Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể Like, Đánh Dấu, Chuyển Giao Diện Đọc... Chỉ mất 40 giây của bạn thôi nhưng còn nhiều đều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 32 SUY ĐOÁN VỀ TỬ KỲ LÂN

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã

Phiên bản Dịch · 20226 chữ · khoảng 73 phút đọc

CHƯƠNG 32:

SUY ĐOÁN VỀ TỬ KỲ LÂN

Cương Nhật Phổ Bạc lại khẽ gật đầu: “Đúng vậy, Đạo quân Ánh sáng trong thời đại Thổ Phồn đã là một câu đố rồi, không ai biết bọn họ đã trải qua huấn luyện như thế nào, đến cả các đại thần quyền quý, thậm chí cả Tạng vương, cũng chỉ có thể trông thấy những binh sĩ đạt chuẩn của đạo quân ấy mà thôi. Đồng thời, cũng không người nào biết được họ sử dụng phương pháp gì để thuần dưỡng chiến ngao cả, tất cả đều chỉ có thể suy đoán. Có điều, giả thiết vừa nãy hoàn toàn không phải đột nhiên lóe lên trong ý nghĩ hay tưởng tượng vô căn cứ, mà là kết luận người xưa qua vô số suy đoán và nhiều lần cân nhắc mới rút ra được, đích thực là nó có thể giải thích được những điểm phi thường ở một số giống ngao hiếm mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.”

Suy đoán về tử kỳ lân

Cương Nhật Phổ Bạc lại khẽ gật đầu: “Đúng vậy, Đạo quân Ánh sáng trong thời đại Thổ Phồn đã là một câu đố rồi, không ai biết bọn họ đã trải qua huấn luyện như thế nào, đến cả các đại thần quyền quý, thậm chí cả Tạng vương, cũng chỉ có thể trông thấy những binh sĩ đạt chuẩn của đạo quân ấy mà thôi. Đồng thời, cũng không người nào biết được họ sử dụng phương pháp gì để thuần dưỡng chiến ngao cả, tất cả đều chỉ có thể suy đoán. Có điều, giả thiết vừa nãy hoàn toàn không phải đột nhiên lóe lên trong ý nghĩ hay tưởng tượng vô căn cứ, mà là kết luận người xưa qua vô số suy đoán và nhiều lần cân nhắc mới rút ra được, đích thực là nó có thể giải thích được những điểm phi thường ở một số giống ngao hiếm mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.”

Nhạc Dương cũng lấy làm chấn động trong lòng. Từ đầu tới giờ bọn họ vẫn nghiên cứu Đạo quân Ánh sáng và chiến ngao, nhưng chưa từng liên hệ câu chuyện chín chó một ngao ấy với chiến ngao lần nào cả. Có lẽ là bởi trong tiềm thức của họ, đó cũng chỉ là một câu chuyện mà thôi. Anh chàng một mặt thầm mắng mình tư duy ấu trĩ hẹp hòi, một mặt nói: “Thì ra chuyện đào một cái hố lớn, bỏ mười con ngao con vào đấy, chỉ để một con sống sót trở ra lại có thật à, đúng là có cách thuần dưỡng như thế sao? Chiến ngao! Không ngờ từ lúc còn bú sữa đã bắt đầu tiến hành đào thải rồi, thật là tàn khốc quá đi!”

“Tàn khốc!” Cương Nhật Phổ Bạc cười lạnh lùng: “Chiến tranh mới là tàn khốc! Đạo quân Ánh sáng và chiến ngao chẳng qua đều là vật hy sinh của chiến tranh mà thôi. Các cậu có biết, những người tộc Qua Ba đó không chỉ lựa chọn chiến ngao theo cách ấy, mà đối với chính bản thân mình cũng như vậy đó. Tin rằng các cậu đều từng nghe qua chuyện trên núi tuyết có một bộ lạc, khi lũ trẻ con của họ vừa mới sinh ra, nếu là con trai, thì sẽ lấy một tám da dê thông thường bọc đứa bé ấy lại, rồi ném ra giữa trời băng đất tuyết một đêm, phải chịu đựng qua đêm đó, thì mới được thừa nhận là tộc nhân đủ tư cách…”

Nhạc Dương kinh hãi nhảy bật lên khỏi chỗ ngồi: “Chú, ý chú là…”

Cương Nhật Phổ Bạc lạnh lùng nói: Đó, chính là bộ tộc Qua Ba đó, chính là Đạo quân Ánh sáng!” Giọng anh không khỏi pha chút thương cảm, “Nếu nói những đội quân khác là cây gậy, là chùy sắt trong tay kẻ cầm quyền, vậy thì Đạo quân Ánh sáng, chính là thanh kiếm trong tay người thống trị. Thuở ban đầu, thanh kiếm ấy vừa dày vừa nặng, nhưng rồi cùng với yêu cầu của chiến tranh, thì trở nên càng lúc càng mỏng hơn, nhưng đồng thời cũng càng lúc càng nhọn, càng lúc càng sắc bén, lưỡi kiếm ấy chỉ tới đâu, ai cũng không thể địch nổi. Nhưng có ai hay biết, phía sau danh xưng vô địch ấy ẩn chứa bao nhiêu là tàn khốc cùng nỗi chua cay.”

Thấy mọi người đều biến sắc, ngữ khí của Cương Nhật Phổ Bạc cũng dịu lại đôi phần: “Mặc dù nói vậy có lẽ hơi khoa trương quá sự thực một chút, nhưng theo tôi được biết, vào thời điểm trước khi Thổ Phồn sụp đổ, Qua Ba tộc chọn người vào Đạo quân Ánh sáng đúng là lúc bắt đầu từ khi trẻ con của họ còn đỏ hỏn. Còn cụ thể như thế nào thì tôi không rõ lắm, có điều là cái danh hiệu đội quân vô địch này không phải là tùy tiện mà gán lên được.

Trác Mộc Cường Ba nghe đến mê mẩn tâm thần, đến nỗi quên cả gãi cổ cho Cương Lạp. Con chó liền há miệng ngáp một cái rõ to, rồi lại phát ra những tiếng rên ư ử ngắn hơi. Trác Mộc Cường Ba vuốt ve mấy cái, nó mới thỏa mãn nhắm mắt lại. Cương Nhật Phổ Bạc liếc mắt nhìn Cương Lạp, rồi lại bảo Trác Mộc Cường Ba: “Ừm, còn một quan điểm nữa về Tử kỳ lân. Còn nhớ lần trước tôi từng nói với cậu, Tử kỳ lân sinh ra là do di truyền cách đời không?”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu: “Còn nhớ.”

Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Thực ra, về điểm này, tôi còn được nghe nói đến một quan điểm khác nữa, có điều khi ấy thật tình là không biết nên nói với cậu như thế nào cả.”

Trác Mộc Cường Ba hơi nhổm người lên: “Hả? Cũng liên quan đến Đạo quân Ánh sáng ư?”

Cương Nhật gật đầu nói: “Quan điểm đó cho rằng Tử kỳ lân, có khả năng chính là kết quả phối giống nhân tạo của các binh sĩ trong Đạo quân Ánh sáng.”

Trác Mộc Cường Ba kinh ngạc đến độ không thốt nổi tiếng nào. Cương Nhật lại tiếp lời: “Cậu biết rồi đấy, ngoại trừ trong các câu chuyện thần thoại truyền thuyết, Tử kỳ lân chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong lịch sử, chính là cái lần Tạng vương Lãng Đạt Mã đi săn bị tập kích ấy, chắc là cậu còn nhớ…”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu. Cương Nhật Phổ Bạc lại nói tiếp: “Có điều, theo những gì tôi biết được, lần đó Lãng Đạt Mã xuất tuần không phải để đi săn thú, mà là ông ta nhận được tin báo phát hiện ra tung tích của Đạo quân Ánh sáng.” Trác Mộc Cường Ba ngập ngừng hỏi: “Ý anh là…”

Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Con Tử kỳ lân ấy, có khả năng là do Đạo quân Ánh sáng thả ra để uy hiếp truy binh. Cậu thử nghĩ xem, thân làm người lãnh đạo cao nhất của vương triều Thổ Phồn, lúc nào cũng có một nhóm thân vệ do các binh sĩ trong Đạo quân Ánh sáng hợp thành ở bên cạnh bảo vệ, làm sao ông ta không biết đạo quân ấy đáng sợ đến mức nào. Cả một cánh quân như thế đột nhiên biến mất, liệu Lãng Đạt Mã có thể không lo lắng hay sao? Nếu đội quân ấy có ngày xoay đầu mũi giáo phản lại Thổ Phồn, chỉ sợ là bất cứ vị Tạng vương nào hiểu chuyện cũng ắt phải ăn ngủ không yên. Thử hỏi, ngoài Đạo quân Ánh sáng ra, còn lực lượng nào có thể khiến một vị Tạng vương nằm bệnh liệt giường không dậy nổi chứ?”

Nhạc Dương kêu lên: “Sao lại thế được? Chẳng lẽ khi đó Đạo quân Ánh sáng là quân nổi loạn à? Chẳng phải bọn họ chỉ trung thành với người thống trị tối cao thôi hay sao?”

Cương Nhật Phổ Bạc cười cười nói: “Ai bảo họ trung thành với người thống trị tối cao? Mặc dù tín ngưỡng của họ phù hợp với yêu cầu của người thống trị cao nhất, nhưng không phải họ tận trung với người thống trị. Tương truyền, ước định này là lời hứa của Tạng vương Tùng Tán Can Bố khi thu phục bộ tộc Qua Ba, bọn họ nghe lệnh tướng quân chỉ huy cao nhất của mình, nhưng vẫn giữ nguyên tín ngưỡng và lãnh tụ tinh thần. Mà tướng chỉ huy cao nhât của Đạo quân Ánh sáng, là hai gia tộc lớn đến từ Tượng Hùng, cũng tức là Nương thị và Vi thị; chỉ có lãnh tụ tinh thần mới là người duy nhất họ thực sự tận lòng trung, vị lãnh tụ tinh thần này là Đại Bản Ba trong tộc, tương truyền chính là hậu duệ đích truyền của Tứ đại Vu vương năm xưa. Sự việc Đạo quân Ánh sáng mất tích năm đó, nhất định là có liên quan đến vị Đại Bản Ba kia, bởi vì ngoại trừ ông ta, không ai có khả năng khiến toàn bộ Đạo quân Ánh sáng đột nhiên biến mất không tăm tích như thế cả. Có điều nếu nói là nổi loạn thì cũng không phải, dù sao thì họ cũng không hề có bất cứ hành động nào gây bất lợi cho Tạng vương hay quân đội Thổ Phồn khi ấy. Bọn họ chỉ biến mất mà thôi, biến mất một cách triệt để trên thế gian này!”

Nhạc Dương lại hỏi: “Lần này thì tôi thật sự hồ đồ rồi, một đội quân không trung thành với người thống trị cao nhất thì kẻ thống trị nào dám dùng chứ?”

Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Sự việc này giải thích ra thì phức tạp lắm, liên quan đến thuật cân bằng cán cân sức mạnh của người thống trị, tôi chỉ có thể nói, tình hình khi ấy hơi giống với lúc quân Thanh nhập quan chia sắc phong cho Tam phiên(1). Muốn để các gia tộc từ nơi khác đến bán mạng cho mình, nếu gia tộc ấy là những kẻ giỏi chinh chiến đánh trận, thì buộc phải cấp cho bọn họ quân đội và một số quyền tự trị, đồng thời cũng lại phải khiến cho bọn họ không tạo phản. Điều này yêu cầu người thống trị không những phải có đủ lòng tự tin và sức hấp dẫn, mà còn phải có thủ đoạn tương đối tinh diệu nữa. Cậu thử nghĩ xem, gia tộc Nương thị và Vi thị nghe lệnh của Tạng vương, Đạo quân Ánh sáng lại nghe lệnh của Nương thị và Vi thị, mà thống soái cao nhất của Đạo quân Ánh sáng là do người trong hai gia tộc ấy luân phiên đảm nhiệm, cũng có nghĩa Tạng vương có thể thay đổi quyền thống soái tối cao của hai gia tộc này đối với Đạo quân Ánh sáng bất cứ thời điểm nào. Nếu cậu muốn tạo phản, xin lỗi nhé, đối tượng duy nhất mà Đạo quân Ánh sáng thực sự trung thành tuyệt đối chỉ có một mình Đại Bản Ba của họ mà thôi, nhưng vị Đại Bản Ba này lại không có thực quyền, không trực tiếp lãnh đạo các binh sĩ. Bởi vậy, mối quan hệ giữa Tạng vương, thống soái tối cao của Đạo quân Ánh sáng, và lãnh tụ tinh thần của họ là hết sức phức tạp rối rắm, hình thành nên một sự cân bằng quyền lực vô cùng vi diệu, kết quả cuối cùng là, hai người sau đều phải ra sức tỏ rõ sự trung thành với Tạng vương. Riêng việc Đạo quân Ánh sáng mất tích, rõ ràng vấn đề cũng nằm ở giữa ba đỉnh tam giác quyền lực này, điều duy nhất mà chúng ta có thể biết là, lúc đó đã xảy ra một sự kiện gì đó, sự kiện ấy có ảnh hưởng đến mỗi một thành viên trong Đạo quân Ánh sáng, chú ý, mỗi một thành viên. Bởi vì nếu như một người trong số họ đi cáo giác, Đạo quân Ánh sáng cũng không thể biến mất một cách lặng lẽ âm thầm đến thế, mà còn mang theo cả toàn bộ các châu báu tàng trữ trong Tứ phương miếu nữa! Theo những gì tôi biết, Tạng vương Lãng Đạt Mã tuyệt đối không hề hay biết gì về chuyện này, bởi vì cả Đạo quân Ánh sáng canh giữ trước cửa cung điện của ông ta đã hoàn toàn biến mất chỉ trong một đêm. Sự việc này khiến Lãng Đạt Mã chấn động hơn bất cứ người nào khác, bằng không ông ta đã không hạ lệnh dù phải đào sâu ba thước đất cũng phải tìm ra tung tích cả Đạo quân Ánh sáng, mà cũng không đích thân dẫn quân đi truy xét đầu mối về bọn họ như thế. Cả đến trước khi chết, ông ta vẫn còn hoài nghi liệu có phải mình diệt Phật triệt để quá khiến cho Đạo quân Ánh sáng bỏ đi hay không, thậm chí còn định kiểm điểm lại hành vi ấy của mình, suy nghĩ lại về vai trò của Phật giáo đối với quốc gia. Còn về quan hệ giữa hai gia tộc Vi thị và Nương thị với Đạo quân Ánh sáng, từ thời kỳ vương triều Thổ Phồn đã có lời đồn. Một là nói Nương thị đã có hiệp nghị bí mật với Qua Ba tộc, xét cho cùng thì chính bọn họ đã đưa ra đề nghị chiêu nạp bộ tộc ấy vào Đạo quân Ánh sáng. Ngoài ra còn một thuyết khác, nói Vi thị đã lợi dụng dược vật để khống chế Đạo quân Ánh sáng và tộc trưởng, Đại Bản Ba của Qua Ba tộc… Những tin đồn này đã tự động tan biến sau đêm Đạo quân Ánh sáng biến mất. Nhưng có một điểm lạ, đó là hai gia tộc này dường như đã biết được chuyện gì đó đằng sau cuộc thoát ly của Đạo quân Ánh sáng. Dù sao thì sau khi đám người kia bỏ đi, bọn họ cũng không cuống quýt lên tìm kiếm như Tạng vương, mà sau khi Lãng Đạt Mã qua đời, cả hai gia tộc này đều trực tiếp tham gia vào cuộc tranh đoạt quyền lực mới, dường như bọn họ không hề lo lắng đạo quân ấy sẽ trở thành mối uy hiếp của mình, không biết rốt cuộc họ đã nắm giữ được bí mật gì nữa.”

Nhạc Dương nói: “Vậy, Vi thị và Nương thị có hậu nhân không?”

“Không,” Cương Nhật Phổ Bạc trầm giọng đáp, “những kẻ chìm đắm với quyền lực, cuối cùng sẽ bị quyền lực hủy diệt. Theo tôi được biết, hai đại gia tộc huy hoàng năm xưa cuối cùng đã tan thành tro bụi trong khói lửa chiến tranh, và một chút nội tình mà họ biết được đó, cũng bị mang theo xuống mồ rồi. Không còn một ai biết tung tích của Đạo quân Ánh sáng và nguyên nhân tại sao họ biến mất cả, từ đó về sau, phàm là kẻ nào muốn tìm hiểu về Bạc Ba La thần miếu và Đạo quân Ánh sáng, đến sau cùng đều nhận được sự trừng phạt đích đáng!” Giọng anh ta bỗng trở nên nghiêm khắc lạnh lùng, mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba nghe mà đều ngẩn ra, cả Cương Lạp cũng nghển lên khỏi đùi Trác Mộc Cường Ba. Cương Nhật Phổ Bạc biết mình lỡ lời, lại dịu giọng: “Nói đi quá xa rồi, vốn là định nói chuyện Tử kỳ lân kia mà, cậu xem đấy, đã kéo đi xa tới tận đâu rồi không biết. Đoạn anh lại rót cho mình thêm một bát rượu, nhưng rõ ràng là đã không thể bình tĩnh lại được, miệng ho sù sụ một tràng, gương mặt đỏ bừng cả lên. Cương Lạp dịu dàng rên ư ử bước đến, hai chân trước gác lên lưng Cương Nhật Phổ Bạc kẽ đập đập, hệt như cô a hoàn đang đấm lưng cho lão gia vậy. Đội trưởng Hồ Dương và Nhạc Dương ngạc nhiên đến bần thần cả người ra. Nhạc Dương không kìm nổi thầm nghĩ, con Cương Lạp ấy, thật đúng một con chó ngao hay sao? Nếu mình có một con như thế thì tốt quá!

Cương Nhật Phổ Bạc xua tay ý bảo không cần, một lúc sau cơn ho ngừng lại, anh ta mới cất lời nói tiếp: “Các cậu đều biết cả rồi, phong tục sống chung với lũ sói của bộ tộc Qua Ba mấy ngàn năm nay chưa từng thay đổi, cho dù về sau có chiến ngao gia nhập, địa vị của loài sói cũng không hề có chút biến động, chẳng qua chỉ là thêm lũ chó ngao có địa vị đồng đẳng với sói mà thôi. Vậy thì, sẽ dẫn đến một vấn đề mới… khi chó ngao và sói ở cùng nhau, bọn chúng sẽ sống như thế nào, sẽ xử sự với ra sao? Ngoài ra, vì nhu cầu của chiến tranh, chó ngao thông thường về thể hình hay về sức mạnh và tốc độ đều không thể hoàn toàn đạt đủ tiêu chuẩn, các binh sĩ trong Đạo quân Ánh sáng cần chiến ngao của họ có thể hình lớn hơn, tốc độ nhanh hơn, nanh vuốt sắc bén hơn, phản ứng nhanh nhẹn hơn nữa…, phải thế nào mới làm được điều đó? Vậy là, dựa trên cơ sở này, chúng ta có một giả thiết, có lẽ mới ban đầu, đây chỉ là một sự tình cờ, tiếc là, chó ngao cùng với lũ sói sống chung với chúng, đã sản sinh ra thế hệ sau, khi các binh sĩ Đạo quân Ánh sáng phát hiện giống vật ấy có sức chiến đấu mạnh hơn, liền bắt đầu cho gây giống nhân tạo…”

Trác Mộc Cường Ba kinh ngạc đến nỗi quên cả vuốt lông cho Cương Lạp đang nằm trong lòng mình, ngẩn ngơ thốt lên: “Ý anh là, Tử kỳ lân…”

Cương Nhật Phổ Bạc gật đầu, nói: “Dựa theo giả thiết này, Tử kỳ lân, có lẽ không chỉ Tử kỳ lân, mà còn cả một số thánh thú, linh ngao khác, có lẽ chúng chính là một loại lang ngao, hoặc giả có thể gọi là ngao lang, giống như là sư hổ thú của ngày này vậy.”

Nhạc Dương hỏi: “Tại sao lại gọi là giả thiết? Đây chỉ là suy đoán của chú thôi à, không có chứng cớ gì sao?”

Cương Nhật Phổ Bạc lại khẽ gật đầu: “Đúng vậy, Đạo quân Ánh sáng trong thời đại Thổ Phồn đã là một câu đố rồi, không ai biết bọn họ đã trải qua huấn luyện như thế nào, đến cả các đại thần quyền quý, thậm chí cả Tạng vương, cũng chỉ có thể trông thấy những binh sĩ đã đạt chuẩn của đạo quân ấy mà thôi. Đồng thời, cũng không người nào biết được họ sử dụng phương pháp gì để thuần dưỡng chiến ngao cả, tất cả đều chỉ có thể suy đoán. Có điều, giả thiết vừa nãy hoàn toàn không phải đột nhiên lóe lên trong ý nghĩ hay tưởng tượng vô căn cứ, mà là kết luận người xưa đã trải qua vô số suy đoán và nhiều lần cân nhắc mới rút ra được, đích thực là nó có thẻ giải thích được những điểm phi thường ở một số giống ngao hiếm mà chúng ta vẫn thấy ngày nay.” Anh ta ngưng lại một chút rồi nói tiếp, “ví dụ như Cương Lạp chẳng hạn…”

Cương Lạp nghe nhắc đến tên mình, lè lưỡi ngước đầu lên nhìn Cương Nhật Phổ Bạc. Cương Nhật Phổ Bạc nâng mặt con chó lên, nói: “Cương Lạp của tôi, tổ tiên của nó có lẽ chính là một con ngao bối hoặc là bối ngao.”

“Bối ngao?” đội trưởng Hồ Dương cảm thấy diễn đạt như vậy hết sức mới lạ.

Cương Nhật Phổ Bạc chỉ tay vào Trác Mộc Cường Ba nói: “Cường Ba biết đấy, cậu ấy có thể lý giải cho các cậu được.”

Trác Mộc Cường Ba cũng đã nghĩ đến rồi, so với giả thiết di truyền cách đời gã đưa ra thì giả thiết này đáng tin cậy hơn nhiều. Chính xác, nếu là bối ngao thì Trác Mộc Cường Ba vô cùng mừng rỡ, đây là một hướng tư duy hoàn toàn mới, trước đây Cương Nhật Phổ Bạc không nói cho gã biết, rõ ràng là vì còn vướng mắc những chuyện liên quan đến Đạo quân Ánh sáng. Gã đột nhiên phát hiện ra, Đạo quân Ánh sáng và chiến ngao không ngờ lại có mối liên hệ vô cùng mật thiết.

Nhạc Dương thấy Trác Mộc Cường Ba cúi đầu không nói gì, sắc mặt lúc thì mừng vui, lúc lại tỏ ra kinh ngạc, không nén nổi tò mò kêu lên: “Cường Ba thiếu gia, đừng có vui trộm một mình nữa chứ, nói đi xem nào, bối ngao rốt cuộc là giống gì thế?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Bối, là biến chủng của sói, cũng có người nói là một loại hoàn toàn khác với sói, nhưng chuyện chúng sống chung với sói thì không thể nghi ngờ nữa, chỉ là đến ngày nay không còn ai trông thấy nữa mà thôi. Trong các ghi chép cổ, con bối, toàn thân trắng như tuyết, hai chi trước thiên sinh tàn khuyết, cần một con sói khác cõng mới đi được, nhưng nó sở hữu trí tuệ rất cao, đảm nhận vai trò như quân sư trong đàn sói. Đàn sói nào mà có một con bối, thì khả năng săn bắt của đàn sẽ nâng cao lên gấp mấy lần, cho dù cổ nhân của chúng ta đã tiến lên thời đại canh nông thì cũng không phải đối thủ của bọn chúng, chỉ có thể mắng chửi là “lang bối vi gian”(2) mà thôi, câu thành ngữ này cũng chính là từ đó mà ra đấy. Nếu bảo Hải lam thú chính là bối ngao, thì chúng ta có thể giải thích tại sao chúng thông minh đến thế rồi. Chính xác, đây là một giả thiết rất có khả năng…”

Nhạc Dương nhìn Cương Lạp hỏi: “Cương Lạp thông minh lắm à?”

Không ngờ, anh vừa dứt lời, Cương Lạp đã kiêu ngạo ngẩng cao đầu, bất ngờ phát ra một tiếng “oắc…” Nhạc Dương lại giật thót mình ngạc nhiên.

Cương Nhật Phổ Bạc lại rót đầy chén rượu của mọi người, nói: “Những điều tôi có thể nói với các cậu chỉ có ngần ấy thôi, những đầu mối khác, các cậu có thể tìm được trong những nguồn tư liệu khác. Đương nhiên, nếu các cậu tìm được hậu nhân của tộc Qua Ba, biết đâu họ có thể cho các cậu biết nhiều hơn nữa cũng nên.”

Nhạc Dương ngạc nhiên thốt: “Hậu nhân của bộ tộc Qua Ba? Chẳng phải toàn bộ bọn họ đã đến Hương Ba La rồi hay sao?”

Cương Nhật Phổ Bạc lắc đầu: “Ai bảo cậu thế? Cậu trai trẻ, cậu phải phân biệt cho rõ quan hệ giữa Đạo quân Ánh sáng và bộ tộc Qua Ba. Đạo quân Ánh sáng là người trong bộ tộc Qua Ba tổ chức thành, nhưng thế hoàn toàn không có nghĩa là Đạo quân Ánh sáng chính là toàn bộ người trong tộc Qua Ba! Năm xưa khi bộ tộc Qua Ba gia nhập vương triều Thổ Phồn, đã bị chia làm ba nhánh, những binh sĩ cường tráng nhất được lựa chọn để gia nhập Đạo quân Ánh sáng, binh sĩ bình thường thì lại ở lẫn trong các cánh quân khác, những người khác trong bộ tộc vẫn là bình dân bách tính. Những người mang châu báu ở Tứ phương miếu biến mất chỉ trong một đêm, về sau lại xây dựng nên Bạc Ba La thần miếu, chỉ có Đạo quân Ánh sáng thôi! Còn bộc tộc Qua Ba, thì vẫn ở lại sinh sống trên cao nguyên, có điều, bọn họ không thể không che dấu hành tung, sống cuộc đời của những kẻ trốn tránh ẩn nấp. Nói tới đây, gương mặt Cương Nhật Phổ Bạc thoáng hiện lên một nụ cười đượm nét bi thương, “Ngay hồi trước Giải phóng ấy, vẫn còn có người trông thấy người tộc Qua Ba bọn họ cũng như đám người Đạt Mã kia kìa, ở trong dãy Himalaya, sống nguyên thủy, đốt nương làm rẫy, du canh du cư.”

“Tại sao họ không đi theo Đạo quân Ánh sáng nhỉ?” Nhạc Dương kinh ngạc kêu lên, “Có lẽ nào, đến cả bọn họ cũng không biết Đạo quân Ánh sáng kia đi đâu hay sao?”

Cương Nhật Phổ Bạc gật đầu nói: “Đúng thế, Đạo quân Ánh sáng biến mất quá bất ngờ. Sau khi họ bỏ đi, số phận của những người Qua Ba còn lại thật sự rất bi thảm. Họ tự nhận mình là dân tộc bị lưu đày, những binh sĩ đang bảo vệ họ - bảo vệ bộ tộc Qua Ba, đồng thời là trụ chống mạnh nhất của vương triều Thổ Phồn, đã đột nhiên biến mất. Khi vương triều sụp đổ, bộ tộc Qua Ba cũng chịu sự đàn áp cực lớn, có thể kéo dài kiếp sống tàn tạ ấy đến ngày nay, cũng coi như là một kỳ tích rồi.”

Trong lòng Nhạc Dương y còn đầy rẫy nghi vấn, bỗng nghe Trác Mộc Cường Ba nói: “Cám ơn anh, đối với chúng tôi mà nói, những tin tức này thực sự rất quan trọng…”

“Gượm đã!” Nhạc Dương đột nhiên ngắt lời, vẻ nghi hoặc lộ ra trên khuôn mặt, anh đưa mắt nhìn Cương Nhật Phổ Bạc, nghiêm giọng hỏi: “Rốt cuộc chú là người như thế nào?” Trác Mộc Cường Ba và đội trưởng Hồ Dương đều ngẩn ra, tròn xoe mắt nhìn Nhạc Dương. Nhạc Dương lại nói: “Cường Ba thiếu gia, ở đây có vấn đề. Anh thử nghĩ mà xem, tại sao chú ấy lại biết nhiều chuyện như thế? Những chuyện thế này, chúng ta nghiên cứu bao nhiêu lâu nay rồi, nhưng đã bao giờ nghe nói đến đâu! Trong các tư liệu mà những người đi trước nghiên cứu, cũng không hề nhắc đến. “Nói tới đây, anh lại quay sang phía Cương Nhật Phổ Bạc, “Từ đâu chú có được những thông tin này? Tại sao chú lại sống trên con đường lên núi của chúng tôi? Rốt cuộc chú là ai? Chú…”

Trác Mộc Cường Ba ngăn Nhạc Dương lại, nói: “Đủ rồi, Nhạc Dương, đừng có đoán bậy đoán bạ nữa, cậu… cậu vô lễ quá rồi đấy! Gã cũng không biết phải phê bình anh chàng thích hỏi cho đến rốt ráo tận cùng này như thế nào nữa, càng tệ hại hơn nữa là, trong lòng gã cũng nảy sinh những nghi vấn hệt như Nhạc Dương vậy.

Cương Lạp thấy anh chàng này tuổi không lớn lắm, lại không phải quen thuộc gì cho cam mà dám chất vấn Cương Nhật Phổ Bạc, liền đột nhiên đứng phắt dậy trước mặt chủ nhân, lần này trong mắt nó đã lóe lên sát khí ghê người, rõ ràng là đứng yên bất động, vậy mà lại khiến người ta có cảm giác có thể lao bổ tới bất cứ lúc nào. Không hiểu vì sao, Nhạc Dương chợt cảm thấy hơi sợ hãi.

Cương Nhật Phổ Bạc nhấc tay ấn Cương Lạp xuống, cười ha hả nói: “Cậu trai trẻ, rốt cuộc các cậu điều tra nghiên cứu về Bạc Ba La và Đạo quân Ánh sáng bao nhiêu năm rồi?”

Nhạc Dương nhất thời tắc tị. Cương Nhật Phổ Bạc lại tiếp lời: “Tôi nghe nói, năm đó người dò hỏi được thông tin về Bạc Ba La thần miếu chẳng qua chỉ là nghe qua đoạn truyền thuyết từ miệng nghệ nhân hát xướng dân gian mà thôi, nếu thực sự truy ngược trở lại, thì còn chưa có đến hai trăm năm lịch sử, còn đến khi dân nước ta biết về Bạc Ba La thì đã là cuối đời Thanh, đầu đời dân quốc, tính ra chỉ có trăm năm mà thôi. Thế cậu có biết, thời gian gia tộc chúng tôi và Đạo quân Ánh sáng mắc mớ với nhau, đã trải qua hơn nghìn năm rồi hay không! Hơn một nghìn năm đấy! Kể từ ngày bọn họ biến mất khỏi cõi đời này!”

Nhạc Dương đột nhiên nhớ ra điều gì đó, bỗng nhiên tỏ vẻ kính trọng: “Chú… chú chính là hậu nhân của bộ tộc Qua Ba!”

Cương Nhật Phổ Bạc mỉm cười lắc đầu: “Cậu trai trẻ, đừng tự tin như thế, lần này thì cậu lầm rồi, tôi không phải hậu nhân của bộ tộc Qua Ba đâu.”

Anh ta khó che dấu nổi nét thê lương trên gương mặt, thở dài nói: “Nhưng gia tộc chúng tôi, lại phải gánh trên lưng mình vận mệnh hệt như hậu nhân của bộ tộc ấy, vì thế, tôi có thể cảm nhận được cảnh ngộ của những hậu nhân bộ tộc Qua Ba bị vứt bỏ lại trên cao nguyên ấy. Tất cả những gì họ trải qua, có lẽ là rất giống với những gì gia tộc chúng tôi đã từng gặp phải.”

Nhạc Dương lại hỏi: “Rốt cuộc thì chú là ai?”

Cương Nhật Phổ Bạc lộ thần sắc đau đớn bi thương, Cương Lạp thì rên “ư ử”, dúi đầu vào ngực chủ nhân, khe khẽ cọ cọ. đội trưởng Hồ Dương thấy vậy liền lên tiếng: “Đủ rồi Nhạc Dương, mỗi người đều có bí mật của riêng mình…” Nhạc Dương ngừng chất vấn, đột nhiên sực nhớ lại lời của Lữ Cánh Nam đã từng chỉ bảo: “Nhạc Dương, hãy nhớ cho kỹ, mỗi người đều có bí mật của riêng mình. Khi chất vấn người ta, cần phải phân biệt rõ ràng lúc nào là thẩm vấn kẻ địch, lúc nào là bạn bè trò chuyện. Hỏi cũng cần rất nhiều kỹ xảo đó!”

Trác Mộc Cường Ba đang không biết xin lỗi Cương Nhật Phổ Bạc thế nào, thì Cương Lạp đã đột nhiên đứng phắt lên khỏi lòng anh ta, cảnh giác nhìn ra cửa, hai tai dựng đứng lên, khẽ nhúc nhích, tựa như đang tìm thông tin gì đó trong không khí, rồi đột nhiên nó ngoảnh đầu lại sủa lên một tiếng với Cương Nhật Phổ Bạc, tiếng sủa vang dội, đến cả Trác Mộc Cường Ba cũng giật thót nảy người.

Cương Nhật Phổ Bạc giật mình sực tỉnh khỏi cơn bi thương, hỏi Cương Lạp: “Bắt đầu rồi hả?” Cương Lạp lại đáp hai tiếng nữa. Cương Nhật liền vịn tay nhảy xuống giường, bảo Trác Mộc Cường Ba: “Giờ không nói mấy chuyện này nữa, tôi dẫn các cậu đi xem một màn kich hay, đảm bảo là các cậu sống ngần này tuổi rồi cũng chưa từng thấy bao giờ đâu. Để tôi lấy ít đồ đã, Cương Lạp, mở cửa ra.”

1. Tam phiên: vốn là các tướng cũ của nhà Minh đầu hàng người Nữ chân, có công trợ giúp họ xâm nhập Trung nguyên, về sau được nhà Thanh phong vương tước, trấn nhậm ở mấy tỉnh phía Nam: Bình Tây vương Ngô Tam Quế ở Vân Nam – Quý Châu; Bình Nam vương Thượng Khả Hỷ ở Quảng Đông; Tĩnh Nam vương Cảnh Trọng Minh ở Phúc Kiến. Sau này làm phản, qua cuộc chiến Tam phiên chi loạn (1673-1681) lần lượt bị hoàng đế Khang Hy tiêu diệt và xóa bỏ đất phong.

2. Lang bối vi gian: cấu kết với nhau để làm chuyện xấu.

Linh ngao Hải lam thú

Nhạc Dương ở gần cửa nhất, vốn định bước ra mở cửa, không ngờ Cương Lạp đã lẹ làng chen vào đẩy anh ra, bổ nhào tới trước, dựng đứng thân lên, gẩy cái then một cái mở cửa ra, lao vút về phía đồng cỏ rộng thênh thang. Cương Lạp thích thú chạy mấy bước, rồi ngoảnh đầu lại, chỉ thấy thân thể trắng như tuyết của nó nhẹ nhàng lướt đi trong làn gió lạnh thấu xương, tựa như hòa tan thành một thể với trời xanh mây trắng đồng cỏ xanh mướt mắt. Trong đầu Nhạc Dương chợt lóe lên một cụm từ: “… oai phong lẫm lẫm, hiên ngang ngời ngời!” Đúng vậy, chính là oai phong lẫm lẫm! Cương Lạp lúc này trông thật hiên ngang, bộ lông màu trắng bạc sáng bóng lên như lụa, bó chặt lấy thân hình thon dài tắm trong ánh dương rực rỡ, tựa như trên trời có đám mây khẽ lướt xuống đồng cỏ này vậy.

Bước chân nhẹ nhàng ấy tựa như có con ngựa nòi cao quý tung vó nhảy múa, lại càng giống thiếu nữ người Tạng đang nâng chiếc khăn Ha đa tung tăng khiêu vũ trên thảo nguyên mênh mang. Một con Tạng ngao đẹp quá chừng, Nhạc Dương nhìn mà ngây hết cả người!

Trác Mộc Cường Ba khẽ vỗ lên vai Nhạc Dương, hỏi: “Đẹp lắm phải không?”

Nhạc Dương thở dài nói: “Tôi thật không dám tin là trên đời này lại có con chó đẹp đến mức ấy, đúng là tạo vật của trời!”

Cương Lạp lao vút đến, chạy xung quanh chân Trác Mộc Cường Ba hai vòng. Nhạc Dương nhìn nó, nó liền ngoảnh đầu đi, không thèm nhìn thẳng vào anh chàng. Nhạc Dương làu bàu thắc mắc: “Hình như nó không thích tôi rồi.”

Trác Mộc Cường Ba cười cười: “Ai bảo cậu vừa mới gặp đã nói người ta ục ịch. Cương Lạp nhớ là cậu nói gì đấy.”

“Không phải chứ!” Nhạc Dương trợn tròn mắt kêu lên, “từ ngữ trừu tượng như ục ịch mà nó cũng hiểu à?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Cậu không đọc báo cảo phân tích của các nhà khoa học à? Chó nuôi thông thường có chỉ số thông minh ngang với đứa trẻ ba, bốn tuổi, các loại động vật họ chó cỡ lớn như chó ngao, chó sói thì có trí thông minh tương đương với đứa trẻ sau, bảy tuổi, nếu được huấn luyện thêm, chúng có thể đạt đến mức chỉ số thông minh của đứa trẻ mười một, mười hai tuổi. Một đứa trẻ mười một, mười hai tuổi, cậu cho rằng có gì nó không hiểu được nữa chứ? Đặc biệt là giống linh ngao Hải lam thú như Cương Lạp đây, trí tuệ của nó chỉ sợ còn cao hơn cậu tưởng tượng nhiều đấy, tiếp xúc với nó nhiều cậu sẽ biết con vật này có thể mang đến niềm vui bất ngờ như thế nào.”

Nói đoạn, Trác Mộc Cường Ba nhoẻn miệng mỉm cười, như đang hồi tưởng lại chuyện ngày xưa. Cương Lạp ngồi xổm bên cạnh gã, ngước mắt nhìn về phía xa, chốc chốc lại quay đầu vào trong nhà kêu lên những tiếng “u, u” dài ngắn khác nhau.

Nhạc Dương thấy bộ dạng của Cương Lạp có vẻ như đang thúc giục Cương Nhật Phổ Bạc, nghĩ ngợi một thoáng rồi lại nói: “Tôi nhớ là m inh nói bằng tiếng phổ thông cơ mà, chẳng lẽ nó lại còn hiểu được mấy thứ tiếng khác nhau cơ à?”

Trác Mộc Cường Ba mỉm cười đáp: “Nếu là mệnh lệnh đơn giản, thì dù có thêm mấy thứ tiếng nữa Cương Lạp cũng vẫn nhớ được. Có điều khi nói chuyện bình thường, chưa chắc nó đã chỉ dùng hai tai để nghe, nó có thể quan sát động tác, nét mặt của cậu, lắng nghe ngữ điệu, tốc độ nói của cậu, ngoài ra, nó còn có thể ngửi được thông tin tỏa ra từ cơ thể cậu khi nói chuyện, nắm bắt nhịp tim và tình trạng tiết mồ hôi trên da của cậu nữa, có thể hình dung nó giống như một cái máy phát hiện nói dối vậy. Cương Lạp có thể quan sát được tâm trạng thực sự của cậu lúc nói chuyện, là coi thường nó hay là đang khen ngợi nó, thích nó hay ghét nó. Trong các thần thoại truyền thuyết, linh ngao Hải lam thú là động vật thông linh có thể thăm dò được thế giới nội tâm của con người, thậm chí cậu còn chưa mở miệng, nó đã biết cậu muốn nói gì rồi ấy chứ.”

Nhạc Dương không kìm được lại liếc mắt sang nhìn Cương Lạp một cái. Cương Lạp từ nãy đã đổi hướng ngồi, xoay lưng về phía Nhạc Dương, thần thái ngạo mạn hướng ánh mắt nhìn về nơi xa xăm. Trác Mộc Cường Ba nói: “Cậu thực lòng thành ý xin lỗi nó, Cương Lạp sẽ tha thứ cho cậu. Có phải vậy không hả Cương Lạp?”

Nhạc Dương lại thêm một phen ngạc nhiên, nhưng trước ánh mắt cổ vũ của Cường Ba thiếu gia, anh chàng vẫn thử cất tiếng: “Chuyện kia… Cương Lạp tiểu thư, chuyện này… là tôi không đúng, tôi, tôi, tôi, những lời tôi vừa nói khi nãy thật là vô lễ quá… Cô… cô có thể lượng thứ cho tôi không…” Lời nói còn chưa dứt, Cương Lạp đã nhổm mình đứng lên, hướng vào căn nhà đá sủa hai tiếng. Nhạc Dương nhìn sang phía Trác Mộc Cường Ba nói: “Chuyện này…” Trác Mộc Cường Ba cười cười gật đầu: “Được rồi, nó đã tha thứ cho cậu rồi đấy. Cương Lạp không phải là hẹp hòi phải vậy không, Cương Lạp.” Cương Lạp nhìn Trác Mộc Cường Ba đầy vẻ dằn dỗi, trong mũi “ừm, ừm” một tiếng dài, rõ ràng là đang có ý: “Cái anh này, sao lại đi nói giúp người ngoài như thế.”

Cương Nhật Phổ Bạc xách theo một cái bao nhỏ xồng xộc chạy ra, miệng lẩm bẩm: “Giục cái gì mà giục, gấp mấy thì cũng phải mang đủ đồ theo mới được chứ?”

Đội trưởng Hồ Dương theo sát phía sau anh ta, ngữ khí hết sức thành khẩn: “Anh nghĩ lại được không?”

Cương Nhật Phổ Bạc dường như không nghe thấy, đưa tay ngoắc Cương Lạp: “Chúng ta đi.” Cương Lạp liền dẫn đầu cả bọn tiếp tục đi về phía Nam.

“Chúng ta đang đi đâu thế nhỉ?” Nhạc Dương hỏi.

Cương Nhật Phổ Bạc nở một nụ cười thần bí, nói: “Đến nơi thì cậu sẽ biết. Nhất định các cậu sẽ thấy hứng thú cho mà xem.” Nói đoạn liền nháy mắt với Trác Mộc Cường Ba một cái.

Nhạc Dương không ngờ ông chú này lại còn giở trò thần bí, chán ngán chẳng buồn hỏi han tiếp nữa. đội trưởng Hồ Dương dường như vẫn còn bực chuyện Cương Nhật Phổ Bạc từ chối lời mời của anh, cũng không nói không rằng gì, không khí phút chốc trầm hẳn đi, bốn người cứ thế lặng lẽ đi theo sau Cương Lạp. Tốc độ của Cương Lạp rất nhanh, hình như nó không muốn dừng bước thả bộ chậm lại mà cứ lao vun vút, chạy trước cả một đoạn, rồi sau đó lại chạy về để mọi người có thẻ theo kịp. Nhìn cái bóng lao đi lao về loang loáng của nó, Nhạc Dương bất chợt nảy sinh cảm ngộ, anh cũng muốn được giống như Cương Lạp kia, tung mình tự do chạy dưới trời xanh mây trắng, thỏa sức hít thở bầu không khí tự do, rồi sau đó lại nằm xuống, thân thể và tâm hồn đều mở rộng, cùng với thảo nguyên hòa vào thành một thể duy nhất.

Không bao lâu sau, màu lông của Cương Lạp bắt đầu biến đổi, nhuốm sang thứ sắc màu khiến người ta phải tan nát cõi lòng, như mộng, như ảo; cái bóng hình kiêu ngạo tự do chạy nhảy ấy phảng phất như bất cứ lúc nào cũng có thể đạp mây mà bay lên tít tận chín tầng trời. Khoảnh khắc ấy, nó đích thực là một con thần thú nơi Thiên giới vì bất cẩn mà lưu lạc xuống cõi nhân gian.

Nhạc Dương tán thưởng: “Màu sắc đẹp quá. Đây, đây rốt cuộc là màu gì vậy?” Anh chàng lục tung cả óc lên mà cũng không tìm ra được một tính từ nào thích hợp để hình dung, chỉ biết đắm chìm trong sắc màu diễm tuyệt đó.

Đội trưởng Hồ Dương cũng kinh ngạc thốt lên: “Chưa bao giờ tôi thấy con chó ngao nào có thể biến đổi màu sắc cả, sao nó làm như vậy được nhỉ?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Thầy giáo bảo, đây có lẽ là tác động của cơ năng sinh lý tương tự như của Hãn huyết bảo mã, cũng giống như con người ta khi tức tối thì đỏ mặt tía tai lên vậy, mỗi khi Hải lam thú bắt đầu chạy tốc độ, các mao mạch huyết quản ở dưới lớp da lông sẽ được dồn đầy căng, làm cho sắc da biến đổi, ảnh hưởng đến bộ lông màu bạc, cộng với tác động chung của các nhân tố khác như thời tiết, sự phản xạ, chiết xạ ánh sáng sẽ làm hiện lên thứ màu sắc mà chúng ta đang nhìn thấy đây. Hải lam thú chạy rất giỏi, chúng thích chạy nhảy trong tất cả các động vật họ chó, ngoài Tử kỳ lân ra thì chúng là loài chạy nhanh nhất, hơn nữa chúng còn có thể duy trì tốc độ nhanh này một thời gian dài, sức bền có thể so với chiến mã được. Tương truyền Tuyết sơn thần nữ đã ban cho chúng ba điềm lành: ban cho chúng bộ lông sắc hải lam rực rỡ tuyệt trần, còn hấp dẫn mê hoặc hơn cả lam bảo thạch; ban cho chúng thân thể nhẹ nhàng như áng mây để chúng có thể tự do tự tại tung tăng chạy nhảy, trở thành những tinh linh đuổi theo ngọn gió; ban cho chúng trái tim thông tuệ, khiến chúng có thể đọc hiểu tất thảy ngôn ngữ trên thế gian này.”

Nhạc Dương lè lưỡi nói: “Tôi cũng muốn nuôi một con Hải lam thú này quá.”

Trác Mộc Cường Ba cười cười lắc đầu: “Chỉ có thể gặp mà không thể cầu đâu. Trước khi ngao con trưởng thành, không ai biết nó sẽ là một con ngao như thế nào, thậm chí còn không thể phân biệt được chúng với lũ chó con thông thường nữa.” Nói tới đây, gã không khỏi liếc nhìn Cương Lạp đầy cảm thông, nhớ lại năm đó, Cương Lạp cũng là một con ngao bị loài người bỏ rơi.

Đi thêm một đoạn đường nữa, Nhạc Dương lại lên tiếng bắt chuyện: “Chú Cương Nhật Phổ Bạc à, có phải nơi chúng ta sắp đến đây rất nguy hiểm không?”

Cương Nhật Phổ Bạc gật đầu: “Không sai, có hơi nguy hiểm một chút, có điều chỉ cẩn thận thì không gặp vấn đề gì đâu.”

Đội trưởng Hồ Dương nói: “Nơi này trời trong gió nhẹ, cũng không nghe thấy tiếng dã thú gầm gào, sao cậu biết là có nguy hiểm?”

Nhạc Dương nói: “Hồ đội trưởng quên rồi à? Lúc mới đến đây, Mã Bảo nói có nơi rất nguy hiểm mà.”

Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Hả? Các cậu từ chỗ thôn làng của Mã Bảo đến đây à, tôi còn tưởng là Cường Ba trực tiếp đưa các cậu đến đây luôn chứ.”

Nhạc Dương lắc đầu: “Không phải, là Mã Bảo đưa chúng tôi đến, có điều được nửa đường thì anh ta quay trở về rồi, chẳng hiểu vì sao nữa.”

Trác Mộc Cường Ba mỉm cười: “Theo tôi thì chắc anh ta hơi sợ Cương Lạp thôi.”

Cương Nhật Phổ Bạc cũng cười theo, nói: “Đúng vậy, mấy năm trước nhà anh ta mất cừu, còn chưa tra xét cho rõ ràng gì đã đến chất vấn tôi rồi, lúc ấy tranh cãi nẩy lửa lắm. Nhưng Cương Lạp thì không chịu nổi người khác đứng cãi nhau trước cửa nhà, tôi thì chốc lát cũng chưa kịp quát nó dừng lại, khiến Mã Bảo kinh hãi mất một phen. Về sau tôi giúp anh ta tìm lại được cừu, anh ta cũng đến xin lỗi rồi, nhưng mỗi khi thấy Cương Lạp, anh ta vẫn cứ hơi… ha ha…”

“Cương Lạp lợi hại lắm à?” Nhạc Dương nhìn cái bóng phiêu phiêu lướt đi phía trước, thế nào cũng không thể liên hệ được con chó to tướng vùi đầu vào lòng Trác Mộc Cường Ba nũng nịu ấy và hai chữ “lợi hại” với nhau.

Dường như Cương Lạp nghe ngóng được gì đó, liền ngoảnh đầu lại hướng về phía Cương Nhật Phổ Bạc sủa lên hai tiếng “oắt oắt” bất mãn. Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Đừng coi thường Cương Lạp nhà chúng tôi, người ta hay nói hổ cái phát uy thế này thế nọ, chứ không biết Cương Lạp nhà này mà nổi giận lên thì…”

Cương Lạp nghe thế thì cuống lên, xông đến cắn gấu áo Cương Nhật Phổ Bạc, không ngừng giật giật, trong cổ họng phát ra những tiếng gầm gừ trầm đục, thái độ uy hiếp càng rõ rệt hơn nữa, rõ ràng là đang nói: “Không được kể tiếp! Không được kể tiếp!”

Cương Nhật Phổ Bạc cười phá lên: “Được rồi, được rồi, không nói, không nói nữa. Thực ra những lúc Cương Lạp dịu dàng, thì không ai hiểu lòng hơn nó đâu.” Khi ấy Cương Lạp mới chịu nhả mõm, lướt ra xa như một làn khói. Cương Nhật Phổ Bạc chăm chú nhìn theo bóng lưng con chó cưng, ánh mắt thấm đẫm tình cảm. Trông ánh mắt ngước nhìn Cương Lạp của anh ta, Nhạc Dương dường như cũng hiểu ra điều gì đó, chẳng trách Cường Ba thiếu gia không mượn được Cương Lạp, Cương Lạp chính là một phần của sinh mệnh chú Cương Nhật Phổ Bạc rồi còn gì, đừng nói là một ngày, dù chỉ một phút, một giây chú ấy cũng không thể rời Cương Lạp được. Không có Cương Lạp, Cương Nhật Phổ Bạc làm sao có thể một mình sống dưới ngọn núi tuyết cô liêu lạnh lẽo này suốt mười mấy năm ròng được cơ chứ.

Tiếp tục đi về phía Nam mười mấy phút nữa, đường đi càng lúc càng cao dần, đã đi vào khu vực khe rãnh nhấp nhô, không biết bản thân đang ở chỗ nào nữa rồi. Nhạc Dương đưa mắt quan sát xung quanh, nhận diện phương vị, rồi nói: “Hình như từ nãy đến giờ chúng ta đều đi về phía Nam.”

Đội trưởng Hồ Dương gật đầu xác nhận: “Không sai.”

Nhạc Dương nói: “Không biết có gặp mấy người nhóm lạt ma Á La không nhỉ?”

“Hử?” Cương Nhật Phổ Bạc nói, “Các cậu còn những người khác nữa à?”

Trác Mộc Cường Ba liền nói lại việc họ phân làm ba nhóm chia ba hướng thăm dò tìm đường lên núi. Cương Nhật Phổ Bạc nghe xong nghiêm giọng nói: “Họ gặp nguy hiểm rồi!”

Trác Mộc Cường Ba thoáng nghĩ ngợi trong giây lát, lạt ma Á La, Ba Tang, Trương Lập, ba người này đi chung với nhau thì có thể gặp nguy hiểm gì cơ chứ? Gã liền đáp: “Họ không gặp chuyện gì đâu, ba người ấy thân thủ còn tốt hơn cả tôi nữa ấy chứ.”

Cương Nhật Phổ Bạc lắc đầu: Con người không sợ hiểm nguy, đáng sợ nhất là người ta không biết đấy là nguy hiểm.”

Nhạc Dương đột nhiên kiễng chân lên ngước nhìn lớn tiếng hỏi: “Ồ, đó không phải nhóm của lạt ma Á La đấy hay sao? Trương Lập! Anh Ba Tang! Lạt ma Á La! Ở đây! Chúng tôi ở đây!”

Cương Nhật Phổ Bạc giờ mới thở phào nhẹ nhõm: “Cũng may.” Cương Lạp cũng quay lại, nhìn bốn người lạ đằng xa.

Lạt ma Á La đã đến gần. Nhạc Dương bước lên đón rồi hỏi: “Thế nào rồi?”

Ba Tang lắc đầu, nhìn bộ dạng thì họ cũng không tìm thấy đường thích hợp để lên núi. Ngay sau đó, họ liền trông thấy Cương Lạp, sắc hải lam khắp thân nó đang nhạt dần rồi ẩn đi, thoạt nhìn trông như thêu lên chi chít khắp mình những ngôi sao nhấp nháy hải lam. Nhưng Cương Lạp nhìn mấy người bọn họ thì không được thiện cảm cho lắm, nó cảnh giác nhìn chằm chằm vào Ba Tang, không giận không sủa, cả móng vuốt cũng cẩn thận thu về, nhưng khí thế ẩn trong ánh mắt thì đến cả người như Ba Tang cũng dường như không chịu đựng nổi. Cả Cương Nhật Phổ Bạc cũng thôi không cười nữa, không đợi Trác Mộc Cường Ba giới thiệu, đã đi lên trước, mục tiêu nhằm thẳng vào Ba Tang. Cương Lạp lặng lẽ im lìm đi theo sát phía sau.

Ba Tang cảnh giác, xuất phát từ một thứ bản năng, bàn tay anh ta đã đặt lên cán dao găm. Không ngờ, Cương Nhật Phổ Bạc chỉ lướt qua bên cạnh, điềm đạm ném lại một câu: “Sát khí trên người cậu nặng quá, Cương Lạp không thích cậu, cẩn thận một chút.” Cương Lạp liếc anh ta một cái, rồi cũng đi qua. Ba Tang lúc ấy mới nhận ra, khi một người, một chó này lại gần, khí thế đè nén ấy khiến anh ta cảm thấy khó thở, điều này thì cả Cường Ba thiếu gia cũng không thể làm nổi.

Chỗ Cương Nhật Phổ Bạc và Cương Lạp dừng lại, tình cờ lại ở ngay trước mặt lạt ma Á La. Khóe miệng Cương Nhật Phổ Bạc nở ra một nụ cười lạnh lẽo, anh ta hạ giọng: “Lâu lắm không được gặp cao thủ chân chính rồi, phải không, Cương Lạp, mày cũng không kìm được muốn đọ sức với ông ấy một phen rồi đúng không?” Cương Lạp phấn chấn tinh thần, bốn chân đứng vững, cùng với chủ nhân đứng đối diện với đại sư, hai người một chó ngao xếp thành hình chữ phẩm (品).

Lạt ma Á La còn chưa hiểu chuyện gì, nghi hoặc hỏi: “Anh là?” Bỗng nhiên, ông nhìn thấy hoa văn trang trí trên cán đao của Cương Nhật Phổ Bạc, lớn tiếng kêu lên, “Anh là…”

Lời còn chưa dứt, đao của Cương Nhật Phổ Bạc đã rời vỏ, vạch một đường cong trên không trung, cắt thẳng vào trước mặt lạt ma Á La. Đại sư tâm theo ý động, không lùi mà còn tiến lên trước, vươn tay ra đúng vào khoảnh khắc lưỡi đao cắt tới, tay không đoạt vũ khí, trực tiếp túm lấy cổ tay cầm đao của Cương Nhật Phổ Bạc. Chiêu này sớm đã nằm trong dự tính của Cương Nhật Phổ Bạc, cổ tay anh ta hơi nghiêng đi, chuyển thành thế chặt xuống, nếu lạt ma Á La không chịu thu tay thì chẳng khác nào tự mang tay mình ra hứng lấy lưỡi đao, còn nếu rút tay về đánh tiếp thì lưỡi đao của Cương Nhật Phổ Bạc sẽ lập tức chuyển thế chém thành đòn đâm, lạt ma Á La ắt sẽ hoàn toàn rơi vào thế bị động.

Giỏi thay cho lạt ma Á La, trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, không ngờ lại không chịu thu tay về, mà cũng thuận thế lật cổ tay theo lưỡi đao, đồng thời xòe tay ra vỗ mạnh vào mặt bên thân đao. Cương Nhật Phổ Bạc chỉ thấy bàn tay tê rần, suýt nữa thì không giữ được vũ khí, đợi khi anh ta nắm chặt đao định biến chiêu khác thì đã bị lạt ma Á La nắm lấy cổ tay rồi, năm ngón tay của ông mà bóp chặt lại thì khác nào gọng kìm thép giữ chặt. Đúng lúc then chốt ấy, Cương Nhật Phổ Bạc khẽ quát một tiếng: “Cương Lạp!”

Mệnh lệnh vừa phát ra, Cương Lạp tức khắc hành động, cái bóng lao vút lên khỏi mặt đất so với ánh đao lúc nãy của Cương Nhật Phổ Bạc không hề chậm hơn chút nào, hàm răng trắng muốt nhằm thẳng vào cánh tay lạt ma Á La cắn tới. Nếu lần này ông còn không thu tay về, chỉ sợ khó mà giữ được cánh tay ấy. Lạt ma Á La không hề suy nghĩ đã rụt tay giật trở về tránh khỏi hàm răng sắc nhọn của Cương Lạp, kế đó lại vươn ra ấn xuống đầu con ngao, rút tay rồi lại vươn tay nhanh đến nỗi dường như ông cơ bản chưa từng nhích động vậy.

Thật không ngờ, thân thể đang chồm lên không trung của Cương Lạp tựa như con ngựa bị ghìm cương, nói dừng là dừng luôn, đột nhiên ngoảnh đầu ngược lại, vẫn nhằm chuẩn vào cánh tay lạt ma Á La. Lúc này Cương Nhật Phổ Bạc cũng đã nắm chặt cán đao, đâm vòng qua bên dưới bụng Cương Lạp. Lạt ma Á La không còn lối tránh né, đành phải thu tay về đồng thời lùi một bước nhỏ.

Một đao của Cương Nhật Phổ Bạc rõ ràng đã không thể đâm trúng lạt ma Á La được nữa, nhưng anh ta vẫn không hề do dự đâm thẳng tới cho hết đà. Lạt ma Á La đang tưởng rằng đây là sơ hở, thì một sự việc khó có thể tưởng tượng đã xảy ra, thân thể đang ở trên không trung của Cương Lạp xoay một vòng, đạp lên cánh tay vươn thẳng ra của Cương Nhật Phổ Bạc, mượn lực đổi hướng, đột nhiên bổ nhào lao thẳng tới trước mặt vị lạt ma già.

Đối mặt với một thể khổng lồ ập tới như vậy, chỉ trong thời gian ngắn ngủi tựa tia lửa xẹt lên khi đập hai tảng đá vào nhau, trong đầu lạt ma Á La đã diễn lại tất cả các chiêu thức mình từng học được, nhưng vẫn không tìm ra tư thế nào thích hợp để xuất thủ. Ánh bạc lấp lóa, thanh đao của Cương Nhật Phổ Bạc tựa như con rắn độc theo sát phía sau Cương Lạp đâm tới. Lạt ma Á La vừa lùi một bước, thế đứng còn chưa vững, phen này vô kế khả thi, đành phải thuận đà tiếp tục thoái lui, lần này ông phải liên tiếp lùi ba bước mới tránh được thế vồ của Cương Lạp. Cương Nhật Phổ Bạc và Cương Lạp cũng không tiếp tục truy kích, chỉ cười lên ha hả: “Không biết pháp hiệu của thượng sư là gì?”

Lạt ma Á La đáp: “Á La Cách Quả.”

Cương Nhật Phổ Bạc lập tức lộ vẻ trang nghiêm kính trọng: “Quả nhiên là Mật tu giả, lợi hại.”

Lạt ma Á La liếc mắt sang phía mấy người bọn Trác Mộc Cường Ba, hạ giọng nói: “Thật không ngờ, ở đây gặp được… hậu duệ của Bạch Ngân.”

Lạt ma Á La giao chiến với Cương Nhật Phổ Bạc và Cương Lạp, chỉ trong khoảnh khắc đã phân thắng bại rồi tách ra, thời gian tổng cộng chưa được hai cái nháy mắt, sau đó liền thấy đại sư sải chân bước lùi, Trác Mộc Cường Ba định lên tiếng ngăn cản, còn chưa kịp kêu lên thì mọi sự đã kết thúc rồi, còn Trương Lập đang mải nói chuyện với Nhạc Dương thì thậm chí còn chẳng trông thấy gì. Lúc Trác Mộc Cường Ba chạy đến bên cạnh hai người, không khí đã trở nên hết sức hòa hợp thoải mái, gã giới thiệu qua mấy người với nhau, rồi lấy làm nghi hoặc: “A quả, đại sư, vừa nãy hai người…”

Cương Nhật Phổ Bạc cười cười với Trác Mộc Cường Ba: “Không có gì, vừa nãy Cương Lạp cảm giác được ở đây có một vị cao thủ cực kỳ lợi hại, tôi nhất thời ngứa tay muốn thử một phen thôi. Ha ha, không ngờ còn có cả Mật tu giả giúp đỡ mấy cậu, vậy thì dọc đường chắc các cậu không phải gặp trở ngại lớn gì đâu.”

Lạt ma Á La cười khổ nói: “Mật tu giả cũng là người, vừa nãy chẳng phải tôi đã không địch nổi anh và con Tuyết… Hải, Hải lam thú! Đây là một con Hải lam thú!” Lúc này vị sư già mới nhìn rõ thần vận khí thế của Cương Lạp, không khỏi thở dài than rằng, “Chẳng trách nó lại có tốc độ và sự biến hóa khéo léo nhường ấy, không ngờ lại chính là linh ngao trong truyền thuyết!” Ông khẽ gật gật đầu, tựa hồ vừa nãy có thua cũng chẳng hề oan uổng chút nào.

Trác Mộc Cường Ba đã từng ở chung với Cương Lạp một thời gian dài, nhưng gã cũng chưa từng được chứng kiến Cương Lạp chiến đấu. Vừa nãy Cương Lạp xoay chuyển đảo mình trên không trung, một chiêu ấy quả thực hết sức tinh diệu độc đáo, lại còn tâm ý tương thông với Cương Nhật Phổ Bạc, phối hợp liền lạc như cáo trời không vết rách, chó ngao bình thường sao có thể làm nổi điều này cơ chứ, e rằng chỉ có chiến ngao trong truyền thuyết mới có bản lĩnh như vậy mà thôi. Gã hơi oán trách nói với Cương Nhật Phổ Bạc: “A quả, Cương Lạp là chiến ngao phải không, vậy mà từ đầu chí cuối anh vẫn không chịu cho tôi biết!”

Cương Nhật Phổ Bạc xoa xoa lên trán Cương Lạp, cười lạnh lùng: “Chiến ngao à? Ha ha, nếu Cương Lạp là một con chiến ngao, chỉ e vừa nãy vị đại sư Á La này đã nằm xuống đó rồi.”

Trác Mộc Cường Ba kinh ngạc thốt lên: “Anh nói gì vậy?”

Lúc này Cương Nhật Phổ Bạc đang quan sát những người đến cùng với lạt ma Á La. Vị đại sư vừa đọ sức với mình thì không cần nói, người bên cạnh trông lạnh lùng tàn khốc đến độ không cần hóa trang cũng có thể đi diễn vai sát thủ được, không hiểu đã giết bao nhiêu người rồi, rõ ràng là một tay sống sót trên chiến trường; anh chàng trẻ tuổi đang nói chuyện với Nhạc Dương trông cũng rắn chắc khỏe mạnh, thoạt nhìn biết ngay là hảo thủ được huấn luyện kỹ càng. Anh ta quay sang nhìn Trác Mộc Cường Ba nói: “Mọi người đợi tôi một lát.” Nói đoạn liền bước thẳng đến chỗ anh chàng người Đạt Mã dẫn đường cho nhóm của lạt ma Á La.

Sói

Lạt ma Á La quan sát kỹ Cương Lạp, đoạn gật đầu nói: “Không sai, chiến ngao không cần con người ra lệnh, chúng sẽ tự căn cứ vào tình hình trên chiến trường mà phán đoán ra thực lực của hai bên địch ta. Nếu trong cuộc đọ sức vừa nãy, bên cạnh có một con chiến ngao, nó sẽ ra tay vào khoảnh khắc chiêu số của tôi kết thúc, biến hóa đã hết, tấn công lúc đối phương không phòng bị, một đòn là chí mạng ngay. “Không hiểu vì sao, nhìn thấy Cương Lạp chiến đấu, lại nghe lạt ma Á La nói đến chiến ngao, Trác Mộc Cường Ba bất giác nhớ đến ba anh em nhà sói xám họ gặp ở Khả Khả Tây Lý. Cũng đã gần hai năm rồi, không biết ba anh em nhà chúng bây giờ ra sao, bàn tay gã lần đến chiếc túi đựng đồ quý, cây sáo xương vẫn lặng lẽ nằm bên trong đó.

Nhạc Dương và Trương Lập cũng chạy đến, hấp tấp hỏi: “Vừa nãy sao thế, hình như tôi thấy chú Cương Nhật Phổ Bạc và đại sư đánh nhau hả?”

“Không có gì.” Lạt ma Á La điềm đạm lắc đầu, “Anh Cương… Cương Nhật Phổ Bạc này là một võ sĩ, vừa nãy chúng tôi thử sức một chút thôi.” Ông đưa mắt liếc sang phía Cương Nhật Phổ Bạc, chỉ thấy anh ta đang nói mấy câu gì đó với anh chàng người Đạt Mã tên là Kiên Tăng kia. Chàng trai trẻ biến sắc, lắc đầu lia lịa, rồi lại ngược sang phía họ, gật gật đầu không ngừng…

“Các vị! Các vị!” Cương Nhật Phổ Bạc lớn tiếng nói, “Các vị, tôi định đưa Cường Ba đến một nơi, nhưng mà ở chỗ ấy, chỗ ấy hơi nguy hiểm một chút. Tôi thấy tất cả đều là người từng được huấn luyện, không biết mọi người có muốn đi chung không? Nếu không thích, thì giờ Kiên Tăng phải về làng, cậu ấy sẽ đưa mọi người về.”

Trương Lập cũng nghe Nhạc Dương nhắc đến chuyện này, liền cao giọng hỏi: “Chú Cương Nhật Phổ Bạc à, thế chúng ta đi đâu vậy?”

Cương Nhật Phổ Bạc ngoảnh sang nhìn Nhạc Dương và Trương Lập: “Các chàng trai, hai cậu có sợ sói không?”

Nhạc Dương còn chưa kịp đáp lời, hai mắt Trác Mộc Cường Ba đã sáng rực lên, trông hệt đứa trẻ sáu tuổi đột nhiên nghe thấy sắp được đi công viên Disney vậy. Gã vội hỏi: “Sói! Ở đây có sói hả? Phát hiện ra lúc nào thế? Lần trước tôi đến có nghe anh nói gì đâu?” Cương Nhật Phổ Bạc mỉm cười: “Tôi đã bảo chắc chắn cậu sẽ hứng thú mà. Sau khi cậu đi lũ sói mới đến vùng này, trước sau ba đợt, đặc biệt là đợt cuối cùng, tôi đảm bảo là cậu chưa thấy bao giờ. Hôm nay chúng có chiến dịch lớn, thế nào, có muốn đi xem không?”

Nhạc Dương thắc mắc: “Chiến dịch lớn gì vậy?”

Cương Nhật Phổ Bạc đáp: “Mấy hôm trước có một đàn bò Yak hoang đi qua lãnh địa của lũ sói, bị đàn sói bao vây rồi. Hôm nay, bọn chúng sẽ quyết chiến một trận. Cương Lạp đã ngửi thấy mùi thuốc súng, giờ đi nhanh nhanh lên thì vừa vặn kịp xem đó.”

“Gì hả, đàn sói và đàn bò Yak quyết chiến hả!” Nhạc Dương kích động đến nỗi lạc cả giọng đi. Từ sau khi nghe lạt ma Á La kể chuyện thú chiến, bọn họ vẫn cứ cảm khái rằng mình sinh muộn mất một nghìn năm, giờ ở ngay trước mắt lại có một màn hay như vậy, có lẽ so với cuộc chiến năm xưa cũng không khác nhau là mấy đâu.

Cương Nhật Phổ Bạc nhìn mọi người, Nhạc Dương và Trương Lập thì kêu gào nhất định đòi đi cho được, lạt ma Á La thì thế nào cũng xong, đội trưởng Hồ Dương thoáng suy nghĩ một chút rồi nói: “Cũng tốt, tiện thể thăm dò địa hình luôn.” Ba Tang dường như đang nhớ lại chuyện gì đó trong quá khứ, khóe miệng giật giật liên hồi, không nói câu nào, thấy Nhạc Dương ngước nhìn sang, anh ta lại kiên định gật đầu.

Mọi người thương lượng một hồi, ai cũng đồng ý đi, Kiên Tăng trở về làng trước, rồi cả đám người còn lại tiếp tục theo chân Cương Lạp, trèo lên dốc phía Nam.

Cương Nhật Phổ Bạc nhìn lại, thấy tính cả mình vào thì tổng cộng đã có tám thành viên, không khỏi lẩm bẩm nói: “Tám người, hơi nhiều rồi, cũng không biết là tốt hay không tốt nữa.” Anh ta trông thấy thiết bị đo đạc trong tay Nhạc Dương, đột nhiên sực nhớ ra điều gì đó, liền hỏi Trác Mộc Cường Ba: “Các cậu có thiết bị liên lạc gì không?”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu. Cương Nhật Phổ Bạc cuống lên nói: “Tắt hết, tắt hết, sẽ bị phát hiện đấy.” Trác Mộc Cường Ba ngẩn người, không biết sóng điện từ có thể bị bầy sói phát hiện ra hay không, nhưng Cương Nhật Phổ Bạc đã lo lắng như thế, thì gã cũng đành báo lại tình hình cho Lữ Cánh Nam rõ, rồi cùng mọi người tắt hết các thiết bị truyền tin.

Đi thêm một lúc nữa, Trác Mộc Cường Ba lại hỏi: “Lũ sói đến vùng này từ khi nào thế?”

Nhạc Dương cũng hỏi: “Tổng cộng có bao nhiêu con bò Yak hoang? Nghe khẩu khí lúc nãy của chú thì dường như bầy sói chiếm ưu thế hơn phải không?”

Cương Nhật Phổ Bạc nhìn hai người hai bên trái phải của mình, rồi trả lời Nhạc Dương trước: “Bầy bò Yak hoang ấy độ chừng có năm sáu chục con. Có điều sói là thiên địch của bò Yak, có lúc ba hay năm con sói đã có thể khiến cả bầy bò Yak hoảng loạn thất kinh rồi, huống hồ là lần này chúng không hề chiếm ưu thế về số lượng. Tôi cho rằng chúng thất bại là cái chắc, chúng ta xem là xem bầy sói dùng cách nào để chiến thắng thôi.”

Nghe nói bầy bò Yak không chiếm ưu thế về số lượng, Trác Mộc Cường Ba bất giác liếc mắt sang nhìn Cương Nhật Phổ Bạc. Cương Nhật Phổ Bạc cũng biết gã định nói gì, liền đáp luôn: “Cậu đi xem là biết ngay thôi, bầy sói này đảm bảo khác với tất cả những bầy sói mà cậu từng thấy trước đây.” Nói rồi anh ta ngước nhìn lên phía trước, thấy Cương Lạp đang chạy ở phía xa, mới trả lời câu hỏi đầu tiên của Trác Mộc Cường Ba, “Lúc trước tôi nói rồi còn gì, trước sau có ba đợt, đại khái là sau khi cậu đi không bao lâu thì đợt đầu tiên đến, Cương Lạp phát hiện ra bọn chúng. Con đầu đàn trước đây thì tôi chưa gặp lần nào, có điều thủ lĩnh của chúng bây giờ là một con sói trắng, một con Bạch nhãn lang!”

Cương Nhật Phổ Bạc gằn giọng nói, nhưng lại hạ giọng xuống rất thấp: “Đàn sói thứ hai đến đây vào khoảng bốn năm trước, chúng với đàn sói đầu tiên mỗi bọn chiếm một khu, từ trước đến giờ đều không có xung đột gì, con đầu đàn chắc là đã già rồi, lưng nó gù lên hơi giống lưng bò Yak hoang, tôi gọi nó là con Lưng gù. Hai đàn sói này đều chẳng khác gì các đàn sói thông thường cả, một đàn kiểu gia tộc, có khoảng mười lăm mười sáu con; đàn thứ hai là kiểu tập đoàn, đại khái có khoảng hai bảy hai tám con gì đó, theo tôi quan sát thì đại khái đàn này do bốn gia tộc sói hợp lại mà thành, nếu không phải do Cương Lạp thì có khi tôi cũng chẳng buồn quan tâm đến sự tồn tại của chúng làm gì. Nhưng đàn sói thứ ba thì hơi có chút cổ quái, nếu kết quả mấy lần thống kê của tôi chính xác, thì tổng số lượng bọn chúng là khoảng tầm trên dưới hai trăm con.”

Đội trưởng Hồ Dương trợn tròn mắt lên: “Không thể như vậy được!”

Nhạc Dương tò mò thắc mắc: “Sao lại không thể chứ?”

Đội trưởng Hồ Dương lắc đầu: “Cậu không hiểu loài sói rồi, tuy sói là động vật quần cư, nhưng quần cư không có nghĩa là tụ tập một cách vô độ, điều này do nhiều nhân tố khác nhau như môi trường, thức ăn, gia tộc… kết hợp lại quyết định. Một đàn sói thông thường chính là một gia tộc, do một cặp vợ chồng sói đầu đàn dẫn các con cùng đi săn mồi, số lượng từ bảy đến mười hai con là ưu việt nhất, cực kỳ ít thấy đàn nào vượt quá hai mươi con. Chỉ khi đến mùa đông, con mồi ít đi, cần phải vây bắt các con mồi lớn thì mấy gia tộc sói đã quen biết, lại có lãnh địa gần nhau mới tập hợp lại thành một đàn lớn, có điều đông nhất thì số lượng cũng chỉ tầm ba bốn chục con, do một đôi vợ chồng sói ưu tú nhất, kinh nghiệm phong phú nhất làm thủ lĩnh. Còn chuyện hai trăm con sói tập trung một chỗ thì ít nhất là tôi chưa từng thấy bao giờ, chỉ có trong tiểu thuyết mới viết như vậy thôi. Việc này liên quan đến vấn đề số lượng vật săn và phân chia chiến lợi phẩm… vì khi bầy sói đi săn thì mỗi một con sói trưởng thành đều phải tham gia chiến đấu, hơn nữa còn phải đảm bảo rằng mỗi một con sói trưởng thành đều được phân chia cho đủ lượng thức ăn dành cho nó. Phải biết rằng, sói là loài động vật ăn tạp nhưng chủ yếu là ăn thịt, theo các nhà sinh vật học tính toán, khi số lượng một đàn sói vượt quá hai mươi con, hiệu suất săn bắt không những tăng lên mà ngược lại còn giảm đi đáng kể, sự sinh tồn của cả bầy sói sẽ rất khó duy trì được. Hai trăm con sói mà sống chung với nhau, trừ phi là chúng học được khai hoang cày cấy, ăn ngô thay thịt thì còn tàm tạm…”

Nhạc Dương trầm ngâm nghĩ ngợi, nhìn bộ dạng như hiểu mà lại như không hiểu. Trương Lập thì nghe chẳng biết đâu vào đâu, lẩm bẩm một mình: “Tôi vẫn không hiểu, nói như thế nào thì nói, một quần thể bao giờ chẳng càng đông càng tốt sao?”

Cương Nhật Phổ Bạc liền lên tiếng: “Lý luận về tổ hợp hiệu quả nhất khi đi săn của đội trưởng Hồ tôi cũng từng nghe nói đến rồi, nhưng chuyện đó phải có điều kiện tiên quyết trước đã. Ý tôi là, trong hoàn cảnh số lượng con mồi có hạn, sự khác biệt giữa đàn sói này và đàn sói khác không lớn, mỗi đàn đều có lãnh địa riêng và bị hạn chế phạm vi săn bắt, để bảo đảm bầy đàn của mình có thể tiếp tục sinh tồn về sau, bọn chúng mới cần thiết phải hạn định số lượng sói trong đàn. Khi số lượng vượt quá giới hạn mà vùng lãnh địa của bầy đàn có thể cung dưỡng, bầy sói sẽ tự động trục xuất những cá thể yếu nhược, đạo lý này cũng giống như các công ty lớn cắt giảm nhân viên khi kinh tế gặp khó khăn vậy. Có điều, quan điểm này chỉ được lập luận chứng minh trên giấy mà thôi, mấy nhà sinh vật học kia đã quá coi thường lũ sói rồi. Cậu cũng biết rồi, đến mùa đông khi đồ ăn thiếu thốn, các gia tộc sói sẽ gác bỏ thành kiến, hợp lại thành đàn lớn để tiến hành săn bắt trên diện rộng. Mà cậu có biết, các gia tộc sói dựa vào sự lớn mạnh của thực lực để phân định phạm vi lãnh địa hay không; cậu cso biết rằng, giữa các gia tộc sói, ngoài tổ hợp kết hợp ra, còn có xua đuổi và thôn tính lẫn nhau nữa hay không, cậu có biết hai gia tộc sói ở cạnh nhau tiến hành đàm phán, khiêu chiến, rồi dẫn đến chiến tranh như thế nào hay không, rồi chúng còn mai phục, vây công, thực hiện hành động đánh rắn chặt đầu với thủ lĩnh gia tộc đối phương, hoặc giả dẫn dụ các con sói trẻ tuổi của quân địch bỏ đàn, hay tìm những con sói đơn độc, để nó trở thành chốt cắm bên phía quân địch của mình nữa, những điều này cậu đã nghe nói đến bao giờ chưa?”

Mấy người bọn đội trưởng Hồ Dương nghe mà trợn mắt há hốc miệng ra. Cương Nhật Phổ Bạc nói một hơi dài như vậy, phải đứng trên dốc núi nghỉ một chút rồi mới tiếp tục sải chân đi theo Cương Lạp, ngoảnh lại nói với đội trưởng Hồ Dương: “Trên thực tế, vì quan sát bầy sói là một chuyện hết sức nguy hiểm, thêm vào đó là bản thân lũ sói cũng không dễ dàng để kẻ khác theo dấu, số lượng lại càng ngày càng ít, đừng nói là các cậu, đến cả bản thân tôi canh chừng lũ sói ấy bao nhiêu năm rồi, cũng chỉ lén lút quan sát thấy có vài lần thôi. Thế nên tôi mới nói, lần này dẫn mọi người đi xem sói sẽ hoàn toàn khác với những gì mọi người tưởng tượng trong đầu.”

Nhạc Dương thoáng ngẩn người, rồi chạy đuổi theo hỏi: “Những gì chú vừa nói, toàn là về bầy sói thứ ba phải không?”

Cương Nhật Phổ Bạc thầm khen anh chàng này là người cơ cảnh, chỉ dựa vào chuyện mình nói hai bầy sói đầu tiên đều rất bình thường mà đã đoán ra được những gì nói về sau đều là hành vi của bầy sói thứ ba, liền gật đầu đáp: “Đúng thế. Cậu không biết đấy thôi, quan niệm về lãnh địa của sói vốn rất mạnh. Một là vì tính ỷ lại, dù sao thì đấy cũng là nơi chúng nó sinh ra và trưởng thành; hai là vì chúng không tác chiến trong hoàn cảnh không quen thuộc, mỗi một con sói, có thể nói đều nắm rõ lãnh địa của gia tộc mình như lòng bàn tay vậy, đối với chúng, đây là một kỹ năng bắt buộc phải nắm vững. Thế nhưng, lãnh địa của lũ sói cũng không phải là bất biến, nếu gặp phải thiên tai, chẳng hạn như hạn hán hoặc giá lạnh kéo dài dẫn đến không thể duy trì được nguồn thức ăn, khi ấy sẽ xuất hiện một tình huống hiếm thấy, cũng chính là điều mà chúng ta sắp xem bây giờ đây.”

“Là gì thế?” Nhạc Dương nôn nóng hỏi. Cương Nhật Phổ Bạc đưa mắt nhìn Trác Mộc Cường Ba, mỉm cười: “Những chuyện này đều do Cường Ba kể với tôi.”

“Sói di cư!” Trác Mộc Cường Ba tiếp lời, “Chuyện này phải có điều kiện tiên quyết. Trước tiên, phải xuất hiện một gia tộc cực kỳ lớn mạnh. Sói cũng như người vậy, cũng có thiên phú thiên bẩm, có những lúc, trong một gia tộc nào đấy đột nhiên xuất hiện một con sói thủ lĩnh hết sức cường tráng, hoặc rất có mưu lược, dưới sự lãnh đạo của nó, gia tộc ấy chắc chắn sẽ lớn mạnh hơn những gia tộc sói ở xung quanh lãnh địa của chúng. Khi gia tộc sói đó lớn mạnh đến độ có thể coi các gia tộc xung quanh không có trong con mắt mình, chúng đồng thời cũng sẽ chẳng buồn để tâm đến quy tắc ngầm về lãnh địa kia nữa. Trong mắt gia tộc ấy, sẽ không còn biên giới lãnh địa gì hết cả, chúng sẽ chiếm cả lãnh địa của các gia tộc sói khác. Những gia tộc yếu hơn, chỉ có thể lựa chọn phục tùng hoặc bị trục xuất, khi ấy, cả bầy sói đã bắt đầu chuyển từ gia tộc sang tập đoàn lớn, các gia tộc phụ thuộc tề tựu xung quanh gia tộc chiếm ưu thế này dần mỗi lúc một nhiều. Khác biệt ở chỗ, chúng không đơn thuần là một tập đoàn hợp tác, mà trở thành một tập đoàn chiến lược có đẳng cấp rõ ràng theo quan hệ hình bậc thang. Điều kiện thứ hai, chính là môi trường sống thay đổi. Ở những lãnh địa dồi dào vật săn sẽ không xuất hiện những gia tộc sói mạnh mẽ đến độ đáng sợ như thế, chỉ có những nơi vật săn thiếu thốn, lãnh địa không thể tiếp tục duy trì sinh kế, giữa các gia tộc không ngừng có tranh đấu, mới đột nhiên có một gia tộc nào đó nổi bật lên. Khi chúng đã tập hợp thành một tập đoàn, mà cả vùng lãnh địa lớn ấy vẫn không đủ vật săn để nuôi sống tất cả, thì cả tập đoàn đó sẽ nảy sinh biến đổi về chất, chúng sẽ từ sói lãnh địa biến chuyển thành sói di cư. Chúng bị bức bách phải di chuyển từ nơi chôn rau cắt rốn của mình đi xa mấy nghìn hoặc mấy chục nghìn cây số để tìm kiếm môi trường sinh tồn. Điểm khác biệt lớn nhất giữa sói lãnh địa và sói di cư nằm ở số lượng vì trên con đường bôn ba dài đằng đẵng, không thể tính đếm hết những khó khăn còn chưa biết đến, nếu không đủ số lượng để duy trì bầy đàn, lũ sói căn bản không dám di chuyển trên phạm vi rộng. Di cư là phương pháp bầy sói bị bức bách phải sử dụng để tiếp tục sinh tồn, lúc ấy thì không phải là mấy chục con, mấy trăm con, mà thậm chí còn xuất hiện trường hợp cả mấy nghìn con sói tụ tập lại với nhau. Có điều, những hiện tượng này chỉ xuất hiện ở những nơi không có người sinh sống, mọi người không đọc được những thông tin này, đó là bởi chưa từng có ai nhìn thấy, giả như có người nhìn thấy thì tỉ lệ sống sót của những kẻ ấy cũng gần như bằng không. Hơn nữa, hiện nay số lượng sói ở Trung Quốc cũng chỉ có vài nghìn con, tới đây có thể nhìn thấy hơn trăm con sói tụ tập với nhau, e sẽ là lần duy nhất trong đời chúng ta đó.”

Trương Lập kinh ngạc thốt lên: “Hơn nghìn con sói tụ tập lại thành bầy di cư, anh nghe được chuyện này ở đâu thế, Cường Ba thiếu gia?”

Trác Mộc Cường Ba điềm đạm đáp: “Nếu cậu già hơn bây giờ ba chục tuổi, lại sống ở các vùng như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông thì có thể cậu sẽ được nhìn thấy đó.”

Nhạc Dương liền xen vào: “Nói vậy thì chắc Cường Ba thiếu gia đã tận mắt thấy sói di cư rồi. Nói cho chúng tôi nghe xem nào, lũ sói di cư anh trông thấy như thế nào vậy?”

Trác Mộc Cường Ba nói: “Dù tôi chưa từng tận mắt trông thấy, nhưng ít nhất tôi cũng được nghe nói đến rồi, mọi người ở với tôi lâu như vậy, chắc là chưa quên tôi học ngành động vật học, chuyên nghiên cứu về động vật họ nhà chó đấy chứ. Muốn nói về sói di cư thì phải đề cập đến rất nhiều mặt, trước tiên phải nói với mọi người một ít kiến thức cơ bản về loài sói đã, như vậy thì sẽ dễ hiểu hơn.” Trác Mộc Cường Ba nhỏ giọng rủ rỉ, kể cho các bạn đồng hành nghe những hiểu biết cơ bản về bầy sói.

Sói thông thường quần cư theo mô hình gia tộc, số lượng từ dăm ba con đến mười mấy con, thường thấy nhất thì có hai loại, thứ nhất là một đôi vợ chồng dẫn dắt bầy con, một tình huống khác nữa là mấy anh chị em nhà sói và lũ con tụ tập lại thành một bầy. Có nhiều lúc, sói tỏ ra rất trung trinh, một vợ một chồng có thể duy trì đến tận cuối đời. Bình thường, trong gia tộc gồm có vợ chồng con cái, đôi vợ chồng bố mẹ sẽ trở thành thủ lĩnh; còn gia tộc loại anh chị em, thì không phân đực cái, con sói nào có kinh nghiệm phong phú, kỹ xảo bắt mồi tốt nhất, cả bầy đàn sẽ nghe theo con sói ấy…

Chế độ đẳng cấp của loài sói hết sức nghiêm ngặt, thể hiện rõ nhất khi chúng ăn mồi, những con cầm đầu được ăn trước, đợi chúng ăn xong, những con khác mới dám lại gần thức ăn; cho dù có cùng ăn một lượt, thì cũng phải phân biệt ra các bộ phận như đầu, mình, chân, những con sói đẳng cấp khác nhau thì ăn thịt ở những bộ phận khác nhau, chỉ có lũ sói cái đang nuôi con nhỏ mới thi thoảng được ưu tiên, nhưng trường hợp này rất hiếm thấy. Thường thì sói phát dục vào đầu mùa đông, những con sống ở khu vực lạnh giá thì vào tháng Tư, hoài thai bốn đến năm tháng, sinh sáu tới bảy con sói con, nhiều thì cũng có trường hợp đẻ mười mấy sói con một lần, chỉ có vợ chồng sói đầu đàn mới có quyền giao phối bất cứ lúc nào, còn những con khác nếu muốn thì đều phải thỉnh thị sói đầu đàn, được phê chuẩn thì mới có quyền giao phối. Còn những đàn sói dạng anh chị em, thì tất cả sói con đều được tập chung về một mối nuôi dưỡng, mỗi một con sói cái đều có cơ hội được làm mẹ…

Lãnh địa của sói đa phần đều là truyền đời kế tục, được xây dựng trên những vùng bình nguyên có quần thể sinh vật phong phú hoặc những con đường quan trọng mà động vật di trú nhất thiết phải đi qua, một đàn sói bảy tám con, thông thường cần một lãnh địa đường kính trên năm chục cây số thì mới duy trì sinh kế được, đường kính lãnh địa của những đàn sói lớn hơn thậm chí còn trên cả trăm cây số. Ngoài săn bắt và nghỉ ngơi, lũ sói còn thường xuyên đi tuần ở vùng biên lãnh địa của mình. Giống như lũ chó, chúng cũng biết chọn những cây to hay tảng đá làm mốc để bài tiết vào, những tảng đá và cây to ấy liền trở thành cột mốc biên giới giữa các lãnh địa. Thường thì lũ sói sẽ không vượt lằn ranh biên giới này. Các lãnh địa sói cũng không trực tiếp liền kề nhau, giữa các lãnh địa thường có vùng đệm, thường khi con mồi chạy vào khu vực công cộng này, đều dẫn đến sự tranh chấp giữa hai gia tộc sói khác nhau…

Sói là động vật kiểu hình học tập, khác với những động vật có ký ức di truyền, cần phải có sói mẹ dạy sói con cách săn bắt. Khi săn mồi, sói đầu đàn sẽ chọn mục tiêu, các con khác đều có tuyến đường và vị trí riêng của mình, từ nhiều hướng khác nhau vây bắt chặn đường vật săn, thông thường thì sự phối hợp này trải qua mấy lần diễn luyện thực chiến là sẽ thông thạo. Rất nhiều gia tộc sói đã phối hợp săn bắt với nhau từ khi còn nhỏ, nên mức độ hiểu ngầm hết sức cao. Khi số lượng con mồi quá đông đảo, bầy sói sẽ xua đuổi vật săn, gây ra sự hỗn loạn trong bầy đàn đối phương, chạy được mấy vòng, chúng sẽ khóa mục tiêu vào những con chạy chậm nhất, những con tàn tật quặt quẹo, hoặc những con nhỏ không được con trưởng thành bảo vệ, sau đó từ tốn khép chặt vòng vây, tập trung lực lượng chiếm ưu thế đối phó với cá thể đơn độc, đây chính là chiến thuật bầy sói sau này được phát triển thành thế trận kinh điển. Khi con mồi chỉ còn đơn độc, đặc biệt là những con mồi cỡ lớn, hoặc những con mồi lớn tuổi một mình rời bỏ bầy đàn, lũ sói ngược lại sẽ không nôn nóng, chúng sẽ theo dấu con mồi từ xa, lần theo vết chân con vật kia để lại, xem xem vật săn của mình có tàn tật hay không; ngửi mùi phân, xem xem con mồi có vấn đề tiêu hóa hay không; quan sát lá cây nhành cỏ bị con mồi gặm ăn xem răng lợi chúng có còn tốt không…

Tỉ lệ săn bắt thành công của sói rất cao, chúng là tập thể coi trọng hiệu suất nhất trong giới sinh vật, những khi có thể tiết kiệm sức lực thì chúng tuyệt đối không tấn công mạnh hay truy cùng giết tận, những lúc có thể tránh được nguy hiểm chúng quyết không mạo hiểm tấn công, nếu chúng phát hiện một con mồi đang ngắc ngoải chờ chết, mà con mồi ấy lại vẫn có thể uy hiếp chúng được, thì đàn sói sẽ vẫn cứ bám đuôi phía sau con mồi ấy. Mười mấy con sói vây thành một vòng cung, cách vật săn khoảng mười mét, nếu con mồi phản kích, cả bầy sẽ tản ra; đợi khi con mồi tiếp tục tiến lên phía trước, chúng sẽ lại tràn lên bao vây, giữ vững đội hình, chỉ cần không phải là sũ sói đã đói khát đến cực độ, thì chúng đều hết sức nhẫn nại. Chúng sẽ chờ đợi, chờ đến khi con mồi cỡ lớn kia già chết, bệnh chết, hoặc giả bị cắn chết…

Nói đến chuyên ngành của mình, Trác Mộc Cường Ba ào ào như suối tuôn, hạ bút thành văn, mặc dù đã cố gắng lược bớt nội dung nhưng vẫn đủ khiến bọn Nhạc Dương, Trương Lập nghe mà thẫn thờ, đều nói nếu hồi xưa thầy cô giáo có thể giảng bài hay như vậy, chắc thành tích học tập của hai chàng đã không kém cỏi đến thế. Nói hết về các tập tính cơ bản của loài sói, Trác Mộc Cường Ba mới kể cho mọi người nghe chuyện sói di cư. Vì thiếu thốn vật săn, lũ sói mới bất đắc dĩ phải rời khỏi vùng lãnh địa bao đời cha truyền con nối, nên chỉ ở những vùng xuất hiện tình trạng đói kém thiếu ăn trên diện tích rộng mới hình thành bầy đàn di cư. Ban đầu bầy đàn di cư do một tập đoàn sói dẫn đầu, dọc đường ở những nơi đi qua lại có thêm các bầy đàn mới gia nhập, bởi vì trong những năm tháng đói kém ấy, không gia nhập đàn sói khác, kết cục duy nhất sẽ là bị đàn sói mạnh hơn ăn thịt. Bọn chúng vẫn lấy gia tộc làm đơn vị tác chiến cơ bản. Trong toàn bộ bầy đàn di cư, lũ sói tự động xếp đặt thành chế độ đẳng cấp dạng kim tự tháp, tầng thấp nhất là những con sói gia nhập bầy đàn cuối cùng, cũng chính là lũ sói bản địa nơi cả bầy đàn di cư đang dừng chân. Trong quá trình chuyển dịch, những bầy sói chấp nhận đầu hàng không chiến đấu gần như không tồn tại, bởi thế vị trí của lũ sói bản địa trong cả bầy đàn di cư cũng giống như là tù binh hay nô lệ vậy, chúng lúc nào cũng đi phía trước cả bầy, một là để dẫn đường, hai là để đề phòng những bầy đàn khác hoặc mãnh thú lớn tập kích, nhưng nếu phía trước xuất hiện con mồi, lũ sói đẳng cấp thấp này lại phải dừng bước, để những con phía sau xông lên săn bắt, dù cho bắt được con mồi thì chúng cũng không thể tự mình hưởng dụng. Những con sói gia nhập sớm hơn một chút ở phần giữa của kim tự tháp thứ bậc, sau một thời gian, hoặc sau khi rời khỏi lãnh địa của mình, chúng sẽ không cần làm tiên phong mở đường nữa, mà chuyển qua hộ vệ phía sau cả bầy đàn, đề phòng những mãnh thú khác tập kích sau lưng. Tầng cao nhất của kim tự tháp, do tập đoàn sói khở phát cuộc di cư này dẫn đầu, cộng thêm mấy gia tộc hoặc tập đoàn sói sống xung quanh chúng nữa, chúng là những kẻ theo gót đầu tiên trong cuôc thiên di, thế nên cũng nhận được đãi ngộ cao hơn. Tập đoàn sói đầu tiên khởi phát cuộc di cư có vị trí cao nhất; trong tập đoàn này, gia tộc lớn mạnh nhất chiếm tầng cao nhất trong kim tự tháp cấp bậc, tộc trưởng của gia tộc này, chính là đỉnh nhọn của kim tự tháp, toàn bộ bầy đàn di cư đều do nó chỉ huy.

Trác Mộc Cường Ba nói, người ta gọi lãnh đạo cao nhất của một gia tộc sói là đầu đàn, còn trong một tập đoàn do mấy gia tộc sói kết hợp lại, lãnh đạo tối cao được gọi là sói thống lĩnh. Chỉ có trong những đàn sói di cư mới xuất hiện vua sói chân chính.

Cuối cùng, gã thở dài cảm thán: “Bầy sói di cư, cũng giống như cuộc vạn lý trường chinh vậy, là một chặng đường hết sức bi tráng. Trên đường đi, sẽ diễn ra vô số trận ác chiến, đến nỗi gần như mỗi con sói đều mang thương tích đầy mình, bất cứ nguồn tài nguyên nào cũng không được bỏ phí, những con sói ngã xuống trên đường đều sẽ lập tức trở thành thức ăn cho đồng bọn của chúng, đến khi thực sự không còn gì có thể ăn nổi nữa, chúng phải gặm cả cỏ cho qua ngày. Trên đường di cư đằng đẵng, thời kỳ phát dục của sói cái sẽ bị trễ hoặc thậm chí là dần dần mất hẳn, bầy sói sẽ tự phát giảm thiểu số lần giao phối, những con sói đẳng cấp thấp thậm chí còn bị cấm giao phối. Cũng không biết cười, thiếu cả ngôn ngữ lẫn ngôn ngữ cơ thể, số lần trao đổi trở nên ít càng thêm ít, tư thế bước đi của chúng cũng khác hẳn với lũ sói bình thường, đuôi kẹp chặt, tai lúc nào cũng vểnh lên, bước chân hết sức cẩn thận dè dặt, gắng để bước nhẹ nhàng nhất theo sát cả bầy đàn, ánh mắt lúc nào cũng đảo tròn quan sát bốn phương tám hướng như lũ cáo cặp mũi kia dù chỉ ngửi thấy một phân tử máu thôi cũng đủ khiến hai mắt chúng biến thành sắc đỏ. Những người chưa từng thấy sói di cư sẽ không thể nào biết, khi những từ tham lam, đói khát được áp lên lũ sói này, rốt cuộc sẽ là một cảnh tượng đáng sợ đến nhường nào.”

Thú chiến

Giọng Trác Mộc Cường Ba từ đầu chí cuối vẫn thấp trầm, nhưng lại khiến người ta rung động, đến cả Cương Lạp cũng thả bước chậm lại, vừa dẫn đường vừa dỏng tai lên lắng nghe, chốc chốc lại ngoảnh đầu nhìn về phía sau một cái. Trương Lập đang định hỏi tại sao chỉ trong bầy đàn di cư mới xuất hiện vua sói thì đã nghe Nhạc Dương tranh hỏi trước: “Không đúng rồi, Cường Ba thiếu gia, anh nói vào những năm đói kém khó khăn mới xuất hiện đàn sói di cư nhưng lúc này có giống như năm tháng đói kém gì đâu nhỉ.”

Trác Mộc Cường Ba gật đầu nói: “Đây cũng chính là điều tôi đang lấy làm khó hiểu, theo lý mà nói thì không thể có nhiều sói như vậy tụ tập lại một chỗ được. Hơn nữa người và súc vật trong làng gần đây đều không gặp phải chuyện gì, bầy sói này dường như không phải tụ tập vì thức ăn đâu.”

Cương Nhật Phổ Bạc chợt lên tiếng: “Mọi người nhỏ tiếng thôi, chúng ta đến rồi.” Anh ta thấp giọng dặn dò mọi người, hễ thấy Cương Lạp nằm rạp xuống thì phải lập tức nằm rạp xuống theo, nếu Cương Lạp quay đầu, tất cả đều phải co giò mà chạy, nhanh bao nhiêu tốt bấy nhiêu.

Giờ cả bọn đang đứng trên lưng chừng núi, sườn núi phía trước trông như một lưỡi dao xuyên thẳng vào giữa chốn núi cao mây mù, không biết phía sau là gì. Chợt thấy Cương Lạp đi trước dẫn đường bỗng nhiên thấp lưng xuống, rạp mình tiến lên với một tư thế hết sức kỳ quái, hai tay Cương Nhật Phổ Bạc ra sức vỗ vỗ xuống, bảo mọi người đều thụp xuống, nửa quỳ hoặc rạp hẳn người mà nhích dần lên cao theo triền núi. Ở chỗ kín gió trên sườn núi có mấy bụi cỏ rậm, Trác Mộc Cường Ba nhận ra được có vài bụi hồng liễu với vài nhành thủy bạc. Cương Lạp rạp xuống sau bụi cỏ nhìn ra ngoài, Cương Nhật Phổ Bạc bảo cả đám chầm chậm lại gần, đang đi bỗng vươn tay giật tung cả rễ của một bụi cỏ không biết tên lên, lẩm bẩm chửi: “Lũ gai dầu này, không ngờ mọc lên cả đến trên đây rồi!”

Nhạc Dương dè dặt thò đầu ra xem, chỉ thấy phía sau triền núi là những rãnh sâu bị sông băng cổ ăn mòn để lại, về sau sông băng tan đi, nơi đây liền trở thành lòng sông cạn lổn nhổn đá cuội trắng, giờ thì những khe rãnh này đã bị cỏ dại và địa y phủ lên những vệt nửa vàng nửa xanh rồi.

Anh chàng thấy thế liền ngoác miệng nói: “Dốc núi ở đây quái lạ thật, sao nhiều nếp gãy thế nhỉ.”

“Đây là dạng địa hình bị sông băng xâm thực,” đội trưởng Hồ Dương lướt tay qua sườn núi góc cạnh, nói tiếp, “những nếp đứt gãy này là dấu vết do lưỡi đao của các dòng sông băng vươn ra để lại. Khu bên dưới bị thung lũng lòng chảo hình chữ U vây quanh kia là di tích của hồ băng cổ đại.”

Đúng như đội trưởng Hồ Dương nói, từ vị trí của họ nhìn xuống phía dưới, những khe rãnh do sông băng cổ xưa để lại hệt như những bậc thang, phóng mắt nhìn ra xa, trông chẳng khác nào khán đài xem Thế vận hội Olympic, còn họ thì đang ở trên tầng cao nhất của khán đài. Nhưng Nhạc Dương đã trợn tròn hết cả mắt lên rồi, mà đừng nói là sói, đến cả bò Yak hoang cũng chẳng thấy đâu. Anh chàng nghi ngờ thị lực của mình có vấn đề, liền dụi dụi mắt nhìn lại, vẫn chẳng thấy gì là sao? Nhưng trong gió dường như đang phảng phất vẳng lại tiếng sói tru, bò rống.

Cương Nhật Phổ Bạc xòe năm ngón tay vươn ra khỏi sườn núi, rồi nói: “Tốt quá, chúng ta đang ở cuối gió, chỉ cần nhỏ tiếng một chút thì sẽ không bị lộ đâu.”

Nhạc Dương hỏi: “Sói đâu?”

Cương Nhật Phổ Bạc mỉm cười: “Đừng nôn nóng, dùng cái này này.” Nói đoạn, lấy trong túi đồ đã chuẩn bị sẵn ra một cái ống nhòm quan sát chim trông như một cái nòng pháo. Nhạc Dương nhìn ký hiệu trên đó, thấy ghi mức phóng đại là 30 đến 80 lần, rồi lại thấy Cương Nhật Phổ Bạc đang không ngừng chỉnh tăng tỉ lệ phóng đại lên, lập tức ngẩn cả người. Nếu ở tỉ lệ phóng đại này, mục tiêu ít nhất cũng phải ở ngoài xa ba cây số, con bò Yak chỉ sợ không to hơn con kiến là bao nhiêu, vậy mà ông cú Cương Nhật Phổ Bạc vẫn bắt cả bọn phải nhỏ tiếng, lại còn bò rạp người tiến lên, cứ như lũ sói đã ở ngay trước mắt rồi vậy. Cương Nhật Phổ Bạc cẩn thận điều chỉnh tiêu cự và phương hướng, thần sắc hết sức chăm chú tập trung. Mấy người bọn Nhạc Dương cũng lần lượt lấy ống nhòm ra có điều với loại ống nhòm dạng xếp của họ, chỉ có thể thấy xa xa có mấy bóng đen mơ hồ mà thôi.

Trương Lập làu bàu oán trách: “Chú cũng thật là, cách xa như vậy, làm sao bị phát hiện được cơ chứ?” Anh chàng định cầm ống nhòm đứng hẳn lên thì liền bị Cương Nhật Phổ Bạc ấn đè xuống. Chỉ nghe Cương Nhật Phổ Bạc giằn giọng uy hiếp: “Cậu không trông thấy chúng không có nghĩa là chúng không thấy cậu! Nếu không muốn mất mạng thì ngoan ngoãn nằm xuống đấy cho tôi, nói chuyện gì cũng nhỏ cái giọng thôi! Còn nữa, đừng để đá vụn hay gì đó cào xước đấy, phải biết là, lũ sói có thể bắt được mùi máu từ khoảng cách trên mười cây số đấy.”

Đội trưởng Hồ Dương không nhìn xuống dưới, mà hướng ánh mắt lên trên theo triền núi, chăm chú quan sát những khe rãnh lớn do sông băng để lại, lẩm bẩm nói một mình: “Địa hình này…,” rồi lập tức lấy máy đo trong ba lô ra, bắt đầu đo đạc đường trên núi, Lạt ma Á La đang ở bên cũng giúp đỡ một tay, Cương Lạp sán lại gần, lấy làm hiếu kỳ trước những thứ máy móc nó chưa từng thấy bao giờ này.

Trác Mộc Cường Ba nhìn qua ống nhòm thấy đoạn dốc bên dưới lòng chảo hình chữ U hơi thoai thoải, sau khi bị dòng chảy của sông băng bào mòn trong thời gian dài, hình thành nên hai khe sâu một lớn một nhỏ nối liền nhau, nhìn xa trông như một quả hồ lô. Bên trong hồ lô có một dúm điểm đen nhỏ như hạt vừng, chốc chốc lại thấy có dấu hiệu dịch chuyển, rõ ràng chính là bầy bò Yak bị kẹt ở bên trong đó rồi, còn đàn sói ở đâu thì ống nhòm của gã không nhìn thấy được.

Nhạc Dương cũng dùng ống nhòm quan sát thấy địa hình bên dưới, không khỏi thầm thở dài khen lũ sói giảo hoạt. Anh đã được Trác Mộc Cường Ba cho biết, lũ sói rất giỏi dồn con mồi muốn bắt vào những nơi bất lợi cho đối phương, chẳng hạn như trên mặt băng hoặc bên bờ hồ. Như lúc này đây chẳng hạn, nhìn từ đại thể, hai bên đều là vách núi dựng đứng, khó mà leo trèo nổi, chỗ miệng hồ lô lại vừa hẹp vừa dài, chỉ sợ còn chẳng đủ cho hai con bò Yak cùng đi song song, bầy sói chỉ cần chặn ở nút thắt, vậy thì đàn bò Yak kia coi như là ba ba trong rọ rồi; còn đi sâu vào chi tiết hơn sẽ thấy, trong sơn cốc hồ lô ấy, toàn là đá cuội mọc đầy rêu với địa y, với thể trọng của bò Yak, giẫm phải đống đã cuội ắt sẽ kẹt luôn chân, hơn nữa đám địa y lại khiến mặt đất trở nên trơn trượt, bò Yak căn bản không thể chạy nhanh nổi, thật chẳng khác nào cá nằm trên thớt, chỉ còn biết để mặc cho kẻ địch cắn giết thôi.

Cương Nhật Phổ Bạc đã điều chỉnh xong xuôi chiếc ống nhòm quan sát chim đầu tiên, quay sang bảo Trác Mộc Cường Ba: “Cậu xem đi.” Kế đó, lại lấy trong túi ra cái ống nhòm thứ hai, quỳ xổm dưới đất lắp ghép.

Trác Mộc Cường Ba gí mắt lại nhìn, chiếc ống nhòm quan sát chim đưa cảnh vật nơi xa tít lại gần ngay trước mắt, thậm chí cả nét mặt con bò Yak thế nào cũng nhìn được rõ mồn một. Chỉ thấy mấy chục con bò Yak hoang vây thành một vòng tròn hình ô van, bò đực hướng về phía nút thắt hồ lô, bò cái ở phía sau đoạn hậu vây bọc bảo vệ lũ bò con ở giữa. Đàn bò Yak này cũng có thể coi là một đàn hùng mạnh, lũ bò đực con nào con nấy đều cao lớn uy mãnh, sừng vừa dài vừa nhọn, ánh mắt sắc bén hung hãn, thoạt nhìn biết ngay là hạng đã tung hoành khắp chốn cao nguyên. Con bò đực đầu đàn đương tuổi tráng nhiên, lông dài thịt chắc, lưng gồ lên một cái bướu cao, đôi sừng giống như hai mũi thương thép được mài nhọn hoắt, đứng ở vị trí trọng yếu nhất trong thế trận của cả đàn, chỉ thoạt nhìn đã có thể phân biệt được cái đầu nó với những cái đầu cả các con khác rồi. Trác Mộc Cường Ba đã từng gặp khá nhiều bò Yak hoang dã, có điều thể hình lớn như vậy thì rất hiếm thấy, riêng thể trọng của con bò đực đầu đàn có lẽ cũng phải gần hai tấn chứ chẳng chơi. Chỉ có điều lúc này nó đang giận dữ nhìn thẳng về phía trước, ít nhiều cũng tỏ ra có gì đó bất lực. Góc quan sát của ống nhòm có hạn, không biết bầy sói mà đàn bò Yak này đang đối đầu thì ra làm sao.

Trác Mộc Cường Ba khẽ nhích ống nhòm, hướng về phía chỗ thắt nút hồ lô, nheo mắt quan sát, nhưng rồi lại lấy làm thất vọng. Chỉ thấy cách bầy bò Yak chừng năm chục bước chân có mười mấy con sói đang nằm rải rác trên bãi cỏ, ánh mắt đầy vẻ cợt nhả, có con thì thong dong đung đưa qua lại, có con ngồi chồm hỗm trên mặt đất dùng móng vuốt chân trước chải chuốt lông bên mép, hay gãi đầu gãi tai, có con thì chạy nhảy nô đùa, hoàn toàn chẳng buồn coi đàn bò Yak hoang đang sẵn sàng liều mạng một phen cho “Trạng chết Chúa cũng băng hà” kia vào đâu cả. Sói cao nguyên thể hình vốn đã nhỏ, bầy sói Trác Mộc Cường Ba đang quan sát đây lại càng gầy gò ốm o hơn nữa, chỉ e cả mười mấy con sói này cộng lại cũng không nặng bằng con bò Yak đầu đàn kia. Cảnh tượng hơn trăm con sói tụ tập lại một nơi mà Cương Nhật Phổ Bạc nói, so với khung cảnh ở trước mắt gã đây, hoàn toàn có thể nói là một trời một vực. Mười mấy con sói này, e là cả chỗ thắt nút ở đáy hồ lô này cũng khó mà giữ nổi, đàn bò Yak kia chỉ cần tập trung lực lượng xông thẳng về phía Tây Nam một lần là hoàn toàn có thể đột phá vòng vây.

Không đúng, bầy sói sao có thể lộ sơ hở một cách rõ rệt như vậy được chứ, chắc chắn là còn một nước cờ nào đó khác ở phía sau. Trác Mộc Cường Ba nghĩ tới đây, liền vội dịch chuyển ống kính ra phía chỗ khuyết, men theo lỗ hổng bầy sói để lại nhìn ra phía ngoài. Quả nhiên, ở chỗ đất trũng phía sau lỗ hổng còn một nhóm sói nữa đang mai phục. Nhóm này ước chừng khoảng gần hai chục con, từ vị trí của bầy bò Yak có lẽ không thể nhìn thấy chúng được. Có điều cả bọn này cũng có vẻ ngáp ngắn ngáp dài, uể oải tuồng như buồn ngủ lắm, con nào con nấy nằm bò cả ra bãi cỏ, điệu bộ biếng nhác rũ rượi, khiến Trác Mộc Cường Ba có cảm giác lũ sói này đều không phải đang đi săn mồi, mà giống như là đi dã ngoại hơn.

Trác Mộc Cường Ba ngạc nhiên ngẩng đầu lên nhìn Cương Nhật Phổ Bạc, vừa hay anh ta cũng đang mỉm cười nhìn gã, tựa hồ như muốn nói, đã bảo cậu rồi mà, đảm bảo đó là những con sói cậu chưa từng nhìn thấy bao giờ, cũng tuyệt đối không thể đoán biết được hành vi của chúng. Cương Nhật Phổ Bạc đã lắp xong bộ ống nhòm quan sát chim thứ hai, liền bảo Nhạc Dương: “Cậu trai trẻ, đến đây, dùng cái này đi.” Nhạc Dương thích chí cười hì hì nhận lấy ống nhòm, rồi lại thấy Cương Nhật Phổ Bạc như đang diễn trò ảo thuật, rút trong túi ra một cái ống nữa.

Nhạc Dương kinh ngạc thốt lên: “Chú à, chú sống một mình trên núi, chuẩn bị nhiều thế làm gì vậy?”

Cương Nhật Phổ Bạc giải thích: “Bộ Cường Ba đang dùng là mấy năm trước cậu ấy tặng cho tôi, bảo là vùng này núi cao ít người, nhiều dã thú, chẳng may mất bò mất cừu gì đấy thì dùng cái này rất tiện. Về sau khi bầy sói kia đến, tôi thường dùng ống nhòm này để quan sát chúng, lúc đó tôi nghĩ, khi nào Cường Ba và giáo sư trở lại đây, tôi sẽ dẫn họ cùng đi quan sát lũ sói, vậy là lại chuẩn bị thêm hai bộ nữa, không ngờ là có lúc dùng đến chúng thật. Cậu xem trước đi, chớ có làm ồn đấy nhé.” Nói xong, anh ta lại bắt đầu lắp ráp bộ ống nhòm thứ ba.

Nhạc Dương cũng thấy đàn bò Yak trước, nhanh chóng nhận ra cả đàn có hai mươi ba con bò đực trưởng thành, mười bảy con bò cái và bảy con bê con. Nhìn bộ dạng lũ bò Yak hoang ấy, mặc dù phần bụng những con trưởng thành vẫn còn một ít mỡ, nhưng lũ bê con thì đã đói đến nỗi bụng sôi “òng ọc” rồi, hai ba con nhỏ nhất muốn tới ngậm đầu vú mẹ, nhưng lại bị lũ bù mẹ hung hãn đuổi ra. Trông tình hình này thì đàn bò Yak đã bị vây khốn trong đây không phải mới một hai ngày.

Kế đó anh cũng thấy lũ sói, rồi cũng giật mình kinh ngạc, suýt chút nữa thì kêu lên thành tiếng. Nhạc Dương đã đưa ra nhiều giả thiết, nhưng dù thế nào anh cũng không thể ngờ mình lại nhìn thấy những con sói gầy gò như thế. Lẽ nào mấy chục con bò Yak hoang trông hung hăng cường tráng như thế kia, lại bị một đám sói thế này vây khốn ư? Làm sao có chuyện như vậy được chứ.

Nhạc Dương quan sát một lượt, thấy Trương Lập đang chờ bên cạnh, liền nhường ống nhòm cho cậu ta xem. Trác Mộc Cường Ba cũng để Ba Tang quan sát, nhưng Ba Tang hơi do dự, rồi lắc đầu từ chối. đội trưởng Hồ Dương và Lạt ma Á La thì đang bận điều chỉnh các máy móc đo đạc, không đến quan sát được.

“Đây là sói kiểu gì vậy? Lũ sói này cũng có… sức chiến đấu hay sao?” Trương Lập vừa nhìn, đã mau mồm mau miệng hỏi luôn. Nhạc Dương hích Trương Lập ra, rồi cũng phụ họa theo: “Phải đấy, phải đấy.”

Lúc này Cương Nhật Phổ Bạc đã chỉnh xong chiếc ống nhòm cuối cùng, đang gí mắt vào gần ống kính, miệng hỏi: “Các cậu nói tới lũ sói ở đâu thế?”

Nhạc Dương đáp: “Chính là đám sói đang đối mặt với đàn bò Yak ấy, ở ngay chỗ thắt nút hồ lô đó.”

“Nhìn thấy rồi, nhìn thấy rồi.” Cương Nhật Phổ Bạc khẳng định, “Ừm, đây nhất định là cố ý tỏ ra yếu thế. Đây mới chỉ mấy con thôi mà, những nơi khác nhất định còn có mai phục. Đàn sói này này, chúng ta không thể coi chúng là sói được, chúng ta phải dùng ánh mắt khi nhìn người đi săn mà quan sát chúng. Mọi người tìm ở khu vực quanh đấy xem những con sói khác phân bố ở chỗ nào.”

“Thấy rồi!” Cương Nhật Phổ Bạc vừa dứt lời, Nhạc Dương đã có phát hiện, “Ở trên sườn núi đối diện với chúng ta kìa, có một đàn đông quá!”

Trác Mộc Cường Ba và Cương Nhật Phổ Bạc cùng hướng ống kính về phía đó, nhanh chóng phát hiện ra ở chỗ cao phía đối diện đúng là có một đàn sói, có điều là mười mấy con sói cái dẫn theo hai ba chục con sói con. Mục đích của đàn sói này hiển nhiên cũng giống như bọn Trác Mộc Cường Ba vậy, từ trên cao nhìn xuống, rõ ràng là để quan chiến. Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Ừm, đám sói này không tham gia chiến đấu đâu, toàn sói mẹ dẫn sói con đến học tập kinh nghiệm đấy.”

“Hử?” Nhạc Dương lấy làm ngạc nhiên. Trác Mộc Cường Ba liền giải thích: “Sói chính là như vậy đấy, học hỏi khi quan sát, rèn luyện trong thực tiễn, kỹ xảo săn bắt của chúng đều được luyện thành theo cách này.”

Cương Nhật Phổ Bạc nhắc: “Tìm tiếp đi, còn nữa đấy.”

Tuy nhiên khu vực núi non này lớn như vậy, họ lại cách bầy sói quá xa, mà cũng không thấy bầy sói có động tĩnh gì lớn, muốn tìm được lũ sói tản mát giữa các khe núi thật không dễ dàng gì. Không lâu sau, Nhạc Dương lại nói: “Có rồi, phía Tây đàn bò Yak, men theo địa hình quả hồ lô lên trên độ hai trăm mét, ở đây chắc là quân chủ lực rồi.” Anh chàng vừa có phát hiện, liền nhường ống nhòm lại cho Trương Lập quan sát.

Trác Mộc Cường Ba và Cương Nhật Phổ Bạc đều đã phát hiện ra đàn sói mà Nhạc Dương nhắc đến. Màu lông lũ sói này sẫm hơn, so với lũ sói còn lại thì quả nhiên cường tráng hơn hẳn, số lượng ước chừng khoảng trên dưới hai mươi con. Cương Nhật Phổ Bạc nói: “Đây chính là nhóm của Lưng gù. Nó ở giữa kia kìa, có thấy không, con hơi gồ lưng, lông màu xanh xám ấy.” Trác Mộc Cường Ba tìm theo lời chỉ dẫn của Cương Nhật Phổ Bạc, quả nhiên phát hiện ở giữa đàn có một con sói lưng hơi gồ, lông màu xanh xám. Con sói bên cạnh hơi có hành động khác lạ, nó liền nhe nanh ra hừ một cái, con sói kia liền ngoan ngoãn phục xuống ngay tức khắc.

Nhạc Dương kỳ quái hỏi: “Chú à, chúng ta rốt cuộc đang quan sát bầy sói thứ mấy đấy? Chẳng phải chú vừa bảo con Lưng gù kia là đầu đàn sói thứ hai hay sao…”

Cương Nhật Phổ Bạc vỗ trán nói: “Tại tôi không nói cho rõ, giờ thì ở đây chỉ còn một đàn sói duy nhất thôi, hai đàn sói do Lưng gù và Mắt trắng cầm đầu đều gia nhập đàn sói thứ ba cả rồi.”

Trương Lập nói: “Đàn sói thứ ba ấy, chính là lũ sói lười nhác ủ ê kia hả?”

“Lười nhác ủ ê, theo cách nói của tôi, thì phải là nắm chắc phần thắng, trong đầu đã có sẵn dự tính rồi mới đúng.” Cương Nhật Phổ Bạc đáp, “Hai con sói Lưng gù và Mắt trắng đã tranh chấp ở vùng này suốt ba bốn năm liền, không con nào chịu nhường con nào, cũng không con nào chịu phục con nào, nhưng đàn sói thứ ba vừa mới đến, chúng liền đầu hàng hết cả đó.”

“Lợi hại như vậy sao?” Trương Lập vẫn còn nghi ngờ. Nhạc Dương có vẻ đang ngẫm nghĩ gì đó, dường như đã hơi tin những gì Cương Nhật Phổ Bạc nói, đột nhiên bảo Trương Lập: “Để tôi xem nào.”

Chỉ lát sau, đã nghe anh chàng thở dài, than: “Đàn sói thứ ba này, quả nhiên thật lợi hại!”

Trương Lập vội hỏi: “Cậu nhìn thấy gì rồi?”

Nhạc Dương chậm rãi nói: “Ở hướng miệng hồ lô, hai bên vách núi đều có một đám sói, ở phía Tây chỗ thắt nút hồ lô, cách tầm trăm mét có một nhóm nữa, cách thêm một trăm mét lại có một nhóm khác, hai trăm mét nữa lại có một nhóm đông hơn. Tất cả lũ này cộng lại, có lẽ cũng tương đương với số lượng mà chú Cương Nhật Phổ Bạc nói rồi.”

Trác Mộc Cường Ba, Trương Lập, Cương Nhật Phổ Bạc đều lần lượt điều chỉnh ống nhòm, quả nhiên đúng như những gì Nhạc Dương nói, không sai một chút nào. Trương Lập thốt lên: “Thế này là thế nào? Lũ sói này chính là những con mà cậu bảo là rất lợi hại đấy hay sao? Chúng lợi hại ở chỗ nào thế? Làm sao cậu phát hiện ra chúng thế?”

Nhạc Dương đáp: “Không sai, chính vì tôi phát hiện ra chúng, nên mới nói chúng rất lợi hại. Thoạt tiên, tôi định tìm kiếm theo kiểu cuốn chiếu từ trên sườn núi xuống, thế nên vừa bắt đầu đã phát hiện ra lũ sói cái đến quan chiến. Về sau tôi mới nhận ra, tìm kiếm theo kiểu như vậy không ổn, phạm vi lớn quá mà mục tiêu lại nhỏ nữa, vậy là liền thay đổi sách lược, tôi bèn nghĩ, nếu mình là lũ bò Yak đang bị vây khốn ở giữa kia, mình sẽ thoát vây như thế nào, còn nếu tôi là sói, tôi sẽ nên phòng thủ ở đâu? Trước tiên, tôi nhìn thấy dốc núi phía Tây ở đáy hồ lô kia kìa, độ dốc không cao lắm, lú bò Yak mà ráng sức thì chắc là leo lên được. Một khi leo được lên ấy rồi, ở đó là một cái khe chạy theo hướng Nam Bắc, khi ấy dù theo hướng nào thì cũng thoát được bầy sói cả, với sức cả đàn bò Yak cùng xông lên, chắc bầy sói cũng không dám đối đầu ngăn cản đâu, thế nhưng…”

Giọng Nhạc Dương trầm xuống: “Nhưng ở chỗ giao nhau giữa dốc núi và khe sâu ấy, tôi phát hiện ra bọn sói do Lưng gù cầm đầu, chỉ cần chúng từ lưng chừng núi tràn xuống tấn công, lũ bò Yak đang leo trên triền dốc kia ắt không đánh đã tự rối loạn lên rồi. Sau đó, tôi lại nghĩ đến đạo lý “biết rõ là không thể mà vẫn quyết làm cho được”, địa thế chỗ miệng hồ lô kia rất hẹp, chỉ đủ cho một con bò xông qua, nhưng, nếu con bò thủ lĩnh kia dẫn đầu xông lên, thì chỉ cần vượt qua được chỗ miệng hồ lô, phía trước sẽ là cả vùng rộng lớn. Thế nên thoạt tiên tôi đã tìm kiếm dấu vết của lũ sói ở bên ngoài miệng hồ lô, nhưng không phát hiện được gì, sau đó tôi mới nghĩ ra, vách đá hai bên miệng hồ lô cao không quá mười mét, nếu mai phục một nhóm ở đấy, từ trên cao lao xuống tấn công, vậy thì chẳng phải đàn bò chỉ còn biết cho chúng mặc tình chém giết rồi hay sao? Cách bố trí như vậy còn có thể khiến bầy sói tránh được mũi nhọn tấn công của con bò Yak đầu đàn, chỉ nhằm vào đám bò cái và bê con ở phía sau, con bò đầu đàn kia họa may có thể đào thoát được, nhưng cả bầy đàn của nó thì chết là cái chắc. Nghĩ vậy, quả nhiền tôi phát hiện ở hai bên vách đá chỗ miệng hồ lô có hai nhóm sói khác đang mai phục.”

Nhạc Dương đã hơi khô miệng, nhưng vấn nói liền một hơi: “Cuối cùng, tôi không thể không nghĩ đến vấn đề mà bầy bò Yak không muốn đối mặt nhất, tức là chính diện giao chiến với lũ sói. Khi ấy, những con sói cố ý tỏ ra yếu ớt kia liền trở nên hết sức quan trọng, mặc dù trông rất gầy yếu, mặc dù số lượng chúng rất ít, nhưng dù sao vẫn là sói, bò Yak muốn xông thẳng tới, phải cần đến dũng khí lớn tới nhường nào chứ? Mà ở bên cạnh lũ sói này lại để lộ một lỗ hổng, rõ ràng là sẽ khiến lũ bò động lòng. Khi tấn công thành trì, vây ba mặt mà lại mở lưới ở mặt thứ tư, vốn đây chính là tôn chỉ quan trọng trong chiến thuật, mục đích của hành động này chính là để tiêu diệt toàn bộ kẻ địch. Nghĩ tới đây, tôi đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng, ở bên ngoài chỗ hổng kia, chắc chắn là có sói mai phục! Vậy nên, tôi phát hiện ra cách đấy khoảng trăm mét có nhóm sói đầu tiên, nhưng số lượng bọn này cũng chỉ khoảng hai chục con, tôi liền nghĩ, nếu bọn bò Yak kia mà nổi điên lên, chũng chưa chắc đã không thể xông qua phòng tuyến đầu tiên này; vậy là tôi lại nhanh chóng phát hiện ra tuyến phong tỏa thứ hai, đám này có khoảng hơn bốn chục con; nói thực một câu, tôi đã không dám nghĩ xa hơn nữa rồi, việc phát hiện ra đám thứ ba thuần túy chỉ vì số lượng của chúng quá là nhiều, vô ý lọt vào tầm mắt của tôi mà thôi. Thật không dám tưởng tượng, chúng lại bố trí những ba tuyến phong tỏa. Anh nghĩ thử xem, nếu anh mà là một con bò Yak trong đàn kia, khi anh xông qua phòng tuyến đầu tiên, lại gặp phải bọn sói ở nhóm thứ hai, rồi xông qua luôn cả phòng tuyến thứ hai này, lại gặp phải bầy sói thứ ba, anh sẽ nghĩ thế nào? Bầy sói càng lúc càng đông, còn thể lực anh thì càng lúc càng giảm sút…”

Nhạc Dương hít vào một hơi khí lạnh, trầm giọng xuống nói: “Một tiếng trống thì dũng khí tăng lên, nghe tiếng trống thứ hai dũng khí liền suy giảm, đến tiếng trống thứ ba thì dũng khí không còn nữa, trong tình huống ấy, đàn bò Yak kia con lấy đâu ra dũng khí mà chiến đấu, một là bị dồn trở về trong hồ lô, hai là phơi thây trên bãi cỏ. Nói theo cách khác, nếu dưới kia không phải lũ bò Yak hoang mà là chúng ta bị bao vây, thì những cách đột phá vòng vây mà tôi có thể nghĩ đến, tất cả đều đã bị lũ sói kia khóa chặt hết cả rồi, không thể nào xông ra nổi. Anh bảo xem, lũ sói ấy có lợi hại hay không chứ?”

Nghe Nhạc Dương phân tích xong, toàn thân Trương Lập đẫm mồ hôi lạnh, cảm giác ấy hệt như Tào Tháo bại tẩu trên đường Hoa Dung, mỗi lần thỏa thuê đắc chí ngoác miệng ra cười thì phục binh do Gia Cát Lượng sắp sẵn lại xông ra đuổi giết, dọa cho họ Tào sợ đến vãi cả rắm ra. Trương Lập bỏ tay khỏi ống nhòm, thấy đã ướt sũng những mồ hôi, chỉ nghe anh chàng lẩm bẩm nói: “Đây là… sói kiểu gì vậy chứ?” Lúc này anh mới hiểu được, rốt cuộc Cương Nhật Phổ Bạc có ý gì khi nói với họ, đây là những con sói họ tuyệt đối chưa thấy bao giờ.

Bạn đang đọc Mật Mã Tây Tạng của Hà Mã
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 22

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự