bái năng lực siêu tự nhiên khác, tiến hành nhiều hoạt động bí mật, bao gồm cả việc thành lập lực lượng Waffen-SS và Hiệp hội Di sản Tổ tiên, rồi những hành động tìm kiếm Chén Thánh, Mũi Giáo Thần Thánh, nghiên cứu văn tự cổ, đặc biệt là sự kiện Tây Tạng…”

Bí mật của Mật tu giả

Thấy Cường Ba thiếu gia ý chí đã khôi phục, mọi người đều hân hoan cổ vũ, không tránh khỏi huyên náo một hồi. Nhưng chỉ chốc lát sau đó, một cô y tá lập tức đi vào nhắc nhở, nói bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, không nên chui rúc hết cả vào đây như thế này, để lại một hai người chăm sóc là được rồi, những người khác phải ra ngoài hết.

Lúc này Trác Mộc Cường Ba đã bình tĩnh trở lại sau cơn say và sau những xúc cảm kích động dồn dập, trong lòng vẫn còn nhiều điều nghi vấn, nhưng lại không biết phải mở miệng hỏi thế nào. Giáo sư Phương Tân ở đầu máy bên kia dường như nhìn thấu tâm sự của gã, khi mọi người chuẩn bị ra khỏi phòng bệnh để Trác Mộc Cường Ba và Mẫn Mẫn ở lại với nhau, giọng giáo sư liền vang lên qua loa máy tính: “Cánh Nam, đại sư nữa, về số tài liệu hai người gửi cho tôi đó, tôi vẫn còn vài vấn đề muốn hỏi, hai người ở lại một chút đã nhé.”

Trương Lập đề nghị, ở gần đấy có siêu thị, mọi người ra đó mua ít đồ.

Vậy là, Lữ Cánh Nam và lạt ma Á La ở lại, còn những người khác đều ra ngoài mua sắm. Trong lúc y tá vào đo huyết áp, nhiệt độ cho Trác Mộc Cường Ba, Lữ Cánh Namnói chuyện với giáo sư Phương Tân. Sau khi cô y tá đi khỏi, Trác Mộc Cường Ba nhìn bóng lưng Lữ Cánh Nam, thấp giọng thì thào hỏi: “Đại sư, có một chuyện tôi không được rõ cho lắm.” Gã ngưng lại giây lát, rồi hỏi thẳng: “Trương Lập, Nhạc Dương trở lại giúp tôi, điều này tôi có thể lý giải được; Ba Tang và đội trưởng Hồ Dương tôi cũng có thể lý giải, nhưng trường hợp của đại sư và Cánh Nam thì khiến tôi lấy làm bất ngờ. Với năng lực và bản lĩnh của hai người, hoàn toàn có thể tìm được một đội ngũ tốt hơn nhiều, cho dù gia nhập đội tìm kiếm của nhà nước cũng không thành vấn đề gì, đúng không? Tại sao hai người lại chọn tôi?”

Lạt ma Á La đứng lên, ra đóng cửa phòng bệnh. Lữ Cánh Nam chỉ liếc một cái, như đã sớm đoán được Trác Mộc Cường Ba sẽ chất vấn chuyện này. Lạt ma Á La bước trở lại bên cạnh giường bệnh của Trác Mộc Cường Ba, từ tốn: “Ừm, Cường Ba thiếu gia, có một số chuyện chúng tôi vẫn chưa nói với cậu. Hiện giờ, tôi nghĩ, cũng đã đến lúc phải cho cậu biết rồi.”

Trác Mộc Cường Ba trợn tròn mắt, im lặng lắng nghe. Lạt ma Á La nói: “Năm xưa, toàn bộ Đạo quân Ánh sáng biến mất trong một đêm, chuyện này tuy rất bí mật, nhưng dù sao cũng đã để nhiều gia tộc lớn và hoàng gia hay biết rồi, nhưng vẫn còn một chuyện bí mật hơn, thậm chí cả hoàng gia năm đó cũng không hề biết đến. Đó chính là, không phải toàn bộ Đạo quân Ánh sáng đã bỏ đi, họ vẫn còn để lại ở thế giới này một cánh quân nhỏ. Cánh quân này, toàn bộ là những đứa trẻ mười hai mười ba tuổi, vẫn còn chưa hoàn thành quá trình huấn luyện, cũng có nghĩa là, những đứa trẻ này chưa phải là chiến binh thực thụ của Đạo quân Ánh sáng, mà chỉ là lực lượng hậu bị, trong đó có rất nhiều đứa, thậm chí chỉ mới vừa được chọn vào huấn luyện mà thôi. Những đứa trẻ này, hoàn toàn không hề hay biết chuyện gì đã xảy đến với các thành viên trưởng thành của Đạo quân Ánh sáng, cũng không hề biết họ cất giấu bí mật gì, có lẽ chính vì lý do đó, chúng mới bị bỏ lại, bị giấu ở một nơi vô cùng bí mật. Tương truyền, những đứa trẻ này vẫn ở lại nơi bí mật đó, tiếp tục tiếp nhận huấn luyện từ những đứa lớn hơn, còn được lệnh không được ra ngoài, phải ở nguyên tại chỗ đợi Đạo quân Ánh sáng phái người đến đón đi. Nhưng chúng cứ đợi mãi, đợi mãi đến khi trưởng thành rồi mà vẫn không nhận được bất cứ tin tức gì liên quan tới Đạo quân Ánh sáng. Bọn chúng, đã bị bỏ rơi. Về sau, khi chúng ra khỏi sơn cốc bí mật đó, cao nguyên đã dấy lên vô số cuộc tranh đoạt, chiến tranh nổ ra khắp nơi, cánh quân bị Đạo quân Ánh sáng bỏ lại này trải qua nhiều trắc trở, cuối cùng đã phát triển thành một tổ chức đặc thù, được người đời gọi là Mật tu giả, cũng chính là… chúng tôi!”

Trác Mộc Cường Ba từ đầu chí cuối vẫn giữ được vẻ bình tĩnh, nhưng nội tâm chấn động dữ dội, nếu không phải bị băng bó khắp người, chỉ e gã đã ngồi bật dậy từ lâu rồi. Mặc dù gã cũng mang máng cảm thấy lạt ma Á La và Lữ Cánh Nam hình như liên quan gì đó với Đạo quân Ánh sáng, thậm chí còn từng nghĩ rằng họ chính là hậu duệ của bộ tộc Qua Ba, nhưng đáp án của lạt ma Á La vẫn khiến gã nhất thời khó mà chấp nhận nổi, thật không ngờ bọn họ lại chính là Đạo quân Ánh sáng! Cánh quân bị bỏ rơi của Đạo quân Ánh sáng! Gã liếc nhìn giáo sư Phương Tân đang nói chuyện với Lữ Cánh Nam qua máy tính; chắc giáo sư cũng nghe thấy cuộc trò chuyện của gã và lạt ma Á La, nhưng phản ứng của ông cho thấy rõ ràng giáo sư đã biết chuyện này từ trước rồi.

Trác Mộc Cường Ba vẫn chưa hết kinh ngạc, nhưng nghĩ kỹ lại thì thân thủ đó, cùng với sự hiểu biết của lạt ma Á La về bộ tộc Qua Ba cũng như Đạo quân Ánh sáng, lẽ ra gã phải nghĩ ra từ lâu rồi mới đúng, chẳng qua là từ đó tới giờ gã vẫn luôn cảm thấy khả năng này khó có thể xảy ra mà thôi. Tại sao Đạo quân Ánh sáng bỏ rơi họ? Vì họ không hề biết chuyện xảy ra năm đó hay sao? Hay vì Đạo quân không muốn để lũ trẻ bị cuốn vào vòng xoáy tranh đoạt ấy? Tại sao lại không đưa lũ trẻ đó trở về nơi quần cư của bộ tộc Qua Ba? Có điều, rất hiển nhiên là năm đó Đạo quân Ánh sáng không hề muốn người trong bộ tộc mình biết chuyện, vậy thì chuyện không đưa lũ trẻ về cũng có thể lý giải rồi. Nhưng, giờ mấyngười bọn lạt ma Á La muốn tìm Đạo quân Ánh sáng để làm gì? Muốn đòi họ cho một lời giải thích về vận mệnh bị bỏ rơi của mình ngày đó hay sao? Chỉ trong chốc lát, vô số câu hỏi cùng lúc ùn lên trong óc gã.

Lạt ma Á La như nhìn thấu tâm tư của Trác Mộc Cường Ba, lại nói tiếp: “Đạo quân Ánh sáng năm đó không chỉ mang đi tất cả châu báu trong Tứ Phương miếu, mà còn toàn bộ kinh điển nữa. Nếu trong Tứ Phương miếu chỉ cất giữ điển tịch của Bản giáo và Phật giáo thì cũng chẳng sao, nhưng ở đó còn cất giấu cả giáo lý duy nhất và toàn bộ nghi thức điển lễ của Qua Ba tộc chúng tôi. Công việc truyền thừa tín ngưỡng trong Qua Ba tộc trước nay đều do Đại Bản Ba và các tế sư thuộc hạ của mình hoàn thành, đồng thời họ cũng là người phụ trách giải đáp những nghi hoặc trong lòng tộc nhân và những thắc mắc về giáo lý, giáo nghĩa. Nhưng khi Đạo quân Ánh sáng biến mất, họ cũng biến mất theo. Cậu biết rồi đó,người Qua Ba không có chữ viết, đại đa số binh sĩ của Đạo quân Ánh sáng cũng không biết chữ.”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu, điều này thì gã hiểu được, hơn nữa, ở thời cổ đại một vị quân vương chỉ cần đạo quân hùng mạnh của mình có thể nghe hiểu mệnh lệnh và chấp hành mệnh lệnh là đã đủ lắm rồi, không cần binh sĩ phải có đầu óc thông minh, tri thức uyên bác để làm gì.

Lạt ma Á La lại kể tiếp: “Duy chỉ có những binh sĩ canh gác Tứ Phương miếu, vì được tiếp xúc và bảo quản điển tịch, có một số rất ít người đã biết chữ, đồng thời còn ghi chép lại những giáo lý được Đại Bản Ba truyền dạy, phụng thờ làm Thánh điển, đem bảo tồn chung với những kinh sách khác trong Tứ Phương miếu. Bộ Thánh điển đó, chính là toàn bộ tín ngưỡng của bộ tộc Qua Ba chúng tôi, và cũng là bộ duy nhất còn sót lại trên đời này.”

Trác Mộc Cường Ba bừng tỉnh ngộ: “Cũng có nghĩa là, hai người muốn tìm lại…”

Pháp sư Á La[1] nói: “Tín ngưỡng của chúng tôi vốn từng trải qua một thời kỳ phồn vinh, không thể nào không có dấu vết

gì trong lịch sử được, ít ra thì cũng phải có vị trí nhất định trong giới tôn giáo rối ren phức tạp thời đó mới đúng. Nhưng chính vì hơn trăm năm loạn lạc sau khi Lãng Đạt Mã diệt Phật, tôn giáo của chúng tôi và Bạc Ba La thần miếu đã bị lịch sử triệt để lãng quên. Sau này, tôn giáo của chúng tôi cũng giống như nhiều tôn giáo bị biến mất khác, chỉ có thể tìm được một số ít phục tàng trong đống hoang tàn đổ nát bị tàn phá bởi ngọn lửa chiến tranh. Nhưng chúng tôi đã mất đi cả tên tôn giáo của mình, quên cả giáo nghĩa, giáo lý, chỉ còn lại một số ít những người tu hành địa vị thấp kém, chỉ biết tuân theo phương cách các bậc tiền bối để lại, dựa vào những kinh sách thiếu đầu thiếu đuôi mà lẳng lặng tu hành. Giờ đây, tôn giáo của chúng tôi giống như Phật giáo không có Phật pháp, Cơ Đốc giáo không có Kinh Thánh vậy. Một thời gian rất dài, những người tu hành thậm chí còn không biết tại sao mình lại tu luyện như vậy, tu luyện như vậy để làm gì. Trong rất nhiều ký lục tu hành của các bậc tiền bối viết kín đặc hết câu hỏi này đến câu hỏi khác. Hơn một nghìn năm nay, chúng tôi vẫn luôn đi tìm lại Thánh điển của mình, không hề từ bỏ.”

Trác Mộc Cường Ba thận trọng đưa mắt liếc Lữ CánhNam một cái, rồi hạ giọng hỏi: “Vậy Cánh Nam cũng là người Qua Ba à?”

“Không, Lữ Cánh Nam tuy là Mật tu giả, nhưng lại không phải là người Qua Ba, cô ấy thuộc về dòng ngoài. Thực ra, chuyện Mật tu giả chúng tôi là hậu duệ của Đạo quân Ánh sáng và bộ tộc Qua Ba ban đầu cô ấy cũng không hề hay biết, sau khi đến thôn Công Bố, cô ấy mới dần hiểu được sự tình. Vì Mật tu giả không có điện đường của tôn giáo mình, nên từ rất lâu về trước, tổ tiên chúng tôi đã dung nhập vào các tôn giáo khác, đồng thời lan tỏa ra các tổ chức tôn giáo ở xung quanh. Đến giờ thì cả mấy hệ phái lớn của Phật giáo Tạng truyền đều có Mật tu giả. Tại Ấn Độ, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á cũng có Mật tu giả. Phát triển từ đó đến nay, các Mật tu giả dòng ngoài đã rất đông, có điều, họ tuyệt đối không hề hay biết chút gì về ngọn nguồn cũng như truyền thừa của Đạo quân Ánh sáng hết.” Nói đến đây, pháp sư Á La hai mắt sáng rực lên, nhìn thẳng vào mắt Trác Mộc Cường Ba, tiếp lời: “Những chuyện này, chúng tôi từ đó tới giờ vẫn chưa nói với cậu, chính là vì từ khi nhà thám hiểm người Anh tên Morton Stanley kia bỗng dưng xuất hiện, các tổ chức, các nhóm người tìm kiếm Bạc BaLa thần miếu quả thực là quá nhiều, nếu để bọn họ biết được thân phận của chúng tôi thì… Vì vậy, chuyện này ngoài cậu và giáo sư Phương Tân ra, những người khác…”

“Tôi biết rồi.” Trác Mộc Cường Ba đã hiểu ý của pháp sư Á La, liền hứa sẽ bảo mật. Đoạn gã lại hỏi: “Nói như vậy là, lúc trước pháp sư nói với chúng tôi rằng mình không hiểu biết gì về tôn giáo thần bí kia, thì ra chỉ không muốn chúng tôi biết được thân phận thực sự của các vị thôi?”

“Không,” pháp sư Á La cải chính: “Đám Mật tu giả bị bỏ rơi chúng tôi đã hoàn toàn mất đi tất cả những gì liên quan đến tôn giáo trước kia, vì vậy, cũng có thể nói là căn bản không hiểu gì về nó hết. Tôn giáo được hình thành khi nào, hưng thịnh vào đời nào, giáo lý như thế nào, phân thuộc ra sao, đã từng làm được những gì, tất cả những điều ấy chúng tôi đều hoàn toàn không hề hay biết. Còn như Đảo Huyền Không tự, một công trình huy hoàng rực rỡ như thế mà chúng tôi cũng chẳng biết nó ở nơi đâu. Chẳng qua chỉ là xem được hình vẽ trong một vài kinh sách tản mát còn sót lại mà thôi. Còn cả Cánh cửa Sinh mệnh ở thôn Công Bố nữa, đó có lẽ là một thánh đàn trong Giáo, những người sáng lập ra thôn Công Bố, cũng là đồng bào trong Giáo… nhưng chúng tôi đã đứt liên lạc từ gần nghìn năm nay rồi. Cả những thứ cổ trùng đó nữa, kinh sách ghi chép về thứ này cực kỳ ít, mà đại đa số đều đã bị thất lạc cả. Còn như giống dây leo trong Đảo Huyền Không tự, rồi tử vong trùng, không khí nén, hồ cường toan… chúng tôi cũng như các cậu thôi, nghe cũng chưa từng nghe tới chứ đừng nói là hiểu biết về chúng.”

Trác Mộc Cường Ba khẽ thở dài một tiếng, lại nói: “Nhưng pháp sư vẫn chưa trả lời tôi, tại sao hai người lại sẵn lòng giúp đỡ tôi như vậy. Hiện giờ điều kiện của chúng tôi so với đội chuyên gia của nhà nước thì kém nhiều lắm lắm cơ mà?”

“Bởi vì cậu là Thánh sứ!” Pháp sư Á La nhìn Trác Mộc Cường Ba nhăn mặt nhíu mày dưới lớp băng bó, nói bằng giọng khẳng định: “Kỳ thực, trong đám Mật tu giả chúng tôi, từ xưa đã có lời đồn như vậy. Chỉ có Thánh sứ mới mở được cánh cửa lớn của Bạc Ba La thần miếu. Vì vậy, bất kể thế nào, chúng tôi cũng sẽ dốc hết sức giúp đỡ cậu, trừ phi cậu muốn bỏ cuộc.”

Các trưởng lão thôn Công Bố xưa nay vốn không chịu gặp người ngoài, chính là sau khi gặp mặt pháp sư Á La mới đồng ý tiếp gã. Trác Mộc Cường Ba tức thì nhớ lại được chuyện này, vội hỏi: “Đúng rồi, pháp sư, hai người và dân thôn Công Bố chắc cùng một tôn giáo đúng không? Vậy tại sao họ nghĩ tôi là Thánh sứ thế? Mà cả Merkin nữa, sao hắn cũng thành Thánh sứ được?”

“Không biết nữa.” Pháp sư Á La cười khổ lắc đầu: “Cường Ba thiếu gia, cậu vẫn chưa hiểu, chúng tôi đã không liên hệ gì với nhau hơn một nghìn năm nay rồi, bọn họ không biết đến sự tồn tại của chúng tôi, chúng tôi cũng không biết rằng có họ tồn tại trên đời này. Lời thề mà họ tuân thủ ấy là do tổ tiên truyền lại, vì vậy, bất cứ ai cũng không thể thăm dò bí mật của họ được. Có điều, theo suy đoán của tôi, những người gọi là Thánh sứ có lẽ là một quần thể đặc thù, giống như trong một trăm nghìn người mới có một người thuộc nhóm máu AB âm tính vậy. Nhưng quần thể này, không chỉ có một hoặc hai thôi, bằng không thì không thể nào giải thích nổi, tại sao cả trong đám người nước ngoài cũng xuất hiện Thánh sứđược.”

Cuối cùng, pháp sư nói: “Giờ thì Cường Ba thiếu gia không còn nghi ngại gì nữa chứ? Tuy mục tiêu của chúng ta khác nhau, nhưng lại có chung một đích đến. Chúng tôi cần sự giúp đỡ của cậu, Cường Ba thiếu gia ạ.”

“Không, chớ nên nói vậy.” Trác Mộc Cường Ba vội đáp: “Là mọi người đang giúp đỡ tôi, pháp sư Á La, cả giáo quan nữa, không có hai người, thì không thể có tôi ngày hôm nay được…”

Lúc này, giáo sư Phương Tân đã thảo luận xong với Lữ Cánh Nam, quay sang bảo Trác Mộc Cường Ba: “Được rồi, Cường Ba à, giờ thì cậu đã rõ thân phận của pháp sư, tôi nghĩ những nghi vấn trong lòng chắc hẳn cũng đã được tháo gỡ rồi phải không, để tôi cho cậu biết kế hoạch và các sắp xếp của chúng ta trong bước tiếp theo.”

Lữ Cánh Nam xoay máy tính về phía Trác Mộc Cường Ba, để gã nghe được rõ hơn chút nữa. Giọng giáo sư Phương Tân vang lên: “Mấy hôm nữa pháp sư Á La sẽ trở lại chỗ tôn giáo của họ để thu thập thêm tư liệu, Cánh Nam cũng phải trở về Tây Tạng, đội trưởng Hồ Dương và Trương Lập cần đi mua thêm vũ khí trang bị, Nhạc Dương và Ba Tang thì đi lần theo một đầu mối khác, trong thời gian dưỡng thương, Mẫn Mẫn sẽ ở lại chăm sóc cậu.”

Trác Mộc Cường Ba hỏi: “Thầy giáo, thầy vừa nói đầu mối phải không? Chẳng phải đầu mối của chúng ta đã đứt đoạn rồi sao? Còn đầu mối gì nữa?”

Giáo sư Phương Tân ở phía bên kia bật cười đáp: “Cậu có điều chưa biết rồi, Cường Ba à. Mặc dù những đầu mối rõ ràng nhất đều đã đứt đoạn, nhưng các đầu mối khác thì vẫn có thể tiếp tục lần theo. Chẳng những vậy, giờ đây đầu mối của chúng ta còn nhiều hơn trước rất nhiều nữa.”

Nhìn bộ dạng như muốn ngồi bật dậy của Trác Mộc Cường Ba, giáo sư Phương Tân liền giải thích: “Vì lúc đó chúng ta giải tán bất ngờ quá, nên rất nhiều đầu mối còn chưa kịp chỉnh lý sắp xếp lại, thời gian sau này thì lại không thể nào liên lạcđược với cậu. Cậu thử nghĩ lại xem, những văn bản chúng ta chụp trong địa cung ở châu Mỹ chẳng phải là vẫn chưa dịch được hết hay sao? Còn nữa,Cổ Cách kim thư mà các chuyên gia cho chúng ta, cũng mới chỉ dịch được có phần đầu tiên, không đúng à? Chúng ta không thể dịch được toàn bộ, không có nghĩa là các chuyên gia cũng đình đốn không thể tiến lên. Vừa nãy tôi và Cánh Nam chính là thảo luận về những bản dịch mới đó đấy. Hơn nữa, chúng ta còn có mấy đầu mối khác nữa…”

Đang nói chuyện thì mấy người bọn Trương Lập quay lại, túi lớn túi nhỏ các thức ăn dinh dưỡng và hoa quả chất đầy giường. Cả bọn đang cao hứng vui vẻ thì thầm đùa cợt mấy câu gì đó, chợt nghe Trác Mộc Cường Ba hỏi: “Nhạc Dương, chúng ta phát hiện ra đầu mối gì mới hả? Sao tôi không thấy có gì nhỉ.”

Nhạc Dương kéo một chiếc ghế xếp ngồi xuống, một tay đặt lên thành ghế, đầu gục xuống tay, không chút khách khí nhận quả dương mai Đường Mẫn đưa cho, vừa nhét vào miệng nhồm nhoàm vừa nói: “Cường Ba thiếu gia, còn nhớ cái xác chết của tên lính Nazi đó không? Chúng ta tìm được trong cái xác ấy một bao thuốc có chữ viết, anh vẫn nhớ chứ?”

Trác Mộc Cường Ba nghĩ ngợi giây lát, rồi “ừm” một tiếng, gật đầu. Nhạc Dương lại tiếp lời: “Giáo sư Phương Tân đã nhờ chuyên gia dịch được rồi. Đầu mối này thì cả tổ chuyên gia cũng không biết đâu đấy.”

Trác Mộc Cường Ba ngẩn người, sững sờ nói: “Không… không trình lên à.” Chỉ nghe Nhạc Dương gãi gãi đầu đáp: “Chuyện này à, lúc đó đi cũng hơi vội, nói giải tán là giải tán luôn, nên tôi quên béng đi mất.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Trong thời gian tinh thần cậu bị sa sút, tôi đã tìm các chuyên gia giải nghĩa những văn tự đó, chúng được viết bằng mật mã quân Đức thường sử dụng trong Thế chiến II, muốn đọc được cũng phải tốn không ít công sức. Giờ chúng ta đã biết ý nghĩa mặt chữ là, trở lại căn cứ địa số 3, tìm kiếm, phá giải, chỉ một câu như thế thôi. Ngoài ra, chúng tôi còn phát hiện được một số đầu mối khác trên bao thuốc đó. Thời gian sản xuất của bao thuốc là khoảng năm 1945, cũng là năm quân Đức chiến bại, như vậy có nghĩa là, rất có khả năng bọn họ chưa trở về căn cứ địa, còn chuyện tìm kiếm, và phá giải cái gì, theo tôi, cần phải tiến hành điều tra kỹ hơn. Trên thực tế, chúng tôi đã tra xét được một số rồi. Năm đó đảng Nazi cho xây dựng mấy căn cứ trên đất Tây Tạng, chỉ có điều tấm bản đồ chú thích vị trí của chúng giờ có lẽ đang lưu trữ bên Nga. Chỉ cần tìm được vị trí của căn cứ số 3, nói không chừng chúng ta sẽ có thêm phát hiện gì mới cũng nên. À, đúng rồi, còn một đầu mối quan trọng nữa, Trương Lập đã mang đến cho cậu rồi đây.”

Trương Lập đưa mắt nhìn Trác Mộc Cường Ba, lẳng lặng lấy ra một quyển sổ ghi chép bìa da màu đen dày cộp, đặt lên ngực gã. Trác Mộc Cường Ba thoáng sững sờ, rồi sực nhớ ra, kêu lên kinh ngạc: “Nhật ký của Đường Thọ!” Chỉ thấy Mẫn Mẫn bên cạnh gã khẽ gật đầu. Trác Mộc Cường Ba mừng rỡ ngồi bật dậy, suýt chút nữa làm những vết thương khắp người vỡ ra.

“Các cậu phát hiện ở đâu thế?”

Trương Lập và Nhạc Dương nhìn nhau cười cười: “Nói thế nào nhỉ, có thể coi như là ông trời gửi tặng cho cũng được, lúc mới về bệnh viện, vì bị giải tán gấp quá nên cũng không kịp kể cho kỹ càng với mọi người.” Sau đó, hai anh chàng liền thuật lại một lượt chuyện mình gặp hiểm nguy trên đường trở lại Tây Phong đới, rồi bị gió thổi đi thế nào, rơi xuống lều bạt thế nào. Trác Mộc Cường Ba nghe xong mới biết cuốn nhật ký của Đường Thọ này quả nhiên xuất hiện rất ly kỳ. Gã cười cười nói: “Sao các cậu không giao ra cho cấp trên?”

Trương Lập hạ giọng thì thầm: “Dù sao thì cũng có ai biết đâu?” Nhạc Dương biện bạch: “Cái này lẽ ra phải là tài sản cá nhân của Mẫn Mẫn chứ?”

Trác Mộc Cường Ba cầm cuốn nhật ký lên, không thể chờ được, chỉ muốn lật tìm những ghi chép có liên quan tới Bạc Ba La thần miếu, nhưng lật giở mấy chục trang rồi cũng không thấy gì. Trương Lập đứng bên cạnh bèn giải thích: “Không cần tìm đâu, Cường Ba thiếu gia, mấy trang đó bị người ta xé đi rồi. Chắc là lúc đầu có ba nhân viên kiểm lâm rời khỏi trạm bảo hộ Khả Khả Tây Lý, họ có lẽ đã lần theo những gì ghi trong nhật ký mà đến được rừng tháp băng, nhưng khi chúng tôi phát hiện ra cuốn nhật ký này thì chỉ có hai cái xác thôi. Cũng có nghĩa là, còn một kẻ khác, kẻ này đã thoát khỏi lũ rắn trắng. Hắn chỉ mang theo những trang bị thiết thực nhất, đến cả cuốn nhật ký này, hắn cũng chê quá nặng nề mà chỉ xé đi mấy trang liên quan. Chúng tôi đã xem đi xem lại rồi, chỉ có những trải nghiệm mạo hiểm của Đường Thọ ở các nơi khác thôi, không hề có bất kỳ nội dung nào đề cập đến Bạc Ba La thần miếu cả.”

Trác Mộc Cường Ba cụt hứng gập cuốn nhật ký lại, nói: “Thì ra là thế.”

Nhạc Dương liền cổ động tinh thần: “Nhưng cũng đừng nản lòng thế, Cường Ba thiếu gia, anh vẫn chưa xem kỹ cuốn nhật ký đó mà, nội dung trong đó giúp chúng ta rất nhiều đấy. Đường Thọ đã mua loại vũ khí, trang bị nào ở nước nào, thông qua mối chợ đen nào, tất cả đều được ghi chép rất kỹ càng trong nhật ký. Đối với chúng ta mà nói, bản thân điều này đã là một sự giúp đỡ không nhỏ rồi. Có một số công cụ anh ta nhắc đến trong nhật ký còn tiên tiến hơn, thực dụng hơn loại mà chúng ta từng sử dụng. Còn có cả một số đồ tự chế nữa, đến Trương Lập cũng không thể không thừa nhận, anh trai Mẫn Mẫn đích thực là một thiên tài. Không ai có thể ngờ rằng, anh ta có thể tự chế ra những trang thiết bị hoàn mỹ như vậy.”

Nhắc đến Đường Thọ, ánh mắt Đường Mẫn tối sầm đi, anh trai cô giờ này vẫn không biết đang lưu lạc ở chốn nào.

Trương Lập bổ sung thêm: “Không sai, có cuốn nhật ký này, chúng ta coi như đã có một quyển đại toàn thư về trang bị cao cấp khi tiến vào vùng hoang vu không bóng người, tiết kiệm rất nhiều công sức khi mua sắm thiết bị khí giới. Hơn nữa, Đường Thọ còn có thói quen tổng kết một cách ngắn gọn đơn giản, mỗi khi kết thúc một hành trình mạo hiểm, anh ta đều tổng kết lại bằng mấy chữ. Anh nhìn phía trước kia xem, anh ta kể lại chuyện một mình vào động băng, cũng gặp phải lũ chuột khủng khiếp ấy, lại còn có cả băng lở nữa, so với những gì chúng ta trải qua thì không hề thua kém chút nào, nhưng tổng kết của anh ta chỉ là ‘dễ hơn so với dự tính’, có vậy thôi. Rừng nguyên sinh ở Phi châu trong miêu tả của anh ta còn hung hiểm hơn rừng nhiệt đới Amazon chúng ta đã băng qua nhiều, vậy mà anh ta chỉ tổng kết bằng có ba chữ ‘cũng tạm được’. Anh ta xông vào một ngôi mộ Pharaoh vẫn chưa được khai quật ở Ai Cập, cũng gặp phải cạm bẫy chẳng thua kém gì trong Đảo Huyền Không tự. Người Ai Cập cổ đại lợi dụng thực vật mục nát phân hủy để chế tạo khí độc, lợi dụng sức chảy của cát để tạo ra vô số cạm bẫy, ngoài ra còn dùng chuỗi thức ăn liên hoàn để nuôi dưỡng rất nhiều loài động vật thích hợp sống trong cát… Nhưng Đường Thọ bình luận lần mạo hiểm ấy như thế nào chứ, ‘tương đối kích thích’, có bốn chữ thôi. Thế nhưng, anh thử giở trang cuối cùng ra xem xem, mấy chữ chưa bị xé đi ấy, chắc đó là những chữ cuối cùng Đường Thọ viết trước khi rút lui đấy.”

Đội trưởng Trác Mộc Cường Ba

Trác Mộc Cường Ba lật tìm đến trang cuối cùng, quả nhiên phía trước có dấu vết bị giật đi mất mấy trang, câu cuối cùng kia chỉ ngắn ngủn có vài chữ: “Đáng sợ quá! Không thể nào qua được… đến rồi…” Mấy chữ này đều viết rất tháu, đặc biệt là chữ “rồi” cuối cùng, nét chữ nghiêng nghiêng ngả ngả, vạch một nét ngang rách cả giấy, so với chữ viết cương nghị mạnh mẽ ở phía trên của Đường Thọ thì thật như hai người hoàn toàn khác nhau viết ra. Có thể nhận thấy, lúc Đường Thọ ngấm ngầm viết lại những trải nghiệm của mình, bàn tay vẫn không ngừng run rẩy, rốt cuộc là anh ta đã nhìn thấy thứ gì chứ? Trác Mộc Cường Ba nhớ tới Ba Tang, và cả gã điên ở Mông Hà kia nữa, tất cả các hành vi điên khùng quái đản của họ lại xuất hiện trong đầu gã một lần nữa.

Trương Lập cảm khái thở dài: “Từ các đoạn ghi chép trước đó của Đường Thọ, có thể thấy năng lực của anh ta chắc là cao hơn trình độ hiện nay của chúng ta nhiều, thậm chí tôi còn có cảm giác, thân thủ của người này dường như còn nhanh nhẹn hơn cả pháp sư Á La, còn tri thức của anh ta thì đúng là gần như bao la vạn tượng, không gì là không biết. Thật khó mà tưởng tượng nổi, anh ta lại chỉ ngang tầm tuổi tôi thôi đấy.”

Nhạc Dương liếc mắt nhìn sang Đường Mẫn, nói: “Anh đừng có mà ở đây nói xằng nói bậy dọa người ta nữa, nếu một người như thế mà còn bị khiếp hãi đến…. đến tinh thần sụp đổ, vậy thì chúng ta làm sao mà đi được chứ?”

Đường Mẫn lắc đầu: “Không… mọi người còn chưa hiểu anh trai tôi đâu, anh ấy còn mạnh hơn những gì mọi người có thể tưởng tượng nhiều. Tôi còn nhớ, có lần tôi từng thấy anh ấy tập luyện, hồi trước cũng không biết là huấn luyện kiểu gì, giờ nhớ lại rồi, hình như là mang nặng năm mươi cân leo vách đá một tay hay sao đó.”

“Bốc phét!” Nhạc Dương liếc nhìn Đường Mẫn, điệu bộ như thể muốn nói “tôi chẳng tin đâu”. Đường Mẫn dẩu môi lên lườm anh chàng một cái.

Trương Lập nói: “Chuyện này không quan trọng, tôi cũng thừa nhận đúng là anh ta mạnh hơn chúng ta thật. Nhưng điểm khác biệt lớn nhất giữa chúng ta và Đường Thọ chính là, anh ta lúc nào cũng một mình đi mạo hiểm, còn chúng ta là cả một nhóm người. Đây chính là ưu thế của chúng ta đó.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Ngoài chuyện này ra, còn thân phận Thánh sứ của cậu nữa, cộng các điểm này lại thì chúng ta có ưu thế hơn. Giờ cậu đã nắm rõ toàn bộ tình hình rồi chứ, vậy thì, chúng ta cứ tiến hành theo phân công ban đầu thôi. Tư liệu từ thời Thế chiến II chắc là đã được giải mật, trước mắt chúng tôi vẫn đang thử liên hệ với phía Nga coi sao, Nhạc Dương và Ba Tang sẽ phụ trách mặt này. Hai người sẽ sang Moscow một chuyến, để xem có lấy được bản photo bản đồ của quân Đức hay không.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Vậy, vậy thì sau khi lành vết thương, tôi sẽ làm gì?” Giáo sư Phương Tân cười cười nói: “Cậu ấy à, không cần đợi vết thương lành hẳn đâu, tôi sẽ chuyển hết các thông tin chúng ta đang có và sau này sẽ có cho cậu qua Internet, hai chúng ta sẽ cùng phối hợp tìm ra các đầu mối, sau đó thì phải xem cậu có thể dẫn dắt mọi người tìm được Bạc Ba La thần miếu hay không thôi, đội trưởng.”

“Đội trưởng?” Trác Mộc Cường Ba ngây người, chỉ vào mặt mình: “Tôi ư? Tôi làm đội trưởng?” Chỉ thấy mọi người xung quanh gã đều gật đầu mỉm cười.

Giáo sư Phương Tân nói: “Trong một nhóm, cần phải có người ra lệnh, bằng không tất cả sẽ không thể nào xuất phát được, đây là kết quả do mọi người cùng thương thảo, cậu tương đối thích hợp với vị trí này, hãy cố mà phát huy tài năng lãnh đạo của mình đi nhé.”

Trương Lập cũng nói: “Cường Ba thiếu gia, anh làm đội trưởng cũng hợp lắm mà, có gì không ổn đâu chứ?”

Trác Mộc Cường Ba lắc đầu: “Không được, không được, nếu là một mình tôi đi tìm thần miếu, có lẽ tôi sẽ gánh vác trách nhiệm nặng nề này thật, nhưng sau khi ở với mọi người một thời gian lâu như thế, tôi cũng đã hiểu rõ từng người rồi. Nếu luận về thân thủ, tôi không thể so bì với pháp sư Á La và giáo quan Lữ Cánh Nam; còn luận khả năng cơ biến, tôi cũng không bằng Trương Lập, Nhạc Dương; luận về học thức, tôi lại càng không theo kịp thầy giáo và đội trưởng Hồ Dương, nếu để tôi là người ra lệnh sẽ chẳng có lợi gì cho mọi người đâu, trước nay giáo quan vẫn lãnh đạo chúng ta mà, nên để cô ấy tiếp tục đảm nhiệm vị trí đó mới đúng.”

Lữ Cánh Nam nói: “Tôi đã không còn là giáo quan của mọi người nữa rồi, cũng không còn gì mới hơn để dạy các bạn nữa, giờ tôi chỉ là một thành viên trong nhóm mà thôi. Hiệu suất và tỉ lệ hành động thành công của một đội ngũ quyết định bởi năng lực chấp hành mệnh lệnh của người lãnh đạo, cần phải tuyệt đối phục tùng mọi sự sắp xếp của lãnh đạo. Trên chiến trường, dù là cấp trên lệnh cho mình đi hy sinh cũng không thể có bất cứ chút do dự nào, nếu để tôi đảm nhiệm vai trò này…” Cô liếc mắt sang nhìn Trương Lập và Nhạc Dương, đoạn tiếp lời: “Trước tiên là hai cậu lính này sẽ không ngừng chất vấn. Anh còn nhớ trên đường họ đã đặt ra với tôi bao nhiêu câu hỏi hay không? Dưới sự dẫn dắt của tôi, đội ngũ này đã quen thói tản mạn thiếu tập trung rồi, nếu tiếp tục để tôi dẫn đội, sẽ chỉ tiếp tục tản mạn nữa thôi. Còn anh, Cường Ba thiếu gia, không biết anh có để ý thấy hay không, những kiến nghị hoặc yêu cầu anh đưa ra, bọn họ đều lập tức y lời thực hiện mà chẳng hề hỏi xem tại sao. Cái gọi là khí chất lãnh đạo có liên quan rất chặt chẽ với tướng mạo và hình thể, anh chính là người có thứ khí chất ấy, khí chất khiến người ta sẵn lòng phục tùng, sẵn lòng đi theo. Hơn nữa, năng lực xét đoán toàn cục của anh cũng không thua bất cứ người nào ở đây cả, chẳng qua là khi mới bắt đầu, những thứ anh được tiếp xúc vẫn còn quá ít, vẫn còn nằm trong quá trình học tập mài giũa, nên mới không chịu dễ dàng phát biểu ý kiến mà thôi. Giờ đây, mọi người đã đứng cùng một vị trí, những ưu thế của anh liền nổi bật hẳn lên. Tôi tin rằng dưới sự dẫn dắt của anh, chúng ta sẽ không đi lầm đường lạc lối đâu.”

Nói xong, cô lại nhìn sang phía Đường Mẫn, trong ánh mắt thoáng lộ vẻ bất lực. Trác Mộc Cường Ba vẫn nói: “Vậy thì, có thể để đội trưởng Hồ Dương dẫn dắt mọi người mà. Kinh nghiệm thám hiểm nơi hoang dã của đội trưởng hết sức phong phú. Từ trước đến nay anh ấy luôn là người dẫn đầu, anh ấy…”

Đội trưởng Hồ Dương vội ngắt lời gã: “Này, đừng có dát vàng lên mặt tôi nữa, cậu tưởng đây là việc gì chứ, tôi không làm đâu. Tôi chẳng qua chỉ có một chút xíu kinh nghiệm khảo sát khoa học ở vùng cực địa thôi, còn rừng rậm nguyên sinh hay gì gì khác thì chưa đi bao giờ cả. Hơn nữa, tôi vào nhóm sau mọi người, đến lúc đó chỉ huy bất lợi, chắc chắn sẽ bị mắng chửi thê thảm cho mà xem.” Anh bước lên phía trước vỗ vỗ lên bờ vai quấn băng chằng chịt của Trác Mộc Cường Ba, nói: “Cậu cứ yên tâm mà làm cái chức đội trưởng tiền đồ rộng mở này đi, đừng đùn đi đẩy lại nữa. Theo tôi ấy à, ngoài làm đội trưởng ra thì cậu chẳng còn làm được việc gì khác nữa đâu.”

Giáo sư Phương Tân nói: “Đã nghe thấy chưa, cậu vốn đã có thể coi là người khởi xướng hành động lần này, đến cả tôi còn bị cậu kéo vào vũng nước này rồi còn gì, giờ cậu có muốn không phụ trách cũng không được nữa, mạng của mọi người, đều giao cả cho cậu đấy.”

Ngay tức khắc, Trương Lập là người đầu tiên hưởng ứng. Anh chàng vỗ vỗ lên tay Trác Mộc Cường Ba một cách tượng trưng, nói: “Giao cả cho anh đấy, đội trưởng!”

Nhạc Dương cũng cười cười đập tay vào tay Trác Mộc Cường Ba, nói: “Mạng của tôi cũng giao cho anh đây, Cường Ba thiếu gia.”

Đường Mẫn nhẹ nhàng luồn tay vào lớp băng, ánh mắt kiên nghị của cô như thể đang nói: “Sống làm người của anh, chết làm ma của anh.”

Lữ Cánh Nam bắt tay Trác Mộc Cường Ba mạnh đến nỗi gã thấy hơi đau. Ánh mắt ấy… ánh mắt ấy sao giống Đường Mẫn thế. Trác Mộc Cường Ba lắc mạnh đầu, còn ánh mắt gì nữa chứ, chắc chắn là mình đã hiểu lầm rồi, ôi, lại hiểu lầm nữa rồi.

Ba Tang cũng bước lại gần, vẫn lạnh lùng như từ trước đến nay: “Tôi đã hứa với anh trai là sẽ lấy tính mạng này ra bảo vệ cậu.” …

Nhìn những đôi mắt tràn đầy lòng tin và sự tín nhiệm dành cho mình, sóng lòng Trác Mộc Cường Ba dâng trào cuồn cuộn, lập tức cảm thấy trách nhiệm và áp lực đè nặng trên vai.

Mọi người ở lại bệnh viện với Trác Mộc Cường Ba thêm một ngày, lần lượt kể ra những chuyện vụn vặt mình gặp phải sau khi giải tán. Chỉ riêng Trác Mộc Cường Ba đã chôn vùi những trải nghiệm khắc cốt ghi tâm ấy xuống đáy lòng, thành ra mọi người cũng không nhắc đến nữa. Buổi tối, bác sĩ lại tới cảnh cáo Trác Mộc Cường Ba phải giữ yên tĩnh, nghỉ ngơi cho sớm, cả bọn mới chia tay nhau tản đi, lại nói sáng sớm mai sẽ quay lại, duy chỉ có Đường Mẫn ở lại chăm sóc gã. Trác Mộc Cường Ba phát hiện ra, từ sau khi Đường Mẫn rời xa mình, lần trở lại này dường như càng tỏ ra quấn quýt dựa dẫm vào gã nhiều hơn, tựa hồ như sẵn sàng sinh ly tử biệt bất cứ lúc nào vậy. Bản tính trẻ con rốt cuộc vẫn không thay đổi chút nào, Trác Mộc Cường Ba thầm nhủ. Nhân lúc mình đang bị thương nặng, Đường Mẫn mềm lòng, gã vội hỏi cho rõ ràng, xem rốt cuộc lúc ở trên núi tuyết mình đã làm sai chuyện gì, tại sao cô lại tức giận bỏ đi như thế.

Chẳng ngờ, nghe Trác Mộc Cường Ba truy vấn chuyện ấy, Đường Mẫn bỗng hỏi lại gã một cách hết sức nghiêm túc, hết sức chính thức: “Anh Cường Ba, anh nói thật với em đi, rốt cuộc là anh có, trong lòng anh có một chút, một chút tình cảm nào với giáo quan hay không? Em biết, trước giờ giáo quan vẫn có ý với anh, em không phải là con mù, lẽ nào lại không nhìn ra được chứ?”

Trác Mộc Cường Ba đáp như chém đinh chặt sắt: “Không có, xưa nay anh chưa từng nghĩ đến chuyện đó, em chắc cũng phải hiểu anh chứ, đã bao giờ anh hai lòng ba dạ đâu? Có phải, có phải vì chuyện này, và lần đó… nên em mới giận dữ phải không?”

Đường Mẫn nói: “Anh, anh… hôm đó, anh nói lẽ ra phải làm vậy từ sớm rồi… Anh… anh… có phải đã muốn làm vậy từ lâu lắm rồi đúng không?”

Trác Mộc Cường Ba thầm giật thót mình, thì ra là nói sai câu này, đồng thời gã cũng ngấm ngầm suy nghĩ, lẽ nào trong tiềm thức của bản thân, thật sự đã nghĩ như thế hay sao? Không đúng, không thể có suy nghĩ ấy trong đầu được, chắc chắn mình một lòng một dạ với Mẫn Mẫn mà. Từ khi xuất hiện trong cuộc đời mình, cô ấy đã chiếm cứ toàn bộ cuộc sống của mình rồi. Mẫn Mẫn hiểu được ý người, hết sức tâm đầu ý hợp với mình, lại có thể vì mình mà không từ vất vả nhọc nhằn, liều chết quên sống, mình sao có thể nghĩ đến một người đàn bà nào khác ngoài cô ấy được nữa chứ.

Trác Mộc Cường Ba đã hiểu đầu đuôi sự việc, bèn chất vấn ngược lại: “Chúng ta quen nhau đâu phải một hai ngày, sao em lại nảy ra những suy nghĩ vô duyên vô cớ như thế? Mẫn Mẫn, em không còn là cô bé con nữa mà đã thành người lớn rồi, em phải biết rằng giữa những người yêu nhau cần phải tin tưởng lẫn nhau. Chúng ta phải đem mạng mình giao cho nhau, đồng sinh cộng tử thì mới có thể đi tiếp được, em, không nên nghi ngờ anh như thế!”

Đường Mẫn dịu dàng phủ phục lên ngực Trác Mộc Cường Ba, sống mũi cay cay, lẩm bẩm nói: “Cường Ba à, anh có biết không, em sợ lắm ấy! Em sợ có một ngày nào đó, anh sẽ rời xa xem! Em xin anh đấy, đừng bao giờ bỏ rơi em được không, đừng bỏ mặc em! Em biết, em chỉ biết khóc lóc thôi, chẳng giúp gì được anh cả, em… em không xứng với anh như là giáo quan, em cũng không giỏi giang được như cô ấy, em chỉ có anh thôi… em thực sự sợ mất anh lắm…” Đang nói, đột nhiên cô khóc nấc lên ri rỉ.

Trác Mộc Cường Ba vuốt ve mái tóc xanh mềm mượt của cô, nhẹ nhàng nói: “Em làm sao vậy? Tại sao lại không tin ở bản thân mình như thế? Trong mắt em, tình yêu của chúng ta mong manh yếu đuối, không chịu được một chút khảo nghiệm như vậy hay sao? Hay là, ngày mai chúng ta lập tức đi làm đăng ký kết hôn, em thấy có được không?”

Đường Mẫn ngẩng đầu lên, lau lau gương mặt xinh xắn, đang khóc lại bật cười khúc khích, rồi lắc đầu nói: “Không, em không muốn như thế, cảm giác cứ như ép hôn anh không bằng. Nhưng mà, sau khi tìm được Bạc Ba La thần miếu, em muốn anh… đường đường chính chính cầu hôn người ta, phải tổ chức hôn lễ thật lớn vào nữa! Anh nói xem có đượckhông?”

Nhìn vào đôi mắt đầy vẻ khẩn nài của Đường Mẫn, Trác Mộc Cường Ba nâng gương mặt yêu kiều nhỏ nhắn ấy lên, ánh mắt ấy, và đôi mắt năm xưa sao mà giống nhau đến thế, ánh mắt ấy, gã thực không thể nào từ chối được. “Ừm, anh hứa với em, em thích ra biển du lịch phải không, chúng ta có thể sang Croatia mua một hòn đảo nhỏ, trời trong gió nhẹ thì ta cùng cưỡi thuyền ra biển, còn có thể nuôi chó con, dê con trên đảo nữa, đó sẽ là thế giới của riêng hai chúng ta thôi. Chúng ta sẽ cùng nhau dựng xây nó, em có thích không?”

Hai mắt Đường Mẫn long lanh những giọt lệ hạnh phúc, gật đầu thật mạnh. Thấy khúc mắc trong lòng người yêu đã được tháo gỡ, Trác Mộc Cường Ba cũng được an ủi phần nào, đồng thời cũng không khỏi lo lắng, Bạc Ba La thần miếu, Bạc Ba La thần miếu mà dễ tìm như vậy hay sao! Thời điểm tốt nhất đã lỡ mất rồi, làm sao bọn gã có thể leo lên núi tuyết được nữa đây? Nơi đó, căn bản là không thể nào leo lên được! Nghĩ tới đây, gã thực nôn nóng muốn liên lạc lại với giáo sư Phương Tân lần nữa, dẫu có đầy đủ các trang thiết bị, nhưng làm sao vượt Tây Phong đới một lần nữa đây? Còn cả màn sương mù mờ mịt phủ kín đất trời kia nữa, lẽ nào giáo sư Phương Tân đã có phương cách gì mới?

Trác Mộc Cường Ba vừa vỗ về được Đường Mẫn yên lòng, cửa phòng bệnh đã bị đẩy mở. Hóa ra là Lữ CánhNam đi rồi quay lại. Đường Mẫn liền quay sang rót cho cô một cốc nước lọc. Lữ Cánh Nam nhìn Trác Mộc Cường Ba nói: “Có chuyện này, tôi muốn nói riêng với anh.”

Đường Mẫn cũng hiểu chuyện, liền nói: “Phải rồi, anh Cường Ba, anh muốn ăn đêm đúng không? Em ra ngoài mua đồ về cho anh nhé, hai người cứ nói chuyện đi!” Đi ra đến cửa, cô liền liếc về phía Trác Mộc Cường Ba một cái nhìn cảnh cáo, nếu không phải Trác Mộc Cường Ba đang bị băng kín mít từ đầu tới chân, nhất định Lữ Cánh Nam sẽ nhận ra gã đã vã mồ hôi đầm đìa. Mãi tới lúc bước chân Đường Mẫn đi xa rồi, Trác Mộc Cường Ba mới dần dần bình tĩnh trở lại, đồng thời cũng biết, giáo quan đến tìm mình vào giờ này, chắc chắn là có chuyện gì đặc biệt quan trọng lắm, bèn nói: “Mời cô ngồi, giáo quan.”

Lữ Cánh Nam nói: “Mẫn Mẫn không sao chứ? Hình như vừa khóc à?” Trác Mộc Cường Ba lắc đầu: “Không, không có gì đâu. Giáo quan có chuyện gì vậy?”

Lữ Cánh Nam nói: “Lần này, vì anh đã là đội trưởng, nên có hai chuyện tôi cần phải cho anh biết. Thứ nhất, chính là chuyện lần trước tôi từng nói với anh rồi. Trong đội của chúng ta, không chừng có một hoặc một vài người là quân nằm vùng của các tổ chức tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu khác; giờ anh đã là người phụ trách chung, tôi và pháp sư Á La hy vọng rằng, những tin tức tư liệu mà anh nhận được từ các nguồn khác nhau, chỉ giới hạn hai người là anh và giáo sư Phương Tân được biết, không nên tiết lộ cho người thứ ba…”

Việc này, chính là điều mà Trác Mộc Cường Ba cảm thấy phản cảm nhất, gã lạnh lùng nói: “Giống như hồi trước các vị vẫn làm phải không? Cứ để mọi người mù mù mờ mờ chẳng biết gì đi theo mình là được, không cần biết sẽ phải đi đâu, cũng không biết là phải tìm cái gì? Xin lỗi, chuyện này tôi không làm được, Lữ giáo quan, cô đã bao giờ từng nghĩ, cả đội này, mỗi một con người đều đã sẵn sàng giao tính mệnh mình vào tay Trác Mộc Cường Ba tôi, chúng ta ai ai cũng đều vùng vẫy đấu tranh trên lằn sinh tử mới sống được tới ngày hôm nay. Họ có lý do gì để lừa gạt tôi chứ? Có lý do gì để bán đứng tất cả mọi người chứ? Vì cớ gì mà họ lại không thể biết những thông tin chúng ta đã nắm trong tay chứ? Vì cớ gì mà không thể biết những chuyện mình sắp phải đối mặt chứ? Vì cớ gì mà không thể biết nơi chúng ta sẽ đi chứ? Lữ giáo quan, nói thật lòng với cô, trước giờ tôi luôn rất khó chịu với cách làm này của mọi người, lần leo núi tuyết thất bại này, một phần nguyên nhân chính là do tin tức không được rõ ràng đó.”

Lữ Cánh Nam nói: “Anh có biết không? Lần trước ở Đảo Huyền Không tự, pháp sư Á La đã xác nhận, người đàn ông đang chuẩn bị mở cánh cửa cấm kỵ mà chúng ta gặp trong địa cung Maya, chính là một tên trong nhóm của Merkin. Chuyện này không phải trùng hợp, mà là bọn Merkin đã nắm rõ được hành tung của chúng ta.”

Trác Mộc Cường Ba nói cứng: “Lần đó không phải chúng ta đã bị nghe trộm hay sao, giáo quan sao có thể khẳng định chắc chắn là do người của chúng ta tiết lộ ra chứ? Còn nữa, chẳng phải các vị vẫn luôn nghi ngờ tất cả mọi người khác trong nhóm sao? Lần này sao lại không nghi ngờ tôi nữa vậy?”

Lữ Cánh Nam khẽ cắn môi, tựa hồ đang chuẩn bị nói gì đó với y, song cuối cùng vẫn ghìm lại được, chỉ thấp giọng nói: “Không phải, thực ra, chúng tôi chưa từng nghi ngờ anh và giáo sư Phương Tân, người chúng tôi nghi ngờ, là ngườikhác…”

Trác Mộc Cường Ba cười nhạt nói: “Hừ, đủ rồi, tôi thật không sao hiểu nổi, mọi người đều là chiến hữu cùng sống cùng chết, vậy mà lại phải nghi kỵ lẫn nhau, như vậy thì hợp tác phỏng còn ý nghĩa gì nữa? Lữ Cánh Nam, tôi hỏi cô, nếu tôi và cô hợp tác làm ăn, nhưng chỉ cần cô đưa tiền cho tôi, rồi tôi cứ nói đi nói lại với cô rằng, nhất định sẽ kiếm được tiền. Nhưng tôi kiếm tiền như thế nào, giờ đã làm được những gì rồi, nhất loạt những điều ấy tôi đều không nói cho cô, vậy thì cô sẽ nghĩ sao? Sẽ không cần nghĩ ngợi gì mà đưa tiền cho tôi luôn hả? Đấy mới chỉ là nói chuyện làm ăn đơn giản, cònchuyện mà chúng ta đang phải đối mặt đây, là việc bất cứ lúc nào cũng có thể nguy đến tính mạng, một hành động tập thể như vậy, sao tôi dám có gì che giấu với các thành viên trong đội được chứ? Theo tôi thấy, chắc là cô đã làm công tác bảo mật cho nhà nước lâu quá rồi đấy?”

Lữ Cánh Nam nghĩ ngợi giây lát, rồi thỏa hiệp: “Vậy cũng được, nếu anh vẫn kiên trì phong cách xử sự của mình, vậy thì tôi cũng chỉ còn cách nói thực với anh, những thông tin về tôn giáo của chúng tôi cung cấp cho anh sẽ không toàn diện nữa, mà là có lựa chọn, đồng thời, chúng tôi vẫn hy vọng anh có thể giúp chúng tôi bảo mật, như vậy có được không?”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu: “Ừm, về những thông tin liên quan đến tôn giáo của các vị, tôi có thể đảm bảo với cô, sẽ chỉ có tôi và giáo sư Phương Tân biết được những thông tin này. Nhưng còn những đầu mối dẫn đến Bạc Ba La thần miếu mà chúng ta đã phát hiện, đã nắm được, tôi nhất định sẽ để tất cả mọi người trong đội cùng được biết.”

Lữ Cánh Nam lẩm bẩm nói: “Vậy được, còn chuyện thứ hai…” Hai hàng lông mày cô nhíu chặt lại, rõ ràng có vẻ rất bất an. Trác Mộc Cường Ba chỉ lặng yên, chờ cô nói tiếp.

Cuối cùng, sau một hồi do dự thật lâu, Lữ Cánh Nam mới cắn cắn môi như thể hạ quyết tâm gì đó, nói: “Cường Ba thiếu gia, tuy cơ thể anh vẫn chưa xuất hiện dị trạng gì, nhưng về mặt thể chất thì đã xảy ra những thay đổi vi tế, những vi sinh vật ấy sẽ ảnh hưởng đến lượng dưỡng khí được vận chuyển tới các tế bào trong cơ thể anh, tình trạng này đang diễn ra và không thể nào xoay chuyển được. Anh muốn giữ được sức khỏe như trước đây, thì cần phải cải thiện ở mặt khác.”

Trác Mộc Cường Ba không ngờ chuyện thứ hai cô muốn nói lại liên quan đến sức khỏe của mình, vội hỏi: “Làm thế nào? Uống thuốc hả?”

“Không.” Lữ Cánh Nam nói: “Đây mới là mục đích chính tối nay tôi tới tìm anh. Kể từ hôm nay, tôi sẽ dạy anh… hôhấp.” “Hô hấp?” Trác Mộc Cường Ba nghi hoặc nói, bất giác nhớ lại thí nghiệm hô hấp mà trước đây pháp sư Á La bảo mìnhlàm.

“Không sai.” Lữ Cánh Nam khẳng định: “Hô hấp, là bản năng sinh tồn mà mỗi người đều học được ngay sau khi được cắt nhau thai, chính vì đây là một thứ bản năng, nên trong mắt người bình thường, hô hấp đã trở thành một việc bình thường đến không thể còn gì bình thường hơn. Nhưng sự thực thì, hô hấp có thể tạo ra thay đổi rất lớn đối với thể chất của một con người. Môn khí công trong Trung y coi trọng luyện một hơi thở, trong y học có những chứng bệnh như hô hấp khó khăn, trúng độc hô hấp tính kiềm, trúng độc hô hấp tính acid, còn cả phương pháp hô hấp đặc biệt ở vùng cao mà chúng tôi đã huấn luyện mọi người nữa, hô hấp có quan hệ cực kỳ mật thiết với cơ thể người. Thông qua hô hấp, thậm chí anh còn đạt được sức mạnh lớn hơn cả huấn luyện cơ bắp đơn thuần nữa, đồng thời cũng hoàn thiện môi trường nội thể, đạt được trạng thái tinh thần tốt hơn và khả năng phản ứng mẫn tiệp hơn.”

Nói đoạn, Lữ Cánh Nam đặt một cái hộp vuông bằng giấy bìa lên đầu giường Trác Mộc Cường Ba, mở hộp ra, bên trong hình như là một chiếc áo gi lê thể thao, và cả một tập giấy viết tay nữa. Trác Mộc Cường Ba hỏi: “Đây là gì vậy?”

Hô hấp

Lữ Cánh Nam nói: “Đây là áo lót đàn hồi có thể tự động co rút điều khiển bằng chip điện tử. Đợi sau khi các vết thương lành lặn, anh hãy mặc vào. Nó có thể giúp anh khống chế nhịp thở và mức độ nông sâu của hơi thở, trong thời gian đầu sẽ hỗ trợ anh rất nhiều, khi đã quen với kiểu hô hấp này rồi thì không cần dùng đến nữa. Còn những tài liệu chép tay này là một số điều tâm đắc của tôi khi nghiên cứu phương pháp hô hấp của Mật tu giả, anh phải học thuộc lòng nó trước. Phương pháp hô hấp mà tôi sắp dạy cho anh đây… Ừm… đó là một phương pháp rèn luyện thân thể do tôi tự lĩnh ngộ ra, hoàn toàn không có bất cứ quan hệ gì với tôn giáo của chúng tôi cả, anh có thể yên tâm mà tu luyện.”

Tuy Lữ Cánh Nam nói như vậy, nhưng trong lòng Trác Mộc Cường Ba hiểu rất rõ, đây rõ ràng chuyện giấu đầu lòi đuôi, làm gì có phương pháp tự mình lĩnh ngộ cơ chứ, đó nhất định là cơ sở nền tảng của Mật tu, còn gã thì ngay cả khảo hạch mang tính thử nghiệm của Mật tu giả cũng không thể vượt qua được. Còn tập giấy chép tay kia thì càng không cần phải nói, rõ ràng chính là những thứ pháp sư Á La ngày ngày minh tưởng mà ghi chép lại sau chuyến đi Đảo Huyền Không tự. Xem ra, rõ ràng là pháp sư Á La đã ủy thác cho Lữ Cánh Nam truyền thụ cho gã, vậy mà cô cứ nằng nặc nói là tự mình lĩnh ngộ. Không biết tôn giáo thần bí này có quy định gì về chuyện tùy tiện truyền thụ pháp môn cơ bản cho người ngoàihay không, nhưng cứ nhìn cung cách xử sự cẩn trọng của họ thường ngày thì có thể thấy, Lữ Cánh Nam và pháp sư Á La nhất định là đã mạo hiểm rất lớn khi làm vậy.

Lữ Cánh Nam nói tiếp: “Phương pháp này thuộc về một nhánh của Mật tông, cũng là bắt đầu từ Thất đại sát khắc la, sát khắc la,hay còn gọi là kháp khắc la, hoặc sát khắc thụy, dịch ý tiếng Phạn là luân xa, cũng chính là bảy mạch lớn trong cơ thể người. Theo cách nói của Mật tu giả chúng tôi, cơ thể người có bảy đại mạch luân ,ba đạikinh mạch,đây chính là học thuyết kinh mạch đặc biệt chỉ riêng vùng Tây Tạng chúng ta và khu vực xung quanh mới có, tương đồng với kỳ kinh bát mạch và bảy trăm linh hai huyệt vị của khí công Trung Nguyên, nhưng lại là hai hệ thống hoàn toàn khác nhau. Nền tảng chia làm khí, mạch, luân, điểm. Khí trong cơ thể người chia làm hai loại lớn, lần lượt là căn bản khí và chi phân khí,mỗi loại lại chia làm năm loại nhỏ. Khí là động năng của sinh mệnh, nếu có trở ngại sai khác gì, tất sẽ sinh ra bệnh tật. Mạch là quỹ đạo mà khí vận hành trong đó, có thể chia ra làm ba loại. Thứ nhất là thủy mạch: từ đỉnh đầu chạy xuống đến tủy sống và các mạch nhánh khác, là loại mạch màu trắng. Bạch sắc thủy mạchcó hai vạn bốn nghìn đường. Thứ hai là huyết mạch : từ giữa thân thể vươn lên trên, tựa như một cây mã não đỏ, thuộc loại tĩnh mạch, có hai màu đen trắng. Hắc bạch tĩnh mạch có hai vạn bốn nghìn đường. Thứ ba là khí mạch: khí huyết tương hợp vận hành, cùng hướng lên trên như hắc bạch tĩnh mạch, khí huyết mạch màu đỏ, thuộc loại động mạch. Hồng huyết động mạch có hai vạn bốn nghìn đường…”

Lữ Cánh Nam nhắc đi nhắc lại mấy lần, yêu cầu Trác Mộc Cường Ba bắt buộc phải nhớ thật kỹ các tinh yếu về khí, mạch, luân, điểm. Tuy nhiên một lúc gã chẳng thể nào ghi nhớ được hết lượng thông tin lớn như thế. Lữ Cánh Nam cũngkhông quá khắt khe, bảo không sao, sau này cô sẽ đến giúp gã học thuộc, nhưng tối hôm nay thì Trác Mộc Cường Ba cần phải nhớ cho rõ hướng đi của mấy đườngmệnh mạch chủ yếu và phương hướng chuyển động của cácmạch luân, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của minh tưởng và ý thức. Cuối cùng, cô nói: “Có câu, mạch vi phong sở thừa, chính là muốn nói mạch dựa vào hô hấp để duy trì, còn mạch vi thức sở y, ý là mạch dựa vào ý thức để hoàn thành, nó chịu sự khống chế của ý thức, vì vậy, trước tiên anh cần phải kiên trì dùng ý niệm tưởng tượng mỗi ngày mấy lượt rằng, mạch luân hay luân xa ở dưới cùng của anh đang chầm chậm chuyển động ngược chiều kim đồng hồ, thời gian minh tưởng không giới hạn, nhưng nhất định phải cảm giác được, khi nào nơi mà anh tưởng tượng kia dần dần phát nhiệt nóng lên thì dừng. Sáng sớm tỉnh dậy, trước giờ cơm trưa, trước khi đi ngủ, ba khoảng thời gian này là vô cùng quan trọng, anh nhất định phải nhớ cho kỹ. Thời gian còn lại, tốt nhất cũng cứ theo cách tôi đã bày cho mà minh tưởng, trước sau không nên cách nhau quá gần, cũng không nên cách quá xa. Hôm nay chỉ nói đến vậy thôi, tôi đi luôn đây.”

Trác Mộc Cường Ba thấy Lữ Cánh Nam đứng lên, cũng biết thời gian không còn sớm sủa gì nữa, bèn nói: “Cám ơn cô, thực sự rất cám ơn cô, nhờ cô chuyển lời cảm ơn đến cả pháp sư Á La nữa. Giờ tôi đang như thế này, không thể tiễn cô ra ngoài được rồi.”

Lữ Cánh Nam hờ hững nói với vẻ chán nản thất vọng: “Cần gì phải khách khí thế.” Cô quay người đi, thấy Đường Mẫn vẫn chưa trở lại, lúc ra tới cửa rồi lại nói: “Chuyện về hô hấp hôm nay, Cường Ba thiếu gia, tôi hy vọng… tốt nhất anh không nói với bất cứ ai.”

Trác Mộc Cường Ba lập tức hiểu ngay ra, chuyện lén truyền phương pháp Mật tu này nhất định là đại kỵ của các Mật tu giả, đến cả pháp sư Á La cũng không dám đích thân truyền thụ, mà để Lữ Cánh Nam thay mình làm việc đó. Lữ Cánh Nam rốt cuộc đã phải liều thế nào… thôi bỏ đi, không nghĩ nữa, Lữ Cánh Nam truyền thụ xong khẩu quyết và phương pháp rồi mới nói vậy, tức là đã tự đẩy chính bản thân mình bước vào con đường không thể quay về, gã còn làm được gì nữa chứ. Trác Mộc Cường Ba vội nói: “Tôi hiểu, tôi hứa với cô.”

Lữ Cánh Nam ngoảnh đầu lại, nói với giọng hơi pha lẫn chút hồ nghi: “Tôi nói là, bất cứ ai! Kể cả thầy giáo của anh và…” Trác Mộc Cường Ba gật đầu cam đoan: “Tôi hiểu rồi, nhất định tôi sẽ giữ kín.”

Lữ Cánh Nam mỉm cười như thể được an ủi, đẩy cửa đi ra. Nhìn theo bóng lưng cô xa dần, Trác Mộc Cường Ba thầm nhủ với lòng: “Cánh Nam và Mẫn Mẫn dường như là hai thái cực hoàn toàn trái ngược, cô ấy làm chuyện gì cũng đều dứt khoát nhanh nhẹn, không hề ngượng nghịu gượng gạo chút nào, nhưng mà, cô làm vậy, thật không đáng chút nào…” Từ sau bận đó, Lữ Cánh Nam thường ngấm ngầm chỉ dẫn cho Trác Mộc Cường Ba cách hô hấp, hít thở, cho tới khi gã hoàn toàn nắm được phương pháp hô hấp đặc biệt ấy. Nhưng đó là việc sau này, tạm thời không nhắc đến ở đây.

Lữ Cánh Nam đi rồi, Mẫn Mẫn vẫn chưa quay lại, cũng chẳng biết có phải cô lại đi nói chuyện gì đó với Lữ Cánh Nam rồi hay không, Trác Mộc Cường Ba cũng lười chẳng buồn nghĩ ngợi, chỉ đưa bàn tay quấn đầy băng gạc ấn lên con chuột máy tính, tìm giáo sư Phương Tân để nói ra những nghi vấn của mình khi nãy.

Đã kết nối thành công. Trong cửa sổ webcam, giáo sư Phương Tân đeo kính lão, đang ngồi ở đầu giường sắp xếp một đống tài liệu lớn. Nghe xong câu hỏi của Trác Mộc Cường Ba, ông cười cười nói: “Đúng là sức người không thể nào đi xuyên gió ở khu vực ấy thật, nhưng ai bảo là chúng ta vẫn phải băng qua Tây Phong đới đâu?”

“Nhưng mà, không đi băng qua dải gió Tây ấy, làm sao chúng ta tìm được lối vào địa điểm đó? Chẳng lẽ, còn con đường nào khác nữa ư?”

Giáo sư Phương Tân nói: “Vì cậu vẫn chưa bình phục, nên tôi định mấy hôm nữa mới cho cậu biết tình hình hiện tại của chúng ta, nhưng cậu đã nôn nóng muốn biết như vậy thì nói luôn cũng được. Cường Ba à, cậu có cảm thấy mình đã lơ là xem nhẹ điều gì không?”

Trác Mộc Cường Ba hỏi: “Điều gì kia?”

Giáo sư Phương Tân mỉm cười nói: “Cậu thử nghĩ mà xem, Lữ Cánh Nam đã miêu tả ngọn núi tuyết ấy với chúng ta như thế nào chứ? Hàng năm, từ đầu tháng Năm đến trung tuần tháng Chín là mùa mưa ở đó, gió mùa Đông Nam dữ dội tạo thành khí hậu cực kỳ khắc nghiệt. Từ trung tuần tháng Mười một đến trung tuần tháng Hai năm sau, khí hậu lại bị dòng không khílạnh Tây Bắc mạnh mẽ khống chế, nhưng mà, cậu thử nhớ lại một chút xem nào, ban đầu cậu kể với tôi, Đường Thọ, Ba Tang đã tới vùng tịnh thổ ấy vào khoảng thời gian nào vậy?”

Trác Mộc Cường Ba ngẩn người ra mất một lúc, hình như lúc đó đúng là gã cũng biết thời gian bọn Ba Tang tìm được nơi ấy, có điều, sự việc trôi qua quá lâu, gã sớm đã quên mất tiêu rồi, nhưng có một điểm thì chắc chắn là gã nhớ rất rõ, bọn Ba Tang đã từng nhiều lần đi qua nơi đó, hơn nữa gió Tây mà Ba Tang và đám đồng bọn săn trộm của anh ta gặp phải ở Tây Phong đới rõ ràng là không cùng đẳng cấp với đợt gió bọn gã đụng phải trong chuyến đi trước. Đi bộ mười lăm ngày trời trong sức gió như thế, dẫu là siêu nhân cũng không làm được.

Giáo sư Phương Tân nhắc nhở gã: “Quên mất rồi hả? Vậy thì để tôi trả lời cho cậu. Dựa theo những ghi chép trước đây và những gì Mẫn Mẫn, Ba Tang nhớ được, Đường Thọ được phát hiện vào khoảng tháng Sáu, còn bọn Ba Tang thì đã đi qua đó rất nhiều lần, hơn nữa lần nào cũng bình yên trở về, chỉ có lần cuối cùng mới bị tiêu diệt toàn bộ mà thôi. Nơi mà họ phát hiện ra, là do một người trong bọn ngẫu nhiên trượt chân rơi xuống, lại vẫn dùng bộ đàm liên lạc với nhau được, còn chỗ chúng ta đi thì như thế nào chứ? Căn bản không thể bật được các thiết bị điện tử lên, điều này có ý nghĩa gìnào?”

Trác Mộc Cường Ba trầm ngâm suy nghĩ: “Có lẽ nào, nơi chúng ta đi và nơi họ tình cờ phát hiện ra, không phải là một?” Giáo sư Phương Tân gật đầu: “Cũng có khả năng này, có điều, chúng ta còn có thể giải thích theo một cách khác, đó chính là, Ba Tang và Đường Thọ đã cùng đến một nơi, nhưng nơi mà chúng ta tìm được lần này, không phải!”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Nhưng, tấm bản đồ đó… tấm bản đồ phát hiện được trong Đảo Huyền Không tự! Lẽ nào các chuyên gia đã phán đoán sai? Hay là, nơi chúng ta tìm đến đó mới là Bạc Ba La thần miếu thực sự, còn địa điểm mà Ba Tang và Đường Thọ phát hiện chỉ là một nơi khác? Thầy giáo, tôi bắt đầu thấy lẫn lộn rồi, rốt cuộc là như thế nào vậy?”

Giáo sư Phương Tân lấy đầu ngón tay gõ gõ vào ống kính webcam. Trác Mộc Cường Ba cảm giác như ông đang gõ lên trán mình, bất giác hơi lùi về sau một chút. Chỉ nghe giáo sư mỉm cười nói: “Cậu ấy à! Giờ mới nghĩ tới vấn đề này! Đây! Đây chính là điểm mà chúng ta đã bỏ sót, tất cả chúng ta, tất cả chúng ta đều không để ý đến điểm này!” Giáo sư Phương Tân ngưng lại giây lát, rồi tiếp lời: “Sau khi tấm bản đồ chúng ta lấy được trong Đảo Huyền Không tự được các chuyên gia nghiệm chứng, dường như không một ai nghi ngờ tính xác thực của nó, tất cả đều cứ rập khuôn theo bản đồ ấy, mãi cho tới khi nhìn thấy những xác chết treo ngược trong khe băng nứt, tôi mới sực nghĩ ra, nếu tấm bản đồ ấy là giả thìsao…”

Trác Mộc Cường Ba lập tức nói: “Nhưng mà, các chuyên gia đã giám định rồi, tấm bản đồ đó rõ ràng là cổ vật từ nghìn năm trước cơ mà!”

Giáo sư Phương Tân nói: “Không sai, tấm bản đồ đó đúng là cổ vật từ nghìn năm trước, nhưng thử nghĩ lại những cạm bẫy mà chúng ta gặp phải ở Cánh cửa Sinh mệnh, ở Đảo Huyền Không tự mà xem, trí tuệ của người xưa bao la phức tạp nhường nào. Ai có thể đảm bảo tấm bản đồ đó không phải là vật do những người Qua Ba bảo vệ Bạc Ba La thần miếu từ ngàn năm trước ngụy tạo ra chứ? Hơn nữa, cậu nghĩ lại cho kỹ xem, tấm bản đồ đó lấy ở đâu ra vậy?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Là pháp sư Á La đoạt được trong tay Merkin…” Gã lập tức sực hiểu ra, thốt lên: “A, tên Merkin đó…”

Giáo sư Phương Tân gật đầu nói: “Rất có khả năng này. Phải biết là, chúng ta là những người đầu tiên đến được tế đàn Mạn Đà La, nhưng lúc đó, chúng ta đâu có phát hiện được gì. Vậy bọn Merkin tìm thấy tấm bản đồ ấy ở chỗ nào được? Về sau, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia, tấm bản đồ đó và tấm bản đồ chúng ta phát hiện ra trong mật thất Cổ Cách có khả năng được làm từ cùng một bộ da sói. Đây cũng là vấn đề mà tôi với Hồ Dương cứ tranh luận mãi, nghĩ mãi mà cũng chưa tìm được lời giải thích nào hợp lý. Giờ nghĩ lại, nếu nói tấm bản đồ trong tay chúng ta, vốn chính là tấm bản đồ mà Stanley từng lấy đi khỏi mật thất Cổ Cách, cũng chính là tấm bản đồ từng khiến vô số tổ chức và thế lực tranh đoạt rồi cuối cùng biến mất và không rõ lưu lạc nơi nào thì sao? Nếu như vậy, chúng ta sẽ không khó lý giải tại sao dọc đường lại phát hiện ra nhiều xác chết như thế, đó chính là thi thể của những người thám hiểm trước, bởi vì chúng ta đã đi lại con đường của tất cả những kẻ đi trước ấy!”

Giáo sư Phương Tân nói một tràng như súng liên thanh, làm Trác Mộc Cường Ba nghe mà ong hết cả đầu, quan hệ bên trong rắc rối lằng nhằng, vòng qua vòng lại, lúc thì là bản đồ của bọn gã, lúc lại là bản đồ của bọn Merkin, một lúc sau lại biến thành tấm bản đồ mà vô số kẻ đi tìm Bạc Ba La thần miếu từng ra sức tranh đoạt, rốt cuộc tấm bản đồ nào là tấm bản đồ nào đây? Gã gãi đầu gãi tai nói: “Đợi… đợi chút đã, thầy giáo.” Gã sắp xếp lại tư duy, đoạn mới nói: “Thầy giáo, để tôi lặp lại ý thầy đã nhé. Thầy muốn nói, tấm bản đồ mà chúng ta cướp được trong tay Merkin ở Đảo Huyền Không tự, vốn chính là tấm bản đồ đã bị Morton Stanley lấy đi trong mật thất Cổ Cách, cũng chính là tấm bản đồ mà vô số đội thám hiểm trước chúng ta đã lấy làm căn cứ để đi tìm Bạc Ba La thần miếu, bởi vậy, các chuyên gia mới đưa ra kết luận rằng hai tấm bản đồ ấy được làm từ cùng một bộ da sói. Tấm bản đồ trong tay chúng ta, vốn chỉ là một cái bẫy do Merkin bày ra mà thôi?”

Giáo sư Phương Tân gật đầu khẳng định: “Không sai, như vậy là đã có thể giải thích tại sao các chuyên gia lại đưa ra kết luận hai tấm bản đồ được làm từ cùng một bộ da sói, bởi vì chúng vốn được đặt ở cùng một nơi, chứ không phải phân tán ở hai nơi khác nhau và cách nhau mấy trăm năm; đồng thời cũng giải thích được tại sao dọc đường lại phát hiện ra nhiều xác chết đến thế, bởi vì người ta sớm đã dựa theo tấm bản đồ ấy mà đi tìm Bạc Ba La thần miếu từ lâu lắm rồi, và tất cả đều thất bại hết.”’

Trác Mộc Cường Ba nói: “Nhưng tại sao hắn lại làm vậy chứ?”

Giáo sư Phương Tân nói: “Rất đơn giản, nếu tấm bản đồ này là do Merkin cố ý chuẩn bị cho chúng ta, thì chắc chắn hắn đã đến núi tuyết đó rồi. Hơn nữa, hắn cũng biết nơi đó đáng sợ như thế nào, đồng thời cũng biết được rằng, ở đó căn bản không thể nào tìm được lối vào Bạc Ba La thần miếu. Hắn làm như vậy, chỉ có một mục đích thôi, chính là muốn khiến cho chúng ta thất bại! Cậu thử nghĩ xem, chúng ta đang điều tra hắn, hắn cũng đang điều tra chúng ta, từ trước đến nay cũng chỉ có hai nhóm chúng ta và hắn là đã đến địa cung Maya, và phát hiện ra những đầu mối mới, về sau cũng chỉ có hai nhóm này cùng lúc lần theo các đầu mối mới đó mà tìm đến Đảo Huyền Không tự, nếu nói có phát hiện gì mang tính đột phá, thì cũng chỉ có thể là một trong hai nhóm này mà thôi. Tôi đoán, có lẽ hắn cũng biết rõ đội ngũ của chúng ta không thể thất bại được, một khi thất bại, sẽ lập tức phải đối mặt với nguy cơ bị giải tán. Chúng ta mà bị giải tán, thì bọn hắn sẽ trở thành đội ngũ tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu có thực lực nhất còn lại, cơ hội là người đầu tiên phát hiện ra Bạc Ba La thần miếu của hắn sẽ lớn hơn rất nhiều. Cậu nghĩ thử xem, nói như vậy có lý không?”

Trác Mộc Cường Ba đần mặt ra một lúc, không ngờ bên trong chuyện này lại có lý lẽ phức tạp đến thế. Nghe giáo sư nói xong, gã liền như người bừng tỉnh khỏi cơn mộng, nhưng vẫn cứ cảm thấy bên trong hãy còn điểm gì đó chưa được ổn lắm, nhưng rốt cuộc là điểm nào thì gã lại không sao nói ra được. Trong lúc đó, giáo sư Phương Tân cũng thoáng ngẩn ngơ, ngấm ngầm tự nhủ: “Vậy thì, hắn theo dõi chúng ta lên núi tuyết phỏng có ý nghĩa gì? Lẽ nào, hắn phải thấy chúng ta tất cả đều chôn thây nơi núi tuyết ấy mới cam tâm hay sao? Cần gì phải thế chứ?”

Giáo sư Phương Tân nghĩ ngợi giây lát, rồi nói tiếp: “Còn nữa, từ tấm bản đồ ấy, ta có thể suy đoán được nguyên nhân đội của chúng ta bị giải tán.”

“Hả?” Trác Mộc Cường Ba lại thần người ra.

Giáo sư Phương Tân liền mỉm cười giải thích: “Còn nhớ chuyện Ngải Lực Khắc rời khỏi đội không? Lúc đó tôi đã nói với cậu như thế nào nhỉ, đó là một tín hiệu, từ lúc đó lãnh đạo cấp trên đã chuẩn bị giải tán nhóm huấn luyện đặc biệt của chúng ta rồi. Bởi vì việc thành lập nhóm của chúng ta, bản thân đã chỉ là một hành động mang tính thử nghiệm, một nơi đã tìm kiếm cả hơn một trăm năm vẫn chưa thấy bóng dáng đâu, một nơi mà vô số các tổ chức chuyên nghiệp cũng không thể nào tìm được, đâu dễ dàng gì bị một nhóm toàn dân không chuyên như chúng ta tìm thấy chứ, chỉ vì lúc đó đột nhiên xuất hiện quyển trục từ nước ngoài trở về Trung Quốc, tất cả ai cũng mang tâm thái muốn thử một phen xem sao nên mới thành lập ra nhóm này mà thôi. Họ đã cho chúng ta thời gian hơn một năm mà vẫn chẳng có bất cứ tiến triển gì, vậy thì, đội ngũ này cũng phải bị thủ tiêu thôi, mà tấm bản đồ trong tay chúng ta, chính là được phát hiện trong thời gian ấy…”

Giáo sư Phương Tân gỡ cặp kính lão xuống lau lau cho sạch, tiếp lời: “Còn nhớ chuyện đội trưởng Hồ Dương kể không? Người chiến hữu đó của anh ta từ mười mấy năm trước đã tới núi tuyết Tư Tất Kiệt Mạc, cũng có nghĩa là, nhà nước sớm đã tổ chức đội khảo sát khoa học thám hiểm con đường này rồi, chỉ có điều, lần đó đã thất bại. Mà trong cả quá trình, chắc chắn là không chỉ có một lần đến khảo sát, bởi vậy, khi các chuyên gia đối chiếu ra được vị trí cụ thể của tấm bản đồ này, họ sẽ nghĩ như thế nào chứ? Thì ra lăn lộn hai năm trời, rốt cuộc vẫn phải đến cái nơi đó hay sao?”

Trác Mộc Cường Ba nhìn gương mặt giáo sư Phương Tân trong màn hình máy tính một hồi thật lâu. Những chuyện này từ trước đến nay gã đều chưa từng nghĩ đến, giờ nhớ lại, mới thấy đúng là có lý thật. Đội của bọn họ đã thành lập được hơn hai năm, đầu mối duy nhất điều tra ra được, không ngờ lại là thứ đã bị phát hiện từ mười mấy hoặc thậm chí là mấy mươi năm trước, coi như là chẳng có bất cứ cống hiến gì mà chỉ lãng phí tài nguyên con người của quốc gia. Vậy tại sao cấp trên cứ chần chừ mãi không giải tán chứ? Đó chắc chắn là kết quả tranh đấu không ngừng của Lữ Cánh Nam. Vừa nghĩ tới Lữ Cánh Nam, Trác Mộc Cường Ba vội gạt hết những suy nghĩ ấy ra khỏi đầu, nhìn ống kính webcam lẩm bẩm nói: “Tôi không ngờ lại là như thế…”

Giáo sư Phương Tân nói: “Tôi biết, đây chính là khuyết điểm của cậu, lúc nào cũng thích nghĩ sự việc theo chiều hướng đơn giản, chỉ nhìn vào bề mặt, là một người làm việc theo cảm tính. Nếu muốn trở thành đại trí giả giống như cha cậu, cậu cần phải nhìn thấu qua bề mặt của sự việc, phát hiện huyền cơ ẩn tàng bên trong. Rất nhiều sự việc nhìn bề ngoài tưởng chừng như không hề liên quan, kỳ thực lại có trăm mối ngàn mối liên hệ với nhau. Một con bướm ở châu Mỹ đập cánh, có thể dẫn đến hình thành một trận cuồng phong trên Thái Bình Dương. Cậu có biết không, từ trước khi nhóm huấn luyện đặc biệt của chúng ta được thành lập, Đức Nhân lão gia sớm đã dự đoán được lần thất bại này. Ông ấy từng nói với tôi, không phải việc do mình đích thân làm, thì không thể nào thành công được. Cho đến ngày hôm nay, tôi mới thực sự hiểu được hàm nghĩa của câu nói ấy.”

Lời của giáo sư Phương Tân tựa một tia sét giữa đêm đen, Trác Mộc Cường Ba như người sực tỉnh khỏi cơn mộng mị. Hai năm nay cứ theo đội ngũ này bôn ba khắp bốn phương, gã cơ hồ đã quen với việc phục tùng mệnh lệnh mà quên mất chuyện tự mình suy xét, giờ đây nhớ lại các chi tiết nhỏ nhặt, mới thấy không ngờ trước đây bọn gã đã trồng xuống bao nhiêu mầm thất bại để dẫn đến kết cục ngày hôm nay. Đồng thời, gã cũng giật bắn mình, vội nói: “Nếu tấm bản đồ này là giả, vậy thì tấm bản đồ thầy tìm được trong mật thất Cổ Cách lúc cuối cùng chẳng phải là…”

Giáo sư Phương Tân lắc đầu nói: “Ừm, trước mắt vẫn còn đang nghiên cứu, tôi đã xin ý kiến của rất nhiều chuyên gia về hình tượng học, chuyên gia phá giải mật mã, chuyên gia thám hiểm, chuyên gia tôn giáo… vân vân… nhưng không một người nào hiểu. Tất cả đều chung một ý kiến, rằng ngoài bản đồ giao thông ở các đô thị lớn và hiện đại ra, không thể có tấm bản đồ nào vẽ kiểu như thế cả, đặc biệt là bản đồ chỉ đường đến một nơi nào đó. Hôm nay cậu bị thương nặng như vậy, tốt nhất hãy nghỉ ngơi cho sớm một chút, còn nhiều thông tin khác, tôi sẽ trao đổi với cậu sau. Bên trong chuyện này còn rất nhiều vấn đề mà chúng ta chưa thể giải đáp, nhưng giờ đã nắm được quyền chủ động trở lại, thì phải phát huy trí tuệ của bản thân cho hết mức hết nhẽ mà giải đáp câu đố của người xưa để lại. Muộn quá rồi, cứ thế này…”

Đêm hôm đó, Trác Mộc Cường Ba trằn trọc không yên, cứ băn khoăn suy nghĩ mãi về những lời giáo sư Phương Tân đã nói. Phải nhìn thấy những thứ ẩn sau bề mặt của sự việc, dường như gã dự cảm được tất cả những chuyện này có điều gì đó không ổn cho lắm, cảm giác này gã đã có từ rất lâu rồi, từ lúc nào vậy nhỉ? À, đúng rồi, là từ lúc Babatou kể về những kẻ địch vô hình, nhưng mà, rốt cuộc là có điều gì không ổn chứ? Kẻ địch vô hình? Merkin? Lúc này tên đó đang ở đâu? Đang làm gì?

Nghi vấn trong kim thư

“Ắt xì… ắt xì…” Merkin liên tiếp nhảy mũi mấy cái liền. Soares đứng bên cạnh cười nhạt hỏi: “Sức khỏe như anh mà cũng có lúc bị cảm à?”

Merkin nói: “Làm gì có chuyện đó, chỉ tại thời tiết khô hanh quá, trong mũi cứ ngứa ngáy thôi. À, phải đấy, nghiên cứu của anh ra sao rồi?”

Soares bực bội lắc đầu: “Đừng nhắc nữa, không phải là thứ sinh vật trong tưởng tượng của tôi, lại tốn công vô ích cắm đầu cắm cổ hơn nửa năm trời, còn anh? Anh vẫn đợi tình hình từ phía đám người kia à?”

Merkin đáp: “Đúng vậy. Cũng chẳng còn chuyện gì khác để làm.” Soares hờ hững nói: “Nghe đồn, anh đang chuẩn bị rao bán hai khu đất ở Mỹ hả, chuyện là thế nào vậy?” Merkin nói: “Không có gì, gần đây nhìn lầm mất hai lần, thành ra tổn thất hơi lớn, cần tiền mặt gấp để bồi thường.” Soares nói: “Ừm, dự tính phải đền bao nhiêu?” Merkin nói: “Khoảng ba trăm triệu gì đấy.” Soares bật cười: “Không ngờ chuyên gia giám thưởng như anh mà cũng có lúc nhìn lầm cơ à.”

Merkin cười khổ nói: “Trong cái ngành châu báu cổ vật này, dù người lợi hại đến mấy cũng không dám tự xưng là trăm phần trăm chuẩn xác, đây vốn đã là ngành có nhiều hàng giả nhất từ khi nhân loại có lịch sử đến nay mà. Có điều cũng chẳng can hệ gì, chỉ cần có thể tìm được Bạc Ba La thần miếu thì dẫu phải táng gia bại sản tôi cũng không sợ.”

Soares cười cười, đột nhiên nói: “Đúng rồi, Ben, tấm bản đồ đó… đúng là anh nhặt được dưới đất hả?”

Merkin gật đầu khẳng định: “Đúng thế, tôi đã gạt anh lúc nào đâu, hơn nữa, cơ quan cạm bẫy ở đó phức tạp như vậy, sau khi cạm bẫy khởi động, người lợi hại thế nào chăng nữa cũng không thể nào vượt qua được, chỗ như thế lẽ nào lại là nơi có thể tùy tiện ra vào được chứ? Theo lý mà nói, tấm bản đồ đó không thể là đồ giả được, vậy mà chúng mãi vẫn không tìm được nơi ấy, hơn nửa năm nay cũng chẳng đi đâu hết. Cái tên Trác Mộc Cường Ba đó lại còn đột nhiên biến mất, chính mấy tên đồng bọn cũng không tìm được hắn, tôi đây cũng lấy làm kỳ lạ.”

Soares nở một nụ cười hờ hững, chẳng bộc lộ cảm xúc gì, nhổm người đứng lên, bước tới bên cạnh ô cửa sổ kiểu Pháp: “Cứ tiếp tục thế này mãi thì ích lợi gì? Tìm trăm phương ngàn kế để chúng có được tấm bản đồ đó, kết quả là chúng vẫn không tìm được gì. Lẽ nào thật sự không có chút đầu mối gì hay sao?” “Không.” Merkin nói: “Tôi không chỉ lần theo các đầu mối, mà cả người nữa. Anh biết đấy, thứ tôi thực sự muốn tìm…”

Lúc này, Max bỗng hớn hở chạy xồng xộc vào, reo lên mừng rỡ: “Ông chủ, tìm được rồi, hắn đang ở trong một bệnh viện ở Thượng Hải.”

Merkin liền hỏi: “Sao lại ở đó?”

Max nói: “Theo tin mới nhất từ Trung Quốc chuyển về, công ty của hắn đã phá sản, đội ngũ được huấn luyện đặc biệt của bọn chúng cũng bị giải tán. Hơn nữa, dường như tên Trác Mộc Cường Ba ấy đã mắc phải một loại bệnh hết sức kỳ dị, giống như là trong cơ thể có gắn một quả bom hẹn giờ vậy, một năm sau sẽ nổ. Với trình độ y học hiện nay vẫn chưa có cách nào chữa trị được, vậy nên hắn đã bị chấn động rất nặng, ý chí sa sút, tinh thần chán nản, suốt một thời gian dài chỉ ngày ngủ đêm đi, ra vào các quán rượu sàn nhảy như cơm bữa, do đó chúng ta mới không tìm được hắn. Còn nữa, nghe đồn hắn đánh nhau với một đám lưu manh du đãng mà bị thương phải nhập viện. Tôi thấy gã này không có hy vọng gì nữarồi.”

Merkin cũng không khỏi biến đổi sắc mặt, thầm nhủ: Sao lại thành ra như vậy chứ? Lẽ nào hắn thật sự chỉ ngã một lần là không bao giờ gượng dậy nổi hay sao?

Soares nói: “Anh thấy chưa, cuối cùng lời tôi nói đã ứng nghiệm rồi, nếu bọn chúng mà tìm được Bạc Ba La thần miếu, tôi sẽ đi hôn đít lừa ngay tắp lự.”

Merkin lại hỏi: “Vậy là cho đến lúc này, hắn cũng chưa hồi phục à?”

Max lắc đầu: “Cũng không phải, hình như sau khi những tên khác trong đội tìm được hắn, tình hình đã có chút biến chuyển theo chiều hướng tốt hơn. Nhưng tôi cảm thấy khả năng bọn chúng tiếp tục đi tìm Bạc Ba La thần miếu không lớn lắm. Đã ra đến nông nỗi này rồi, nếu còn tiếp tục tìm kiếm, chỉ sợ sẽ rơi vào cảnh cùng đường mạt lộ, muôn đời cũng không thể trở mình. Nếu đổi lại là tôi, tôi tuyệt đối không tiếp tục tìm kiếm nữa đâu.”

Hai hàng lông mày nhíu chặt của Merkin đã hơi giãn ra phần nào, tủm tỉm cười nói: “Đáng tiếc, mày không phải là Trác Mộc Cường Ba. Tao hiểu con người hắn, hắn không phải loại người dễ dàng bỏ cuộc như thế đâu, nếu hắn mà bỏ cuộc thì đã không phải là Trác Mộc Cường Ba rồi. Hơn nữa, những chiến hữu cũ của Trác Mộc Cường Ba tìm hắn làm gì chứ? Nhất định là để cổ vũ hắn tiếp tục tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu rồi. Cả đám người ấy đều không bỏ cuộc đâu, tên nào tên nấy đều có mục đích riêng cả, khà khà, đúng là càng lúc càng thú vị. Nhớ kỹ, lần liên hệ sau, phải nói với người của chúng ta, trước khi tìm được Bạc Ba La thần miếu thì đừng có liên lạc lại nữa, giờ đã không còn là hành động được chínhphủ Trung Quốc ủng hộ nữa, mà là hành động tự phát, chắc chắn chúng sẽ cẩn thận hơn nhiều, chỉ cần hơi bất cẩn một chút là có khả năng bị vạch trần thân phận ngay.”

Max cung kính nói: “Vâng, ông chủ.” Hắn do dự giây lát, rồi lại nói: “Ông chủ, hình như đã có gì sai sót, hình như có mấy tổ chức tương đối lớn đã nhận được một số thông tin, biết được rằng bọn Trác Mộc Cường Ba đang tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu, hơn nữa còn từng được chính phủ Trung Quốc ra mặt ủng hộ nữa.”

“Cái gì!” Merkin giật mình chấn động thốt lên: “Rốt cuộc là chuyện gì? Tin tức để lộ ra ở chỗ nào vậy?” “Chuyện này, vẫn chưa được rõ…” Max cúi gằm mặt liếc trộm ông chủ một cái, dè dặt nói. “Điều tra! Dứt khoát phải điều tra cho tao!”

Sáng sớm hôm sau, người đầu tiên đến bệnh viện không ngờ lại là pháp sư Á La. Ông không hề nhắc nửa lời đến chuyện hô hấp hít thở, tỏ ý hoàn toàn không hay biết gì chuyện này. Trác Mộc Cường Ba cũng không tiện phơi trần ra, nhưng gã nhủ thầm trong bụng, vẫn phải nói với pháp sư về vấn đề tín ngưỡng trong tôn giáo của họ, tư tưởng hạt nhân tà ác ấy, tốt hơn hết là không nên đi tìm nữa thì hơn.

Pháp sư Á La nghe Trác Mộc Cường Ba thuật lại những suy đoán của Đức Nhân lão gia về giáo nghĩa của tôn giáo đó xong, bèn mỉm cười bảo: “Tuy rằng Đức Nhân lão gia luôn là bậc đại trí giả mà tôi vô cùng kính phục, nhưng về vấn đề này, tôi lại không tán đồng quan điểm của ông ấy. Phật và chúng sinh bình đẳng không chỉ là tín ngưỡng trong tôn giáo của chúng tôi, mà cũng là tín ngưỡng của một số tôn giáo bí mật khác nữa, ý nghĩa của nó vốn cũng tương đồng như quan niệm chúng sinh bình đẳng mà thôi, chỉ có điều, thứ mà chúng tôi tin tưởng vào đó, là một xã hội đại đồng hơn nữa. Trong xã hội ấy, thần Phật và chúng sinh đều bình đẳng, thông qua nỗ lực tu luyện của bản thân, hết thảy chúng sinh, từcao cao tại thượng như quân vương, thừa tướng, hay thấp hèn như loài sâu loài kiến, ai ai cũng đều có thể tu luyện thành Phật. Cường Ba thiếu gia không thể nào nói, tín ngưỡng như vậy là tà ác phải không?”

Trác Mộc Cường Ba đưa tay gãi gãi lên má qua lần băng vải. Pháp sư Á La lại tiếp lời: “Quan điểm ‘ta vốn là Phật’ lại càng dễ giải thích hơn, ý chỉ rằng, người người đều có một trái tim từ bi hỷ xả, phổ độ chúng sinh, cứu người cứu mình, còn khát vọng muốn được trường sinh bất lão, sở hữu sức mạnh phá hoại tất thảy mà Trác Mộc Cường Ba nghĩ tới kia không thể nào xem ‘ta vốn là Phật’ được, mà phải gọi là ‘ta vốn là Ma’ mới đúng.”

Trác Mộc Cường Ba ngẩn người ra, hình như giải thích như vậy cũng rất thông, bởi thế mà xưa nay gã đều cảm thấy những chuyện trong tôn giáo rất phiền phức, bảo tốt thì là tốt, bảo xấu thì tức là xấu, giải thích thế nào cũng xong, đành phải chờ xem năng lực lý giải của mỗi người như thế nào thôi vậy. Những điều pháp sư Á La nói cũng không phải không có lý lẽ, nhưng nghĩ đến huyết trì, cùng những thứ được thấy, được nghe ở Cánh cửa Sinh mệnh và Đảo Huyền Không tự, Trác Mộc Cường Ba vẫn cảm thấy thật tà ác, ít nhất thì cũng không thể gọi là từ bi được. Pháp sư Á La lại nói: “Tôi biết trong lòng cậu đang nghĩ gì. Huyết trì và các tượng Phật tướng mạo hung hãn đó, dường như chắc đến mười mươi là vật sở hữu của tà giáo, nhưng thực ra lại không phải như vậy. Huyết trì lấy máu người làm nhiên liệu, lại phải đặt các cơ quan nội tạng ở các vị trí khác nhau mới có thể khởi động, điều này… điều này chắc là Cường Ba thiếu gia có thể lý giải được. Ở Tây Tạng thời xưa, địa vị xã hội của con người được phân biệt hết sức rõ rệt, những người nông nô ở tầng lớp thấp kém nhất, gần như là không có địa vị gì để mà nói cả, từ khoảnh khắc được sinh ra trên đời này, sinh mạng của họ, và cả của cha mẹ và tổ tiên nhà họ, đều thuộc về chủ nhân cả. Thân thể của họ cũng thường được dùng làm cống phẩm để hiến sinh cho các loại lễ tế khác nhau. Chắc là Cường Ba thiếu gia cũng biết điều này chứ nhỉ?”

Trác Mộc Cường Ba im như thóc, không nói một lời. Từ nhỏ, gã đã nghe chú La Ba kể chuyện, hồi trước Giải phóng, nông nô Tây Tạng đúng là chẳng hề có chút địa vị nào cả.

Pháp sư Á La lại nói: “Nghi thức này, thực ra chỉ là một tập tục xấu còn sót lại từ xã hội nguyên thủy nhất của loài người. Trong thời cổ đại từ ngàn vạn năm về trước, con người thảy đều sùng bái sức mạnh hủy diệt đất trời của đại tự nhiên, vả lại, cũng không thể có những nhận thức khoa học về chu kỳ sinh lý của bản thân mình, bọn họ thường hay lựa chọn tế lễ bằng máu tanh để khẩn cầu được ban cho sức mạnh lớn lao. Đồng thời, trong tiềm thức của họ, một số xúc cảm tiêu cực dồn nén đã lâu cũng được phát tiết trong những dịp tế lễ này. Không chỉ ở khu vực Tây Tạng chúng ta, mà người cổ đại trên toàn thế giới đều có những nghi thức tương tự như vậy, bao gồm cả Maya ở châu Mỹ mà cậu đã từng đến, Trung Nguyên cổ đại, châu Âu cổ đại, châu Phi cổ đại, mức độ tanh máu và tàn bạo đều không thua kém huyết trì, chỉ có điều, cùng với sự phát triển của nền văn minh, chúng đã dần dần biến mất, mỗi vùng lại có một kiểu truyền thừa khác nhau mà thôi. Còn Tây Tạng chúng ta, nằm trong môi trường tương đối khép kín trong một thời gian dài, tập tục xấu này mới được truyền thừa khá lâu đời như thế. Tuy vậy, điều này cũng không thể nói lên rằng nó tà ác, mà đơn giản chỉ là một vết sẹo để lại trong lịch sử nhân loại mà thôi. Còn những tượng Phật tạo hình hung ác kia ư, Cường Ba thiếu gia có thể tới bất cứ ngôi chùa ngôi miếu nào để quan sát, làm gì có chùa nào là không có tượng hung thần ác Phật, dùng để trấn yêu phục ma, cách gọi chính xác của những tượng Phật ấy phải là Phẫn nộ tướng của Bồ Tát và Kim Cương. Ngoài ra trong cả Mật pháp lẫn Hiển pháp, cũng không thiếu gì tượng Kim Cương lấy các bộ phận trên cơ thể người làm vật cầm trên tay, trong đó nhiều nhất chính là xương sọ, kế đó là tim người, da người. Tại sao lại khắc tạc ra những tượng Phật có hình dạng như thế chứ? Đó không phải để nói rằng Phật ăn thịt người, mà là biểu đạt sự răn đe và trừng phạt đối với kẻ ác, làm chuyện ácnhiều, chưa cần xuống tới địa ngục, khi còn đang sống cũng sẽ bị Phẫn Nộ Kim Cương hoặc Bồ Tát mổ bụng lấy tim, lột da cắt đầu. Còn tôn giáo trước đây của chúng tôi, có lẽ đã lấy việc trấn thủ ngọn nguồn cái ác làm nhiệm vụ, vì vậy nên tạo hình các tượng Bồ Tát đều có đặc biệt hung dữ hơn một chút, bằng không thì khó mà trấn áp được ác ma.” Pháp sư Á La hạ thấp giọng xuống nói: “Tôi tin rằng, giáo lý của tôn giáo chúng tôi tin theo, tuyệt đối không phải là những điều tà ác đâu!”

Trác Mộc Cường Ba vội nói: “Tôi cảm thấy, cha mình nói rất có lý, nhưng mà hôm nay nghe pháp sư nói, lại cũng thấy rất có lý, chúng ta không nên tùy tiện phán xét tư tưởng của cổ nhân một cách bậy bạ. Tư tưởng của người xưa có lẽ là trung tính, những người khác nhau sau khi xem xong lại có những cảm ngộ khác nhau, dẫu là giáo lý dẫn dắt con người ta hướng thiện tới đâu, đến tay những kẻ tà ác thì cũng bị lý giải thành tư tưởng tà ác mà thôi.”

Pháp sư Á La nở một nụ cười, nói: “Cường Ba thiếu gia quả là người nhìn xa trông rộng, tôi biết là vậy mà.” Không lâu sau, Trương Lập cũng đến, vừa vào phòng đã đưa tay chào theo lối nhà binh, rồi cười cợt hỏi: “Đội trưởng, hôm nay có sắp xếp gì không?”

Trác Mộc Cường Ba cũng gượng gạo cười, đáp: “Cậu nhìn bộ dạng của tôi như vậy, nhúc nhích còn chẳng nổi, lại còn chẳng hiểu chuyện gì, cứ đợi đấy đã, xem thầy giáo có phân công gì không. Sao mọi người không đến cùng một lượtvậy?”

Trương Lập đáp: “Thói quen mỗi người mỗi khác, giống như đại sư Á La đây, dậy còn sớm hơn cả tôi nữa, còn thằng nhóc Nhạc Dương kia thì chỉ ngủ suốt cả ngày, thật không hiểu làm sao mà cậu ta lại được huấn luyện thành lính trinh sát nữa. Hừm, e là hôm nay giáo sư Phương Tân sẽ bảo chúng tôi đi thu thập các tài liệu về đấy.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Thầy giáo sẽ là đầu não chỉ huy của chúng ta, theo tôi, chắc mọi người đều không có ý kiến gì với sự phân công của thầy ấy đâu. Có điều, nói thực lòng, tôi không hy vọng mọi người bắt đầu hành động nhanh như vậy chút nào, mong rằng trong lúc dưỡng thương, mọi người có thể ở đây với tôi thêm vài ngày. Cậu biết đấy, ở chỗ này, tôi vẫn còn bị thương nặng lắm.” Nói đoạn, gã đưa bàn tay băng bó gõ gõ lên bộ ngực cũng băng bó chằng chịt.

Trương Lập vỗ vỗ lên ngực Trác Mộc Cường Ba, nói: “Chuyện này thì đơn giản thôi, một hai năm nữa, anh và cô Mẫn Mẫn sinh thêm ba bốn đứa thì chỗ này có bị thương gì cũng lành hết cả thôi!”

Vừa đúng lúc đó, Đường Mẫn bước vào, nghe thấy câu cuối cùng, lập tức giận dữ trách móc: “Anh nói cái gì đấy, Trương Lập! Anh coi tôi là cái thứ gì chứ hả!” Nói xong, liền vung nắm đấm lên. Trương Lập cười ha hả, vội lách người sang một bên né tránh cú đánh của cô.

Trác Mộc Cường Ba và pháp sư Á La mỉm cười nhìn hai người đuổi bắt nhau. Trác Mộc Cường Ba bỗng cảm thấy tim mình đau thắt lại… cảm xúc này… tại sao cảnh tượng trước mắt lại khiến gã cảm thấy đau lòng như vậy chứ? Đúng rồi, gã cũng từng có một thời trẻ dại, lúc ấy có một cô bé con ngày nào cũng bám lẵng nhẵng sau lưng gã, không bao giờ chịu rời xa, lại cũng rất hay giận dỗi nũng nịu, em gái…

Đường Mẫn không bắt được Trương Lập, liền quay sang mách với Trác Mộc Cường Ba: “Cường Ba à, anh xem đội viên của anh kìa, bây giờ anh ta bắt nạt em mà anh còn chẳng bênh, nếu mà… nếu mà, sau… sau này thì làm sao?” Trương Lập nói: “Ủa? Cô Mẫn Mẫn không nói hết lời rồi, có phải muốn nói, sau này kết hôn thì làm sao đúng không?”

“Anh…” Đường Mẫn lại nhảy dựng lên đuổi theo Trương Lập. Trác Mộc Cường Ba khẽ đằng hắng trong cổ họng, nói: “Được rồi, Trương Lập, xét tình hình này, với tư cách đội trưởng, tôi phạt cậu đi mua đồ ăn sáng cho mọi người. Đồ ăn trong căng tin bệnh viện thực là khó nuốt quá đi mất.”

Đường Mẫn nói: “Bên kia đường có tiệm Vĩnh Hòa Đại Vương[2], sữa đậu nành bánh quẩy ở đó cũng khá ngon, hôm qua tôi vừa ăn ở đấy rồi.”

Đợi mọi người lần lượt đến đủ, phòng bệnh lại ồn ào thêm một phen nữa. Giáo sư Phương Tân nói với Trác Mộc Cường Ba, đã đến lúc mọi người phải bắt tay hành động rồi. Vậy là theo kế hoạch đã vạch ra từ trước, tất cả lại phân tán một lần nữa. Có điều lần này đã không còn cảm giác âu sầu buồn bã khi biệt ly mấy tháng trước, mà người nào người nấy cũng đều hừng hực lòng tin cả.

Mấy ngày tiếp sau đó, Trác Mộc Cường Ba nhận được một lượng thông tin rất lớn từ chỗ giáo sư Phương Tân chuyển qua, bao gồm cả quá trình tỉ mỉ của việc phá giải mật mã trên bao thuốc lá, bản phân tích cuốn nhật ký của Đường Thọ, những tiến triển mới nhất trong quá trình phân tích tư liệu mang ở Maya về, bản dịch mới nhất củaCổ cách kim thư, còn tối tối gã lại phải học thuộc khẩu quyết Mật tu, thử dùng ý thức cảm nhận hướng đi của mạch và chuyển động của luân xa. Trác Mộc Cường Ba cảm thấy, đây cũng là một sự khiêu chiến với khả năng ghi nhớ của gã.

Trước khi vết thương của Trác Mộc Cường Ba lành hẳn, Đường Mẫn là người phụ trách chăm sóc việc ăn uống tắm giặt của gã. Mới chỉ mấy ngày ngắn ngủi bên nhau mà tình cảm của hai người đã càng thêm thân thiết, như keo như sơn.

Trong rất nhiều đầu mối, đầu mối có quan hệ mật thiết nhất với họ, và cũng là điều Trác Mộc Cường Ba quan tâm nhất, không là gì khác ngoài bản dịch mới nhất của Cổ cách kim thư. Vì các chuyên gia giải dịch theo từng đoạn một, hơn nữa Lữ Cánh Nam cũng phải thông qua nhiều kênh phức tạp rối rắm mới có được những bản dịch này, nên bản dịch trong tay gã bây giờ, cũng chỉ là một số đoạn tản mát không liền mạch.

Có điều, thông qua những đoạn văn tản mát này, bọn họ đã lờ mờ phán đoán ra được, vị sứ giả ấy tổng cộng xuất hiện ba lần trong lịch sử Cổ Cách. Đoạn nhắc đến chuyện sứ giả mang Tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu mà họ biết được từ trước, đã là lần xuất hiện thứ hai của vị sứ giả này rồi. Trong những gì sứ giả nói, lộ ra rằng ông ta đã từng đến Cổ Cách trước đó. Còn nữa, khi sứ giả mang theo tín vật vượt đường xa vạn dặm đến miền đất khác, từng có ước định với quốc vương, nếu như vẫn còn sống, nhất định sẽ trở về hội kiến với quốc vương thêm lần nữa. Chỉ tiếc một điều là, phần nửa sau giải đáp câu hỏi rốt cuộc sứ giả có trở lại hay không của Cổ cách kim thư cho đến giờ vẫn không ai biết đang lưu lạc nơi nào. Cả giáo sư Phương Tân và Trác Mộc Cường Ba đều không tùy tiện đem Tây Thánh sứ được nhắc đến trong Cổ cách kim thư và hai vị Thánh sứ được các vị trưởng lão ở thôn Công Bố thừa nhận, cũng chính là Merkin và Trác Mộc Cường Ba, đánh đồng với nhau. Bởi vì, dựa theo những gì dịch từ cổ ngữ, vị Thánh sứ này được chọn trong những bậc đại trí, hoặc giả có huyết thống cao quý thuần chủng. Chẳng những thế, vị Thánh sứ Bì Ương Bất Nhượng này không hề được ghi chép trong Cổ cách kim thư, căn bản không thể tìm thấy truyền thừa lịch sử của ông ta, nên chỉ có thể coi là một phỏng đoán mà thôi. Nếu trực tiếp liên hệ so sánh ông ta với hai người bọn Trác Mộc Cường Ba và Merkin, thì thật là thiếu chứng cứ lịch sử.

Một điều nữa khiến Trác Mộc Cường Ba càng thêm chấn động và kinh ngạc là khi đó, vị Cổ Cách vương Y Tây Ốc Bá kia chẳng những là nhà tài trợ cho sứ giả mang Tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu đến nơi chân trời góc biển, mà còn có liên quan tới một món thánh vật khác nữa. Từ những đoạn văn dịch không liền mạch, có thể đưa ra một kết luận mơ hồ rằng, ước định của sứ giả và quốc vương khi ấy là, ông ta mang theo một trong ba món tín vật vượt đường xa đến đầu bên kia của góc biển chân trời, còn quốc vương cũng bí mật phái đi một vị sứ giả khác, mang theo một tín vật nữa, đến một nơi xa xăm góc biển chân trời khác. Còn chuyện quốc vương có hoàn thành ước định ấy hay không thì bản dịch không nhắc cụ thể tận tường, mà dường như đã ẩn giấu đầu mối vào sự kiện quốc vương phái đi hai mươi người con xuất sắc nhất của Cổ Cách đến phương Tây. Ở bên dưới đoạn văn dịch một cách hàm hồ khó hiểu này, giáo sư Phương Tân đã vạch một đường bằng bút đỏ, đồng thời chú thích ở bên cạnh: vào khoảng năm 975 đến 981 sau Công nguyên, sự kiện Cổ Cách vương phái đi hai mươi mốt thiếu niên thông huệ nhất đến Thiên Trúc học Phật, lịch sử và ẩn ngữ ám thị dường như có một sự trùng khớp nào đó.

Còn vấn đề hơn hai mươi thiếu niên Cổ Cách ấy có mang theo thứ gì hay không, thì trong Cổ cách kim thưkhông hề nói rõ. Giáo sư Phương Tân đã cẩn thận tiến hành sắp xếp lại những tư liệu lịch sử có thể tra ra được, liên quan đến hơn hai mươi thiếu niên sang Thiên Trúc học Phật kia. Căn cứ theo các tư liệu ấy, các thiếu niên đó đã xuất phát một cách rất bí mật, vì vậy thời gian cụ thể không sao xác định được, mà rốt cuộc họ đã đi đâu cũng không sao làm rõ được, chỉ biết rằng hơn hai mươi người ra đi, cuối cùng còn có hai người sống trở về. Hai người này bái A Để Hiệp[3] đại sư làm thầy, về sau đều trở thành những dịch giả nổi tiếng nhất trong lịch sử Cổ Cách. Quãng thời gian bọn họ ra nước ngoài cầu Phật cũng khoảng chừng hơn mười năm, không hề ngắn hơn quãng thời gian mà vị sứ giả vượt Thái Bình Dương tiến về phía Đông kia là mấy đâu.

Còn về món tín vật thứ ba, trong những đoạn dịch rời rạc họ đang có vẫn chưa thể phát hiện ra bất cứ đầu mối nào liên quan đến nó. Rốt cuộc là nó đã được giao cho người khác, hay bị hủy diệt, hay vẫn còn ở lại đất Tạng, không một ai có thể đoán chắc được, chỉ biết rằng vị sứ giả kia đã từng nói có ba món tín vật mà thôi.

Tuy nhiên từ bản dịch xuất hiện ba nghi vấn. Thứ nhất, thái độ của sứ giả đối với ba món tín vật; từ một vài đoạn, có thể thấy rằng mục đích của sứ giả là muốn giao chúng cho ba người khác nhau, nhưng trong một số đoạn khác thì hoàn toàn khác hẳn, sứ giả muốn giấu hai món tín vật đi, tốt nhất là có thể chia ra hai nơi chân trời góc biển, vĩnh viễn không bao giờ để tái hợp. Sự thay đổi thái độ này vừa đột ngột vừa ly kỳ, đồng thời trong toàn bộ các đoạn dịch vẫn chưa tìm được bất cứ nguyên nhân hay bối cảnh nào có thể khiến thái độ của sứ giả có chuyển biến, đây quả là một điều khiến người takhông sao nghĩ thông cho nổi. Giáo sư Phương Tân bảo Trác Mộc Cường Ba, nói theo kiểu đùa cợt của Nhạc Dương, thì là với những tư liệu họ hiện có trong tay, chỉ có thể đưa ra kết luận rằng vị sứ giả ấy đã mắc chứng bệnh tâm thần phân liệt cực kỳ nghiêm trọng.

Điểm thứ hai, là thái độ của Cổ Cách vương đối với tín vật. Một số đoạn thì nói, quốc vương cực kỳ tôn kính sứ giả, đã chấp hành vô điều kiện tất cả các yêu cầu của sứ giả. Nhưng một số đoạn khác lại kể quốc vương ngấm ngầm sai người ngăn trở, phá rối sứ giả. Chẳng trách trước đây Lữ Cánh Nam nói với chúng ta rằng, sứ giả muốn giao tín vật cho người khác, còn quốc vương lại muốn giữ tín vật lại. Sự thực thì cả các chuyên gia cũng chưa hiểu được rốt cuộc chuyện này là như thế nào nữa.

Điểm nghi vấn thứ ba cũng có liên quan đến tín vật. Tổng hợp tất cả những đoạn văn mà họ có lại, có thể thấy bản dịch ngầm ám chỉ rằng món tín vật thứ hai ngoài Tòa thành được ánh sáng tỏa chiếu kia, đã được quốc vương sai người bí mật đưa đi nơi khác. Đồng thời, trong đó lại có hai ba đoạn đặc biệt chỉ ra rằng, món tín vật ấy là một tấm bản đồ và đã bị quốc vương giữ lại. Đem gộp các đoạn này lại đối chiếu, so sánh, thực khiến người ta không thể hiểu thực hư thế nào, chỉ còn biết chờ đợi các chuyên gia dịch toàn bộ nội dung củaCổ cách kim thưra thôi vậy.

Ngoài chuyện này ra, các tư liệu thời Thế chiến II mà bọn giáo sư Phương Tân tra ra trong lúc phá giải mật mã của quân Đức Quốc xã cũng khơi gợi được sự tò mò và hứng thú của Trác Mộc Cường Ba. Gã vẫn còn lờ mờ nhớ được, từ rất lâu trước đó, Lữ Cánh Nam đã nhắc rằng nước Anh từng có được các tư liệu của Morton Stanley, nhưng sau Thế chiến I các tư liệu này đã bất ngờ biến mất, về sau không biết vì nguyên nhân gì mà chúng lại lọt vào tay người Đức. Có điều, hồi đó Lữ Cánh Nam chỉ nói thoáng qua một câu, không giải thích rõ. Về sau, trong tư liệu của bọn gã cũng không hề có những giải thích hay phân tích gì về phương diện này. Lần này, giáo sư Phương Tân đã bắt tay vào điều tra một cách kỹ lưỡng hồ sơ của Hitler và một số quan chức cấp cao của đảng Nazi, đồng thời bổ sung vào đó các suy đoán của cá nhân ông, khiến Trác Mộc Cường Ba lại có nhận thức mới về vấn đề này.

Tin mật của Hitler

Giáo sư Phương Tân viết trong tài liệu như thế này: “Không nghi ngờ gì nữa, Hitler là một kẻ cuồng tín sùng bái năng lực siêu tự nhiên, tư tưởng này đã thúc giục y cùng một số quan chức cấp cao cũng sùng bái năng lực siêu tự nhiên khác, tiến hành nhiều hoạt động bí mật, bao gồm cả việc thành lập lực lượng Waffen-SS và Hiệp hội Di sản Tổ tiên, rồi những hành động tìm kiếm Chén Thánh, Mũi Giáo Thần Thánh, nghiên cứu văn tự cổ, đặc biệt là sự kiện Tây Tạng…”

Thuở nhỏ, Adolf Hitler không hề có chí hướng cao xa gì, y một lòng chỉ muốn trở thành nhà nghệ thuật, đồng thời vì vậy mà đã nảy sinh tư tưởng học lệch rất nặng nề. Thời trung học, y đã từng bị lưu ban vì không đủ điểm môn Số học và Tự nhiên, về sau lại vì không đủ điểm môn Tiếng Pháp nên không thể tiếp tục theo học trường trung học hệ sáu năm, phải chuyển sang học ở trường trung học hệ bốn năm. Sau khi cha y qua đời, Hitler mới tốt nghiệp trung học cơ sở, nhưng không muốn tiếp tục học lên trung học phổ thông, mà quyết định bắt đầu cuộc sống của nhà nghệ thuật như vẫn hằng nung nấu. Y bỏ nhà đến Vienna, và được bầu không khí nghệ thuật ở đó hun đúc, bồi dưỡng. Hitler vốn định xin vào họctrong Học viện Nghệ thuật Vienna, đáng tiếc là học lực của y kém, không được chấp nhận nhập học. Sau đó, mẹ y lại qua đời vì bệnh ung thư vú, Hitler sau khi đã tiêu sạch tiền thừa kế của cha mình để lại, không muốn phải sống bằng nghề khuân vác thuê, lại cũng chẳng có sở trường hay nghề ngỗng gì, cuối cùng trở thành một gã lang thang ở thành Vienna.

Năm 1909, cuộc đời Hitler gặp phải bước ngoặt đầu tiên, một người bạn đề nghị y vẽ một số bức bưu thiếp, và đồng ý mang đi bán hộ. Nghe nói việc tiêu thụ cũng không tệ chút nào, gã lang thang cuối cùng đã thuê được một căn hộ độc thân với giá rẻ, đồng thời bắt đầu không phải lo lắng về chuyện ăn uống nữa. Khi đó, Hitler mới vừa tròn hai mươi tuổi, nói theo cách hiện nay, thì chính là một gã “thanh niên phẫn khích”. Sau khi giải quyết được vấn đề ăn no mặc ấm, y bắt đầu có thời gian và cơ hội tiếp xúc với một lượng lớn các sách vở. Có lẽ được di truyền huyết thống của người cha làm công chức, từ nhỏ Hitler đã đặc biệt mẫn cảm với chính trị, trong các thư tịch y tìm đọc, có rất nhiều sách báo tài liệu về chủ đề chính trị và các chủ nghĩa khác nhau. Có một điều rất khó tin là, Hitler đã từng nghiên cứu rất kỹ lưỡng về chủ nghĩa Marx.

Tuy nhiên, trong tư liệu của giáo sư Phương Tân có nhấn mạnh đến một tập sách khác, gọi là tạp chí Viên ngọc Đông Phương. Đó thực ra là một tờ tạp chí do một vị giáo đồ Thiên Chúa giáo La Mã biên soạn, nội dung chủ đạo là những sự việc ly kỳ và huyền ảo, đầy rẫy màu sắc văn hóa tính dục và chủ nghĩa chủng tộc, và chỉ được phát hành hạn chế ở vài khu vực trong nước Áo, nhưng lại khơi gợi được hứng thú mạnh mẽ từ rất nhiều thanh niên trẻ tuổi mà Hitler chính là một trong số đó. Y không thể nào dứt khỏi những cuốn tạp chí này, mỗi kỳ đều phải mua cho bằng được, có thể xếp vào hạng fan cuồng. Trong cuốn tạp chí này, có rất nhiều thông tin nhắc đến người Aryan thuần chủng tóc vàng mắt xanh, cho họ là giống người cao quý nhất, đồng thời phản đối “giao tạp với những dân tộc thấp kém”, đặc biệt là người Do Thái, bởiđó là một dân tộc “trụy lạc tột cùng”. Ngoài ra, trong các kỳ tạp chí còn góp nhặt đủ kiểu sự kiện linh dị kỳ quái và sức mạnh thần bí trên khắp thế giới, cùng với đó là những câu chuyện mang tính chất truyền kỳ của các nhà thám hiểm và nhà khảo cổ, đối với các loại pháp thuật phù thủy và siêu năng lực cũng có những giải thích thoạt nhìn có vẻ khá là tường tận. Giáo sư Phương Tân đã bình luận rằng: “Đây vốn chỉ là trò bịp tạo ra để thu hút độc giả, nhưng Hitler lại cực kỳ tin tưởng, đồng thời bắt đầu ảo tưởng rằng mình sở hữu huyết thống thuần chủng của người Aryan và đủ các loại siêu nănglực mà người thường không thể nào tưởng tượng nổi. Về sau, trong Thế chiến I, hạ sĩ Hitler nhận nhiệm vụ sĩ quan truyền lệnh, đã có mấy lần hút chết mà vẫn thoát được, vậy là y lại càng tin vào thân phận của mình hơn. Y nhận định bản thân là “người được Chúa trời trao cho nhiệm vụ lớn”, bản thân chỉ đang chờ đợi “một thời cơ đến” mà thôi.

Ảnh hưởng của tạp chí Viên ngọc Đông Phương đối với tư tưởng của Hitler vượt xa bất cứ sách vở tài liệu nào khác. Trong mấy năm sau đó, dưới ảnh hưởng của cuốn tạp chí này, Hitler đã dần hình thành nên thế giới quan chính trị của mình, mà theo giáo sư Phương Tân, thì cuốn tạp chí này chính là “ngọn nguồn tư tưởng điên loạn của Hitler” về sau. Trác Mộc Cường Ba lập tức băn khoăn, không hiểu trong cuốn tạp chí đó có nhắc tới Morton Stanley hay chuyện gì liên quan tới Bạc Ba La thần miếu hay không. Giáo sư Phương Tân trả lời gã rằng, họ từng cố kiếm lại những số tạp chí ấy, nhưng quy mô phát hành tạp chí vào thời ấy cũng không lớn lắm, nên cuối cùng chỉ tìm được một số duy nhất trong Thư viện Anh quốc. Trong số tạp chí ấy, có nhắc đến lá cờ chữ Vạn, nhắc đến văn tự cổ và sức mạnh thần bí ẩn chứa trong nó, nhưng cũng không loại trừ các số tạp chí khác đã từng góp nhặt những chuyện thâm cung bí sử của Morton Stanley. Bởi vì cuốn tạp chí tên gọi Viên ngọc Phương Đông này, chủ yếu là thu thập các sự kiện thần bí và cổ xưa ở phương Đông, đặc biệt tập trung vào lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ. Trong số tạp chí mà giáo sư Phương Tân tìm thấy, có đăng tải một đoạn trích trong Du ký của Marco Polo nữa.

Trong các tài liệu lịch sử còn đề cập đến bước ngoặt thứ hai trong cuộc đời Hitler. Sau khi nước Đức thất bại trong Thế chiến I, làn sóng của cuộc cách mạng tháng Mười lan khắp nước Đức. Ở Munich đã thành lập “Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Bavaria”. Sang năm sau, một hội đồng điều tra được thành lập để tra xét chính quyền Xô viết ngắn ngủi xuất hiện ở Munich do kẻ nào cầm đầu. Chính vì chuyện này mà Hitler được chính phủ Đức coi trọng. Năm 1919, sau khi chính phủ Đức bị ép phải ký điều ướcVersailles, bị yêu cầu chỉ được giữ lại một trăm nghìn người trong quân đội. Để đảm bảo sự trung thành của cánh quân còn sót lại này, chính phủ Đức đã không thể không thành lập một hội đồng giám sát, phụ trách điều tra những hoạt động chính trị lật đổ có thể xuất hiện trong quân đội và cộng đồng công nhân. Hitler trở thành thành viên của hội đồng này. Thành viên trong hội đồng giám sát được huấn luyện đặc biệt, sau đó bí mật phái đến “trinh sát” các đoàn thể xã hội khác nhau. Vậy là Hitler có cơ hội ngấm ngầm tiếp xúc bí mật với các thế lực và các nguồn tư tưởng khác nhau, trong đó có tổ chức cực đoan nổi tiếng nhất thời kỳ này – tổ chức “Cực Bắc”.

Sau khi Thế chiến I kết thúc, nước Đức chìm vào khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội. Trong tình hình này, một bộ phận binh sĩ giải ngũ và thanh niên nước Đức vẫn nung nấu phẫn nộ và cảm thấy xấu hổ nhục nhã vì nước Đức đã thất bại, do đó mà có vô số các thế lực cực đoan nổi lên như nấm mọc sau mưa. Những kẻ này rêu rao khắp nơi về năng lực siêu tự nhiên, bày tỏ mong muốn phục hưng ý chí đế quốc của nước Đức và dân tộc Aryan. “Cực Bắc” nằm trong vài tổ chức có ảnh hưởng lớn nhất thời bấy giờ.

Các tín đồ của “Cực Bắc” tuyên bố “Cực Bắc” là một vùng đất băng tuyết bao phủ, ở đó có một quốc gia, ở đó, vẫn còn người Aryan thuần chủng sinh sống, bọn họ có sức mạnh siêu tự nhiên, nhưng vì một tai họa mà đã hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới, bởi thế trong suốt một thời gian dài không được ai biết đến. Tương truyền, những người này ẩn náu ở một khu vực thần bí ngầm dưới lòng đất, chỉ có một con đường bí mật nối thông lên mặt đất. Muốn đi tới đó, phải vượt qua sông băng ngàn năm, đi vào một đường hầm tối tăm… Hitler cực kỳ tin vào quan điểm này, y đã lợi dụng thân phận đặc biệt của mình để tham dự các hoạt động của tổ chức “Cực Bắc”, đồng thời đã mấy lần lên diễn thuyết…

Giáo sư Phương Tân đã phân tích bên lề như sau: “Luận thuyết người Aryan là chủng người siêu đẳng mà tổ chức ‘Cực Bắc’ đưa ra có ảnh hưởng rất lớn đối với Hitler và những thanh niên Đức cùng thời với y, và càng củng cố thêm niềm tin của Hitler đối với chủng người Aryan siêu việt…” “Vị trí địa lý được miêu tả trong luận thuyết của ‘Cực Bắc’ trùng khớp với Tây Tạng, có lẽ đã làm nền tảng để sau này Hitler mấy lần phái đội thám hiểm tới đất Tạng…” “Có lẽ đây chính là nguyên hình câu chuyện người Aryan là hậu duệ của Thần tộc Atlantis mà Hitler và Heinrich Himmler tạo ra…“Phần cuối tư liệu có một đoạn miêu tả của Platon về truyền thuyết Atlantis. Năm 580 trước Công nguyên, vĩ nhân Athen cổ đại Solon[4], sau khi chế định cho thành Athen một bộ pháp điển vĩ đại, đã đến thủ đô Ai Cập cổ Sais, giao lưu với các vị học giả và hiền triết. Ở đó, Solon đã hội kiến với Hippo. Hippo cho Solon xem các chứng cứ về Thần tộc Atlantis, vậy là Solon đã đem câu chuyện này truyền cho các đời sau và sau nữa, cuối cùng truyền đến Platon. Platon liền viết câu chuyện truyền kỳ liên quan tới Atlantis này ra, và được mọi người truyền tụng rộng rãi. Trong câu chuyện đó, Atlantis là một đảo quốc, tọa lạc trên cây trụ Hercules, bên ngoài là biển Tây Hải sóng lớn cuộn trời, cũng chính là phía Tây eo biển Gibraltar[5] ngày nay, nằm giữa Đại Tây Dương mênh mông, diện tích khoảng 207.2 vạn mét vuông. Nơi đó khí hậu ôn hòa, sản vật phong phú, khoa học kỹ thuật rất phát triển. Cách đây khoảng mười nghìn năm, cổ nhân đã xây dựng vương quốc Atlantis ở trên đảo, xã hội ở đó gần như không tưởng, thành trì hùng vĩ tráng lệ, cung điện hoa lệ cao lớn và các miếu đền đều dùng vàng, bạc, đồng và ngà voi để xây dựng, trên đảo còn có hệ thống kênh dẫn nước đi khắp mọi nơi, những cây cầu hoàn mỹ, bến cảng ngày đêm nhộn nhịp, người ở đó ai ai cũng được an cư lạc nghiệp, sản vật phong phú đến độ dùng mãi không thể nào hết. Mặc dù trên đảo có mười hai quốc gia, nhưng cả mười hai quốc gia này đều dùng chung một bộ pháp điển, có mười hai vị quốc vương, nhưng tất cả đều một lòng thờ Hải thần công chính và thánh minh làm chúa tể trên đảo. Chỉ đáng tiếc, ngày vui ngắn chẳng tày gang, cuộc sống của người dân trên đảo Atlantis mỗi lúc một hủ bại trụy lạc, cuối cùng đã làm Hải thần nổi trận lôi đình, khiến cho toàn bộ đảo quốc xinh đẹp giàu có, và sở hữu nền văn minh phát triển cao độ thời tiền sử này chìm xuống đáy biển sâu chỉ trong một đêm.

Atlantis có tồn tại thực hay không, từ khi Platon viết ra truyền thuyết này, hậu thế vẫn không ngừng tranh luận suốt hơn hai nghìn năm, cho đến nay vẫn còn một số ít các học giả đang tìm kiếm vị trí chính xác của đảo Atlantis, và cũng đã tìm được rất nhiều chứng cứ thuyết phục. Đến khoảng giữa thế kỷ mười chín, người được xưng tụng là “Cha đẻ của ngành Atlantis học”, nhà khảo cổ người Mỹ Ignatius Donnelly còn đề ra mười ba nguyên tắc liên quan tới đại lục Atlantis. Trong đó có nói rằng Vườn Eden được miêu tả trong Sáng Thế Ký chính là chỉ đại lục Atlantis; trong thần thoại Ai Cập và Maya, có những vết tích sùng bái thần Mặt trời của người Atlantis; các kỹ thuật khoa học cổ xưa nhất của châu Âu, chẳng hạn như thuật chế luyện đồng, cũng bắt nguồn từ Atlantis; nguyên hình của rất nhiều mẫu tự trong văn tự châu Âu, cũng bắt nguồn từ Atlantis; người Atlantis là tổ tiên của người Ấn Độ, người Semites[6], và các dân tộc ở châu Âu; hơn mười nghìn năm trước, vì một biến động lớn mà Atlantis chìm sâu xuống đáy biển, nhưng vẫn có một số ít cư dân đã lên thuyền thoát đi được, và để lại truyền thuyết về Đại Hồng Thủy từ thời Thượng cổ.

Về sau, chính Himmler, trợ thủ từng được Hitler tín nhiệm nhất, thủ lĩnh lực lượng SS, đã lựa ý hùa theo cấp trên của y mà cải biên thành câu chuyện về người Aryan. Trong câu chuyện này, vị trí và môi trường của Atlantis không thay đổi, có điều, người Atlantis mà Platon nhắc đến, đã bị Himmler khẳng định chính là tổ tiên của người Aryan, và y gọi họ bằng cái tên Thần tộc Aryan. Những người thuộc bộ tộc thần thánh này đều cao trên ba mét, tóc màu vàng kim, mắt xanh thẫm màu nước biển, da trắng nõn, sống mũi cao, khuôn mặt thon dài, phản ứng cực kỳ nhanh nhẹn, sức mạnh vô cùng, đao kiếm súng đạn đều không thể gây thương tổn, lại còn sở hữu những siêu năng lực kiểu như có thể dùng ý niệm điều khiển đồ vật. Trong câu chuyện của Himmler, vì đại lục Atlantis bị chìm xuống biển sâu, nên Thần tộc Aryan đã buộc phải rời bỏ đất tổ, đồng thời phân thành hai nhánh, một nhánh lên bờ ở vùng gần biển Ấn Độ, nhánh còn lại lên bờ ở Caucasus[7], trở thành tổ tiên của người Aryan ngày nay. Himmler cho rằng, vì số lượng người thuộc Thần tộc Aryan thoát khỏi thảm họa rất ít ỏi, để có thể tiếp tục sinh sôi nảy nở, họ không thể không tạp giao với các dân tộc tầm thường thấp kém khác, để rồi cuối cùng mất đi sức mạnh thần thánh. Vì vậy, y chỉ ra rằng, chỉ cần những người Aryan thuần chủng giao phối với nhau, trải qua nhiều đời nỗ lực, ắt sẽ có thể khôi phục được sức mạnh xưa kia, và tạo ra một đội quân Aryan vô địch.

Ngoài ra, trong câu chuyện của mình, Himmler còn nói rõ rằng, những người thuộc Thần tộc Aryan lên bờ ở gần vùng biển Ấn Độ, cuối cùng đã dừng chân ở khu vực nằm giữa Tây Tạng và Ấn Độ ngày nay, cũng chính là dãy núi Himalaya và vùng phụ cận, đồng thời giải thích, vì đã trải qua một lần bị nhấn chìm cả hòn đảo, nên để đề phòng sự kiện ấy tái diễn, họ lựa chọn cao nguyên cao nhất thế giới làm quê hương mới cho mình. Ngoài ra, Himmler còn nói, vùng đất cực Bắc từng náo động một thời, chính là dãy núi Himalaya ngày nay, y lại nói, vùng cực Bắc thực ra không phải chỉ vùng đất cực địa ở phương Bắc, mà là chỉ một nơi cực lạnh, bị băng che tuyết phủ.

Cuối cùng, giáo sư Phương Tân nói: “Dựa trên các luận điệu của tạp chí Viên ngọc Đông Phương và câu chuyện của Himmler, năm 1938, Hitler mới đồng ý để Himmler cử đội khảo sát đến Tây Tạng, tìm kiếm tổ tiên của người Aryan.” Ngoài ra, giáo sư nêu rất nhiều nghi vấn, chẳng hạn như “trình độ văn học của Himmler không hề cao, nhưng câu chuyện về người Aryan và Tây Tạng cùng với những luận điệu đang thịnh hành ở nước Đức thời bấy giờ lại nối tiếp trước sau, logic cực kỳ rõ ràng, khiến những người không hiểu chân tướng sự việc rất dễ nảy sinh cảm giác thừa nhận đây là một luận điểm đúng. Nhưng thứ luận thuyết này là do ai sáng tác ra? Hoặc, tài liệu về “tính xác thực của các tư liệu ghi lại sự kiện quân Đức hai lần tiến vào Tây Tạng” lại có chú thích bên lề như sau: “Sau chiến tranh, tài liệu của quân Đức do hai nước Liên Xô và Mỹ chia nhau bảo quản, một số tài liệu bí mật phải chờ đến năm 2045 mới được giải mật, hoặc sẽ giữ bí mật mãi mãi. Theo thông tin chính thức thì hầu hết các tài liệu quân Đức vơ vét được trong lần đầu tiên đến Tây Tạng đều đã bị hủy hoại trong một trận hỏa hoạn lớn vào năm 1945, về tính chân thực của sự việc này, cần phải đợi điều tra lại.”

Giới thiệu về Hitler xong, phần tài liệu tiếp theo lại nhắc đến các quan chức cấp cao khác của Đức Quốc xã, như Himmler và Hermann Gôring. Đám này tất cả đều tin vào sức mạnh siêu tự nhiên. Himmler thì nhiệt thành say mê với các loại thực nghiệm ma pháp huyền bí, còn Hermann Gôring thì là một kẻ si mê thuật chiêm tinh đến phát cuồng. Trác Mộc Cường Ba đọc mà thấy tức cười, thật không ngờ cả cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ hai lại do những kẻ như vậy gây ra. Có lẽ đây chính là cái mà người ta gọi là “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” vậy.

Ba ngày sau, Trác Mộc Cường Ba vẫn chưa thể nhấc nổi người đứng dậy. Nhìn một đống tài liệu mà giáo sư Phương Tân gửi cho, gã thầm nghĩ đây là thành quả mấy tháng trời vất vả của ông, còn bản thân gã thì mấy tháng nay đã làm được những gì chứ? Nghĩ tới đây, gã không khỏi cảm thấy có chút áy náy không yên. Mẫn Mẫn ngồi ở đầu giường quan sát, lẽ nào lại không nhận ra được tâm trạng của Trác Mộc Cường Ba, liền dịu dàng nồng nàn áp đầu gã vào ngực mình, nhẹ nhàng nói: “Sao vậy, vẫn đang nghĩ đến những chuyện không vui kia à?”

Trác Mộc Cường Ba cười khổ đáp: “Nói ra thì thật hổ thẹn, anh còn chẳng bằng em, khi mọi người vẫn chưa bỏ cuộc, anh lại đã nảy ý dứt áo ra đi, anh…”

Đường Mẫn đè ngón tay lên môi Trác Mộc Cường Ba, khẽ thì thào: “Không, trong mắt em, anh là người đàn ông kiên cường nhất, tất cả chỉ tại em quá bừa bãi, tùy tiện, khi anh cần giúp đỡ nhất em lại không ở bên cạnh. Em vẫn không sao tưởng tượng nổi, anh đã làm thế nào mà vượt qua được bao nhiêu nỗi khổ cực nhọc nhằn ấy. Đối với em, một người đàn ông bị thương chảy máu mà không kêu rên cũng chẳng đáng là gì, nhưng khi anh ta bị người khác đổ oan uổng, bị người già, đàn bà, trẻ em mắng nhiếc làm nhục, thậm chí là hiếp đáp, bắt nạt, mà vẫn lặng lẽ chịu đựng, gánh vác trách nhiệm vốn không thuộc về mình, đó mới thực sự là tinh thần kiên nhẫn bất khuất, đó mới thực sự là anh, mới thực sự là TrácMộc Cường Ba. Cũng may, những chuyện ấy đều đã qua rồi…” Cô nhìn thẳng vào đôi mắt đã trải nhiều bể dâu của Trác Mộc Cường Ba, ôm chặt lấy cổ gã, khẽ nói: “Kể cho anh nghe một câu chuyện nhé.”

“Ừm?” Trác Mộc Cường Ba áp mặt vào bầu ngực mềm mại của Đường Mẫn, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác an toàn xưa nay chưa từng có, tựa như trở lại thuở ấu thơ vậy.

Đường Mẫn nói: “Anh có biết lũ ong bắp cày không? Thể hình của chúng lớn hơn ong mật nhiều, nhưng đôi cánh của chúng lại rất nhỏ, hơn nữa tỉ lệ giữa ngực và bụng không được cân đối lắm. Dựa trên nghiên cứu phân tích của các nhà khoa học, dù đưa ra giả thuyết và thí nghiệm thế nào, những con ong bắp cày ấy cũng không thể nào bay lên được. Nhưng trên thực tế, ong bắp cày lại có thể bay lượn rất ổn định. Đối với hiện tượng không thể giải thích này, các nhà khoa học đều hết sức bất lực, cuối cùng chỉ có thể trả lời rằng, đó là bởi chúng muốn bay, vì vậy, chúng đã bay được.”

Giọng nói trong trẻo ngọt ngào của Đường Mẫn, tựa như người mẹ hàng đêm ngồi ở đầu giường kể chuyện cho con trẻ đi ngủ, Trác Mộc Cường Ba bất giác nhoẻn cười, chút buồn bực còn lại trong lòng cuối cùng cũng tan biến như mây khói, tâm trạng tựa như vạt nắng ngoài cửa sổ, chiếu xuyên qua tầng mây xuống mặt đất. “Câu chuyện của em rất giống với một câu ngạn ngữ ở quê anh.” Trác Mộc Cường Ba nói: “Ở quê anh, người ta nói, con chim ưng bay cao nhất, không phải dựa vào đôi cánh, mà là nhờ vào ý chí của nó. Cám ơn em, thế mà từ trước đến nay anh vẫn không biết, thì ra Mẫn Mẫn của anh còn biết kể chuyện nữa cơ đấy.”

Ánh mắt Đường Mẫn bỗng trở nên ảm đạm, lẩm bẩm nói: “Đây là câu chuyện hồi trước anh trai em kể.” Trái tim Trác Mộc Cường Ba cũng trĩu xuống, đang định nói mấy câu an ủi cô, Mẫn Mẫn đã đột nhiên nói: “Ối! Em phải đi lấy thuốc cho anh, ngoan ngoãn ở đây đi nhé.”

Mẫn Mẫn vừa ra cửa, phòng bệnh liền xuất hiện một vị khách không mời, dáng người lùn mập, bộ mặt tròn phây phây toe toét cười, tay xách một giỏ hoa quả. Trác Mộc Cường Ba tưởng hắn ta vào nhầm phòng.

Không ngờ, tên béo đó lập tức nói: “Trác Mộc Cường Ba tiên sinh, chào ông, không biết ông còn nhớ tôi không? Một tháng trước, chúng ta đã gặp mặt một lần, lúc đó là tôi không đúng, tôi không biết cảnh ngộ của ông lại khiến người ta thương cảm đến thế. Ôi, cũng chỉ tại tôi làm việc lỗ mãng quá, ai lại đi tìm ông vào thời điểm như thế kia chứ, chẳng trách ông đối xử với tôi như thế.”

Trác Mộc Cường Ba nghe người mới đến tự giới thiệu tên tuổi, rồi lại lẩm bẩm như đang tự nói một mình, mãi vẫn không sao nhớ ra nổi gã béo ục ịch này là ai. Y cứ thế đi thẳng đến bên giường bệnh, thái độ như thể một người bạn thân thiết của gã, rồi bắt đầu bày biện hoa quả lên bàn, lại nói: “Thực ra, Trác Mộc Cường Ba tiên sinh cũng không cần chán nản, chỉ cần tìm được Bạc Ba La thần miếu, ông sợ gì không có vốn liếng…”

Y vừa nói tới Bạc Ba La thần miếu, Trác Mộc Cường Ba lập tức nhớ ngay. Chính vào lúc gã đang đau khổ nhất, tên béo này đã đến đòi nói chuyện thần miếu thế nọ thế kia với gã, đã bị gã đuổi thẳng cửa ngay, không ngờ bây giờ lại tìm đến nữa. Trác Mộc Cường Ba bực tức nói: “Tôi đã bảo rồi, tôi chẳng biết thần miếu thần miếc gì cả, anh hà tất cứ phải bám lẵng nhẵng không chịu buông tha như thế chứ?”

Tên béo cười cười: “Trác Mộc Cường Ba tiên sinh là người hiểu chuyện, hà tất cứ phải che giấu đám dân đen chúng tôi làm gì. Tôi biết, công ty của ông đã phá sản, vì vậy mới rơi vào tình trạng cùng quẫn, một số đầu mối vốn đã tìm được cũng đứt đoạn…”

Trác Mộc Cường Ba nhíu mày, đang định đuổi khách thì tên béo đã lại cười giả lả, nói: “Trác Mộc Cường Ba tiên sinh, ông chớ vội khó chịu như vậy, để tôi cho ông xem một số thứ, xem xong, tôi sẽ cho ông biết thêm một số sự việc nữa, đến lúc ấy, nói không chừng Trác Mộc Cường Ba tiên sinh sẽ thay đổi cách nhìn đối với chúng tôi cũng nên.”

Vị khách bất ngờ

Tên béo lấy trong giỏ hoa quả ra một cái máy to cỡ chiếc máy ảnh, kéo rèm cửa sổ xuống, hướng cái máy về phía tường và bật lên, hóa ra là một chiếc máy chiếu mini, trên tường nhanh chóng xuất hiện bức ảnh đầu tiên. Đó là một món trang sức đeo cổ, dùng sợi bạc tơ vàng dệt thành, khảm rất nhiều bảo thạch, ánh sáng lấp lánh, hoa lệ mà tôn quý. Từ hình thức và hoa văn trang trí, Trác Mộc Cường Ba vừa thoạt nhìn đã nhận ra ngay là một món trang sức đậm màu sắc dân tộc Tạng, chỉ các phụ nữ quý tộc mới được đeo, tiếng Tạng gọi là Cách Kim. Tên béo bắt đầu giới thiệu nội dung bức ảnh: “Thứ này tổng cộng nặng một nghìn sáu trăm bốn mươi sáu gram, khảm tất cả một trăm linh tám viên phỉ thúy hàng cựcphẩm, hai mươi tám viên kim cương xanh, trung bình từ tám cara trở lên. Theo nghiên cứu của các chuyên gia, đây có lẽ là tác phẩm nghệ thuật thuộc về hoàng gia Tây Tạng vào khoảng những năm 800 sau Công nguyên. Năm 2000, món trang sức này đã được mua với giá 200 triệu đô la Mỹ ở sàn đấu giá ngầmDetroit.”

Bức ảnh thứ hai, là một cây quyền trượng màu vàng kim, chạm khắc chi chít những hình tiểu quỷ. Đáng kinh ngạc nhất, là đoạn trên cùng có gắn một viên bảo thạch đỏ như lửa, phải to bằng quả trứng gà. Cơ mặt tên béo hơi giật giật, hắn kích động nói: “Cây Phục ma quyền trượng này tổng cộng có bảy đốt, thân trượng được đúc bằng Tử kim, bên trong có lỗ rỗng, khi có chùm ánh sáng chiếu vào phần dưới, viên hồng bảo thạch trên đầu trượng sẽ hiện lên các hình vẽ tả cảnh tận thế, bảo thạch sáng rực đã thuộc hàng quý hiếm rồi, nhưng sự tinh xảo trong cấu tạo, sự tinh tế của người nghệ nhân mới khiến cho người ta phải thán phục không thôi. Năm 1993, đã có người mua nó với giá 130 triệu đô la Mỹ ở sàn đấu giá ngầm Tokyo.”

Bức ảnh thứ ba, là tượng kim thân của một vị nữ Phật, tên béo nói: “Đây là tượng Indr trong Thất Mẫu Thiên[8], ngồi xếp bằng trên đài sen, tay trái nắm lại, dựng ngón cái lên, tạo thành Chùy ấn, toàn bộ cao năm mươi sáu xăng ti mét, trọng lượng hai mươi tám ki lô gam, viên bảo thạch trên trán, được giám định là ruby ‘máu bồ câu’ cực kỳ quý hiếm, trọng lượng lên đến 15 cara. Thần kỳ nhất là, cho đến nay vẫn chưa thể tìm ra được một vết rạn trên đó, năm 1996, đã bán ra với giá 207 triệu 630 nghìn đô la Mỹ ở sàn đấu giá ngầm California.”

Những bức ảnh các tác phẩm nghệ thuật cực kỳ tinh xảo, và hoa lệ lần lượt xuất hiện trước mắt Trác Mộc Cường Ba, mỗi món đều khiến người ta phải thốt lên kinh ngạc. Nhìn cấu tạo và hình dáng của những bảo vật ấy, Trác Mộc Cường Ba biếtđây đều là vật báu của Tây Tạng, chỉ có điều gã vẫn chưa biết tên béo này cho mình xem những thứ ấy với ý đồ gì. Sau khi chiếu một lượt hai mươi mốt bức ảnh, tên béo mới dừng lại, quan sát xem cặp mắt Trác Mộc Cường Ba có sáng lên hay không.

Trác Mộc Cường Ba vẫn hờ hững chẳng tỏ thái độ gì, hỏi: “Tôi thừa nhận, đây đều là những món báu vật thuộc hàng cực phẩm, nhưng, anh cho tôi xem mấy thứ này là có ý đồ gì vậy?”

Tên béo cười toe toét nói: “Tôi tin rằng Trác Mộc Cường Ba tiên sinh đây hẳn phải có ấn tượng sâu sắc với cái tên Morton Stanley. Những món châu báu này, chính là do nhà thám hiểm vĩ đại nhất giai đoạn cuối thế kỷ mười tám, đầu thế kỷ mười chín, Morton Stanley phát hiện ra ở Tây Tạng. Những thứ hôm nay tôi giới thiệu với ông, chỉ là một phần nhỏ có tính chất đại diện, còn một số lượng lớn các báu vật khác vẫn chưa xuất hiện, được rất nhiều nhà sưu tầm lớn trên thế giới coi là báu vật tuyệt thế mà cất giấu vô cùng cẩn thận. Phải biết rằng, số báu vật mà ngài Morton Stanley phát hiện được ở Tây Tạng hồi đó, đã phải dùng đơn vị tấn để tính toán. Khi ấy, ông ta từng nói một câu hùng hồn rằng, số châu báu ông ta tìm thấy đó, đủ để mua cả đế quốc Anh! Xin nhớ cho, tuy rằng hồi đó đã có rất nhiều thuộc địa giành được độc lập, nhưng đế quốc Anh mà ngài Morton Stanley đó nói, là chỉ cả đế quốc Anh mà mặt trời không bao giờ lặn trên đó, bao gồm cả các thuộc địa như Mỹ, và Australia!”

Trác Mộc Cường Ba nhìn vẻ mặt sục sôi của tên béo, lòng đau như có dao cắt. Những thứ này, vốn đều thuộc về Tây Tạng, thuộc về Trung Quốc, tên béo này là người Trung Quốc, vậy mà lại cảm thấy kích động sung sướng khi người ta lấy đi bảo vật của đất nước mình như thế này ư?

Tên béo lại nhấn giọng nói: “Đồng thời, ngài Morton Stanley còn đầy tiếc nuối nói rằng, những thứ ông ta tìm ra được đó, chỉ là hạt cát trên bãi biển, còn viên ngọc thực sự thì ông ta vẫn chưa tìm ra được, ông ta vẫn còn thiếu một chút nữa, chỉ thiếu một chút đầu mối nữa mà thôi! Tất cả những gì ông thấy ngày hôm nay, đều chỉ là cỏ rác, còn thứ mà chúng tôi muốn tìm kiếm, là viên ngọc thực sự kia! Là viên ngọc cơ, Trác Mộc Cường Ba tiên sinh ạ!”

Trác Mộc Cường Ba quyết định sẽ cự tuyệt bất cứ lời thỉnh cầu nào của tên béo này, chỉ vì gương mặt nanh ác đã kích động quá độ mà biến dạng kia, và cả đôi mắt đỏ rực ngọn lửa tham lam ấy nữa. Trác Mộc Cường Ba cố ra vẻ kích động, kêu lên: “Thật sao? Các vị muốn tìm những báu vật còn quý giá hơn cả những món này hay sao? Tôi thật ngưỡng mộ quá! Vậy, chắc là các vị đã có đầu mối rồi? Có thể cho tôi biết chút gì đó được không? Nếu không quá khó khăn, tôi cũng muốn đi theo các vị đó!”

Tên béo cười nhạt, như thể đang muốn nói, rằng kỹ thuật diễn xuất của Trác Mộc Cường Ba quá vụng về kém cỏi. Y đảo tròng mắt: “Đương nhiên, nếu Trác Mộc Cường Ba tiên sinh đây chịu hợp tác, chúng tôi có thể cung cấp cho ông rất nhiều đầu mối. Trước tiên, mời ông xem thứ này đã…” Nói đoạn, y ấn một nút trên cái máy. Trác Mộc Cường Ba mặc dù đã cố gắng trấn tĩnh, nhưng cũng không sao ghìm nổi, phải ngồi bật dậy, cánh tay khẽ run lên.

Tấm ảnh đó, không phải gì khác, chính là bản đồ chỉ đường đến Bạc Ba La thần miếu mà bọn gã đã tốn không biết bao nhiêu sức lực, mồ hôi và cả máu mới tìm được trong Đảo Huyền Không tự. Thoạt nhìn chất liệu có vẻ không giống nhau, nhưng nội dung tấm bản đồ thì gần như là hoàn toàn trùng khớp. Trác Mộc Cường Ba lập tức hiểu ra, đó là một tấm bản đồ phục chế, cũng có nghĩa là, bản đồ bọn gã phát hiện trong Đảo Huyền Không tự, đích xác chính là tấm bản đồ năm xưa Morton Stanley đã mang đi khỏi mật thất Cổ Cách. Merkin đã cố ý khiến bọn gã tự đạp chân vào bẫy… bản đồ giả!

Tên béo nở một nụ cười, tỏ ý tất cả đều nằm trong dự đoán của ta rồi, thân thiết nói: “Xem ra, Trác Mộc Cường Ba có vẻ rất kinh ngạc khi thấy tấm bản đồ này thì phải. Tôi biết, khoảng thời gian trước, các vị vừa mới đến đại tuyết sơn, chính là lần theo đầu mối của tấm bản đồ này đúng không? Năm đó, ngài Morton Stanley cũng đi theo tấm bản đồ này, không may đã mất mạng trên núi tuyết. Về sau, có vô số đoàn thám hiểm bí mật lên ngọn núi đó, cũng đều đã không còn mạng mà trở về nữa. Có lẽ, đối với chính phủ Trung Quốc chúng ta, đây là lần đầu tiên tấm bản đồ này xuất hiện. Nhưng trên thực tế, trong một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài, tấm bản đồ này đã không còn là bí mật trọng đại gì nữa rồi, ít nhất cho đến nay cũng phải có tới bảy tám tấm bản đồ phục chế lưu lạc trong tay các nhóm mạo hiểm khác nhau. Chỉ có điều, từ sau Đại chiến thế giới thứ hai, chưa ai nhìn thấy bản đồ gốc cả, vì vậy cũng không ai có thể phán đoán được tính chân thực của nó. Chắc rằng Trác Mộc Cường Ba cũng bị tấm bản đồ này đánh lừa, nên mới dẫn đến lần thất bại lớn vừa qua phải không?”

Tên béo này nắm hành tung của bọn gã quá rõ, Trác Mộc Cường Ba không thể không cẩn thận thăm dò: “Rốt cuộc các người là ai vậy?”

Tên béo đó đắc ý cười cười nói: “Cuối cùng cũng hỏi vào chủ đề chính rồi. Thực không dám giấu, tôi chỉ là một tên chạy vặt đưa tin, tổ chức mà tôi làm đại diện đây, tuyệt đối có thực lực hợp tác với các vị. Chúng tôi nắm giữ một lượng lớn thông tin liên quan đến Bạc Ba La thần miếu, bao gồm cả một số thư tín của ngài Morton Stanley, bản ghi chép hồi ức của bạn bè ông ta, còn có cả hướng đi của một số món báu vật do ông ta mang về nước Anh, hướng đi của bản đồ và quá trình nó bị phục chế sau Thế chiến II, những bí mật nội bộ đã được sửa chữa… Tất cả những điều đó, chúng tôi đều có những hiểu biếtnhất định. Tôi có thể nói với ông như vậy, trong bảy mươi ba tổ chức lớn đang tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu trên toàn thế giới, thực lực của chúng tôi, có thể xếp vào hàng Top 10 đó.”

Trác Mộc Cường Ba lại một lần nữa bị lời nói của y làm chấn động, không khác nào một đứa trẻ sơ sinh lần đầu tiên phát hiện ra diện mạo thực sự của thế giới này. Toàn thế giới, không ngờ lại có đến bảy mươi ba tổ chức lớn đi tìm Bạc Ba La thần miếu, vậy thì các tổ chức nhỏ há chẳng phải là không thể nào đếm hết hay sao? Chẳng những vậy, người ta lại còn đưa ra cả bảng xếp hạng nữa. Trác Mộc Cường Ba chỉ cảm thấy bọn gã thực ra không hề hiểu Bạc Ba La thần miếu như bọn gã đã lầm tưởng, thậm chí không thể được coi là lính mới trong hàng ngũ những kẻ tìm kiếm vùng đất thần bí này nữa. Về các tổ chức đang tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu trên toàn thế giới và thực lực của họ, gã tuyệt nhiên không hay biết một chút nào!

Tên béo mân mê cằm, nói tiếp: “Thế nào hả, Trác Mộc Cường Ba tiên sinh, từ những tài liệu hôm nay tôi mang đến giới thiệu với ông, chắc ông đã biết, tôi không hề gạt ông. Chúng tôi biết, ông đã đến một số nơi, đó là những nơi chúng tôi vẫn chưa tìm ra được, chỉ cần ông chịu giao ra tài liệu về những nơi ấy để chia sẻ với mọi người, nói không chừng, chúng ta sẽ nhanh chóng tìm được Bạc Ba La thần miếu, lúc đó thì…”

Gương mặt phì nộn của tên béo sáng bừng lên, dường như đã nhìn thấy một kho báu khổng lồ không đếm xuể. Bộ dạng ngây ngất say đắm như người đang vào trạng thái cao trào cực khoái ấy khiến Trác Mộc Cường Ba muốn nôn mửa, nhưng gã cần phải biết nhiều hơn nữa, bèn ngắt lời tên béo, hỏi: “Tôi không hiểu, tại sao các vị lại tìm đến tôi? Các vị nghe được những thông tin sai sự thật đó ở đâu ra vậy?”

Tên béo nói: “Trác Mộc Cường Ba tiên sinh, ông không cần tự ngụy trang mình trước mặt tôi làm gì, nguồn thông tin của chúng tôi là cực kỳ đáng tin cậy. Còn về tại sao lại tìm ông ư, đó là bởi… ông là người Trung Quốc đầu tiên không dùng thân phận cán bộ nhà nước đi tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu! Tổ chức mà tôi làm đại diện không có hy vọng hợp tác được với chính phủ Trung Quốc, nhưng ông thì khác, ông là người tự do. Hơn nữa, trước đó, ông từng tham gia vào tổ chức tìm kiếm của chính phủ trong một thời gian dài. Thông tin về nơi các vị đã tới ấy, chắc hẳn là có thể giúp rất nhiều cho tất cả các tổ chức đang tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu, hơn nữa, tôi được biết những nơi ấy hình như đã không còn tồn tại nữa. Vậy không tìm ông thì chúng tôi biết tìm ai bây giờ? Hơn nữa, với điều kiện trước mắt của Trác Mộc Cường Ba tiên sinh, ông cũng cần tìm người hợp tác. Ông không có tiền, cũng không có tài trợ, cả sức người sức của đều không, mà những thứ này, chúng tôi đều có thể cung cấp đầy đủ chu toàn, chỉ cần ông đổi lại bằng những điều ông nghe được, thấy được trong hành trình của mình mà thôi. Thậm chí, ông có thể không cần đi đến nơi đó cũng được, kho báu tìm được sẽ chia cho ông theo tỉ lệ bảy ba. Ba phần mười kho báu trong Bạc Ba La thần miếu đó! Đó là một tài sản tiêu cả mười đời, hay thậm chí là trăm đời cũng không hết đó!”

Trác Mộc Cường Ba đã chẳng còn tâm tư đâu mà khó chịu với tên béo này nữa rồi, gã chỉ đang suy nghĩ, những thế lực nước ngoài này hình như đã vượt xa tầm tưởng tượng của gã, rốt cuộc là tin tức lộ ra từ đâu chứ? Còn cả tên Merkin nữa, trong bảng xếp hạng các thế lực nước ngoài ấy thì hắn ở vị trí nào?

Tên béo vẫn tiếp tục khích tướng, cổ động: “Phải biết rằng, hiện nay mọi người đều cho rằng vị trí của Bạc Ba La thần miếu nằm ở khu vực giao giới vẫn chưa phân định rõ ràng là thuộc về lãnh thổ nước nào. Ở những chỗ như thế, chẳng có chính phủ nào can dự được cả, giống như vụ công ty thăm dò biển Odýsseia trục vớt được xác tàu đắm Tây Ban Nha ở vùng biển quốc tế vậy, tất cả tài sản đó đều chỉ thuộc về người phát hiện, dư luận quốc tế cũng không thể phản đối gì. Lần đó, công ty Odýsseia mới phát hiện được bấy nhiêu báu vật, còn lần này, thứ mà chúng ta phát hiện, đơn vị tính không nên dùng hàng trăm triệu đô la nữa, mà phải dùng trăm tỉ! Trăm tỉ đô la! Phải tính bằng hàng trăm tỉ đô la Mỹ đấy! Trăm tỉ! Trăm tỉ!” Tên béo nói mà nước bọt bắn tung tóe, kích động đến độ không sao kiềm chế nổi, tay chân đã hơi cogiật.

Một hồi lâu sau, y thấy Trác Mộc Cường Ba vẫn không hề có phản ứng gì, cuối cùng cũng ngừng hoa chân múa tay khoe khoang phét lác, ra vẻ rầu rầu thông cảm nói: “Tôi biết, sự việc thất bại lần này đã tác động rất lớn đến Trác Mộc Cường Ba tiên sinh. Không cần nôn nóng, chúng tôi có thể cho ông thời gian để suy nghĩ. Đây là số điện thoại của tôi, nếu ông nhớ ra hoặc nghĩ đến điều gì đó, xin hãy gọi số này. Đương nhiên, tôi hy vọng nhận được câu trả lời của ông trong thời gian ngắn nhất. Trác Mộc Cường Ba, lần này là cơ hội ngàn năm có một đó, thật hy vọng rằng ông có thể suy nghĩ cho kỹcàng!”

Trác Mộc Cường Ba vẫn đang ngây người ra, tên béo đã sắp xếp lại giỏ hoa quả, cầm một quả táo lên cắn nhồm nhoàm, vừa nhai vừa nói: “Thật đúng là, chuyện này mà phải tay tôi, thì…” Lúc này Đường Mẫn đã đi lấy thuốc trở lại, tên béo liền đứng lên nói: “Nhất định phải nghĩ cho kỹ nhé, à, phải rồi, cũng chúc cho sức khỏe ông chóng ngày hồi phục.” Đi ra tới cửa, y còn giơ tay lên làm hiệu, ý bảo nhớ gọi điện thoại cho tôi.

Đường Mẫn ngạc nhiên hỏi: “Người đó là ai thế?” Trác Mộc Cường Ba tựa như người vừa bừng tỉnh cơn mộng, thở hắt ra một hơi dài: “Hừ… sự việc… càng lúc càng trở nên phức tạp rồi!”

Gã lập tức liên lạc với giáo sư Phương Tân, thuật lại tóm tắt một lượt những gì vừa diễn ra, nhưng giáo sư Phương Tân lại không tỏ vẻ kinh ngạc cho lắm, chỉ nói: “Đúng rồi, theo tài liệu của Lữ Cánh Nam cung cấp, và những gì tôi nghe ngóng được khi liên lạc với các chuyên gia nghiên cứu Bạc Ba La thần miếu, trên toàn thế giới, rốt cuộc là có bao nhiêu tổ chức đang tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu thì nước ta cũng không rõ cho lắm, nhưng không thể nghi ngờ một sự thật rằng, số lượng những tổ chức như thế rất nhiều. Đây cũng là điều mà Lữ Cánh Nam trước nay vẫn luôn nhấn mạnh, chính là nguyên nhân chủ yếu tại sao phải giữ bí mật việc tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu của chúng ta. Lần này, bọn họ tìm đến cậu, chứng tỏ hành động của chúng ta đã bị tiết lộ rồi. Bây giờ, trước mặt chúng ta đang đặt ra hai vấn đề, thứ nhất, là phải phát hiện ra nguồn tiết lộ thông tin mật, bằng không, chúng ta sẽ không dám có hành động tiếp theo. Thứ hai, làm sao để ganh đua với các tổ chức khác cũng đang tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu. Đa số bọn họ đều là những thế lực nước ngoài, tôi thấy khả năng hợp tác là không lớn lắm. Vấn đề chính là, nếu đã có một tổ chức tìm đến cậu rồi, sau này sẽ còn nhiều hơn nữa ùn ùn không ngớt kéo đến tận cửa nhà cậu, khi ấy cậu phải ứng phó ra sao? Bây giờ thì vẫn khách khí lễ độ hòng moi thông tin từ miệng cậu, tới lúc cần thiết, nói không chừng bọn họ sẽ bất chấp thủ đoạn, không tiếc trả bất cứ giá nào mà hành động. Đối với họ, Bạc Ba La thần miếu… thật không phải chỉ là một sự quyến rũ thông thường đâu.”

Trác Mộc Cường Ba đã bắt đầu thấy đau đầu, muốn giải quyết vấn đề thứ hai này quả thực rất hao tâm tổn trí. Đường Mẫn liền thử phân tích: “Liệu có phải là từ cấp trên tiết lộ ra không?”

Giáo sư Phương Tân lắc đầu: “Không, không thể nào, công tác bảo mật của nước ta có thể nói là còn tốt hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới, nếu bọn họ có thể lấy được thông tin từ tầng lớp lãnh đạo thì đã không tìm đến chúng ta làm gì rồi.” Trác Mộc Cường Ba nói: “À, Merkin? Liệu đây có phải là một âm mưu khác của hắn không?”

Giáo sư Phương Tân nói: “Không giống cho lắm, từ mấy lần đối đầu trước cho thấy, hắn luôn náu mình trong bóng tối, dường như còn sợ bị người khác biết mình đang tìm kiếm thần miếu hơn cả chúng ta nữa. Chẳng những vậy, chỉ cần là người hơi có đầu óc một chút đều biết rằng, chuyện có đầu mối để tìm kiếm Bạc Ba La thần miếu ấy, càng nên bí mật càng tốt. Merkin không ngu xuẩn đến nỗi tự mình tuồn thông tin ra ngoài đâu. Còn nữa, tên béo kia đã tự báo thân phận, chứng tỏ rằng bọn hắn và tên Ben không phải cùng một bọn.”

Trác Mộc Cường Ba khẳng định: “Chắc không phải là người của chúng ta tiết lộ ra đâu.”

Giáo sư Phương Tân gật đầu: “Ừm, tôi cũng cho là vậy, đối phương chỉ biết một số thông tin ngoài lề như chuyện công ty của cậu bị phá sản, nhưng không biết về tình trạng sức khỏe dị thường của cậu, thông tin có lẽ do người nào đó chúng ta từng tiếp xúc để lộ ra ngoài, phải không? Lẽ nào…”

Trác Mộc Cường Ba vội nói: “Sao vậy? Thầy nghĩ ra được gì rồi, thầy giáo?” Giáo sư Phương Tân chép miệng nói: “Thôi bỏ đi, giờ cậu cần dưỡng thương cho tốt đã, chuyện này tôi sẽ điều tra cho rõ ràng. Quan trọng nhất bây giờ là, làm sao để những kẻ như tên béo kia không tìm đến nữa.”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Tôi sẽ lập tức làm thủ tục xuất viện, để họ không tìm được nữa.”

“Không, không, không.” Giáo sư Phương Tân vội nói: “Ngàn vạn lần không được làm vậy. Như thế chỉ khiến đám người ấy càng tin rằng cậu nắm giữ đầu mối gì quan trọng lắm. Không chỗ nào mà những thế lực ấy không len lỏi vào được, cậu càng tránh càng không thoát khỏi bọn họ. Giờ việc cần làm, chính là tiếp tục làm ra vẻ sa sút tinh thần, ở bệnh viện không cần làm gì cả, nếu tên béo đó lại tiếp tục tìm đến, cậu có thể giả bộ vẫn chưa hết kinh hoàng, tiết lộ một số điều chúng ta gặp phải ở núi tuyết Tư Tất Kiệt Mạc ở mức độ thích hợp, để bọn hắn cho rằng cậu đã không còn quyết tâm đứng lên lần nữa, hy vọng như vậy sẽ làm nhạt đi phần nào lòng hiếu kỳ của hắn. Chỉ có điều, sau này khi đội của chúng ta bắt tay hành động, cần phải cẩn thận hơn nữa. Thôi được rồi, bây giờ tôi sẽ gửi cho cậu thêm một phần tài liệu nữa, là nghiên cứu của một nhóm chuyên gia khác về văn tự khắc trên bia đá, đồ vật của người Maya. À, còn cả thứ này nữa, ở đây có tài liệu về nguyên mẫu và xuất xứ của nghệ thuật tạo hình tượng Phật trong Cánh cửa Sinh mệnh, cậu cũng nên đọc cho kỹvào.”

Nhắc đến Cánh cửa Sinh mệnh, Trác Mộc Cường Ba không khỏi nhớ tới Đa Cát. Gã lấy ra ba món đồ của Đa Cát để lại, một viên hồng bảo thạch, một khối Thiên châu, và còn có một con tằm bằng ngọc nữa, bao giờ thì trả những thứ này cho Ca Ca, lúc đó phải nói gì với cô đây?

Hai ngày sau đó, tên béo kia không thấy trở lại nữa, nhưng Trác Mộc Cường Ba tin rằng, hắn tuyệt đối không yên tâm mà chờ điện thoại của gã. Các vết thương trên người Trác Mộc Cường Ba dần dần khép miệng, đã có thể xuống giường đi lại. Gã không thể chờ đợi được, chỉ muốn ra ngoài hoạt động cho dãn gân dãn cốt. Gã cũng đồng thời suy nghĩ về phương pháp hô hấp Lữ Cánh Nam chỉ dạy cho mình, tuy vẫn chưa cảm nhận được trong cơ thể có bánh xe bánh xiếc gì chuyển động, nhưng tinh thần tự giác thì đặc biệt tốt chưa từng thấy.

Hôm đó Đường Mẫn vừa giúp gã thay thuốc xong, nói rằng vết thương đã bắt đầu lên da non, Trác Mộc Cường Ba không sao nhịn nổi nữa, nhân lúc Đường Mẫn ra ngoài, gã liền tung mình xuống giường, chạy lấy đà mấy bước, rồi liên tiếp đạp lên bức tường trắng của bệnh viện năm sáu bước, người dần lên cao, đầu gần như đã chạm đến trần nhà mới đảo người lộn một vòng nhẹ nhàng hạ xuống đất. Sau đó, gã lại ra chính giữa phòng bệnh, rồi hơi nhún nhảy hai chân, bật vọt lên, vươn tay ra, đã dễ dàng chọc vào khe hở của lỗ thông khí điều hòa tổng, một tay treo mình lơ lửng trên không. Trác Mộc Cường Ba cảm thấy hết sức hài lòng với tình trạng hồi phục của mình, nhìn khoảng cách giữa khe thông khí điều hòa với bức tường, ước chừng không hơn ba mét, tính khí trẻ con lại chợt nổi lên, gã liền cong người ngược lên, giẫm vào trần nhà, ngắm chuẩn hướng bức tường rồi đạp mạnh một cái, thân thể liền bắn vút đi như mũi tên rời dây cung. Khi đầu ngón tay chạm đến bức tường, thân thể liền trở nên mềm nhũn, gã dùng bàn tay tản xung lực, dán người sát vào mặt tường, chầm chậm trượt xuống như con thằn lằn. Ngoảnh đầu nhìn lại, thấy tấm thép chắn trên lỗ không khí điều hòa đã bị đạp cho biến dạng. Trác Mộc Cường Ba hít sâu một hơi, nghiêng người tạo thành một góc nghiêng ba mươi độ, đột nhiên tăng tốc, chạy dọc theo mặt tường lên đến cách mặt đất chừng ba mét, ước chừng đã đi xa được khoảng mười mét, khi haichân không thể nào bám lên mặt tường được nữa, trọng tâm người gã liền hơi lệch đi, hai tay và hai chân cùng lúc xòe rộng, thân thể cố định trên khung cửa giữa phòng bệnh và khoảng sân nhỏ có lan can chìa ra ngoài.

Nhìn ánh mặt trời rực rỡ, cây cỏ xanh tươi bên ngoài, thi thoảng lại có tiếng chim hót véo von, hai tay Trác Mộc Cường Ba hơi buông lỏng, hai chân đạp mạnh, cả người liền xoay một vòng trên không trung lộn ra bên ngoài lan can, rồi cứ ở nguyên vị trí bấp bênh muốn rơi xuống ấy, gã vươn tay phải ngược về phía sau bám lấy lan can của khoảng sân nhỏ đón nắng, cả người lơ lửng trên mười hai tầng lầu. Ngắm phong cảnh trong tư thế này cũng thật là đặc sắc, Trác Mộc Cường Ba hưng phấn thầm nhủ, bên dưới kia là người qua kẻ lại, khung cảnh bệnh viện này cũng rất u nhã, nếu thi thoảng có thể hoạt động một chút cho giãn gân giãn cốt thế này thì thật tốt biết mấy. Trác Mộc Cường Ba đang nghĩ ngợi, đột nhiên tay lơi ra, cả người lập tức rơi tự do từ tầng mười hai xuống. Ý niệm vừa động, gã đã sực nhớ ra: “Chết rồi, Mẫn Mẫn sắp quay lại.”

Đà rơi tự do mới hình thành, Trác Mộc Cường Ba đã đột nhiên xoay người trên không trung, hai tay nhanh chóng bám chắc vào mép lan can của khoảng sân chìa ra đón nắng ở tầng dưới, bên trong không có bệnh nhân nào, Trác Mộc Cường Ba thầm nhủ: “Cũng may là chưa làm người khác kinh hãi.” Hai tay gã chống xuống, cả người liền trồng cây chuối bên mép lan can. Với chiều cao của gã, hai chân vừa hay có thể móc ngược lên lan can tầng trên. Trác Mộc Cường Ba dang rộng hai chân ra, cố định thân thể vào lan can tầng trên, rồi buông tay ra, cả người liền cong lên như người đang nằm sấp ngồi dậy, bám lấy lan can phòng bệnh của mình, lộn một vòng, lăn trở vào bên trong, động tác nhanh nhẹn khéo léo như khỉ vượn.

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 16

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự