Hãy Đăng ký Thành viên của TruyenYY để có thể thích, bình luận, đánh dấu chương đang đọc, chuyển giao diện đọc truyện... Chỉ mất chưa đến 1 phút của bạn thôi nhưng còn nhiều điều để khám phá lắm nhé! (Hoặc nhấn vào đây để Đăng Nhập)

Chương 1 Chương 1

Bạn đang đọc Lá Thư Trong Chai của Nicholas Sparks

Phiên bản Dịch · 8186 chữ · khoảng 29 phút đọc

Cái chai được thả qua mạn thuyền vào một đêm mùa hè oi nóng, vài giờ trước khi trận mưa bắt đầu trút xuống. Giống như tất cả những cái chai khác, nó mỏng manh và sẽ vỡ nếu bị thả cách mặt đất vài mét. Nhưng khi được bịt kín đúng cách và thả xuống biển, như cái chai này, thì nó sẽ trở thành một trong những vật có khả năng chống chịu phong ba bão táp bậc nhất mà con người từng biết. Nó có thể trôi dạt qua những cơn đại cuồng phong hoặc những cơn bão nhiệt đới mà không hề bị sứt mẻ, nó có thể bập bềnh trên những con sóng triều nguy hiểm nhất. Xét về mặt nào đó, nó là ngôi nhà lý tưởng cho bức thư mà nó mang bên trong, một bức thư được gửi đi để hoàn thành một lời hứa.

Giống như tất cả những cái chai bị phó mặc cho sự thất thường của đại dương, hành trình của nó không thể dự đoán được. Gió và các dòng hải lưu đóng vai trò rất lớn đối với hướng đi của cái chai; những trận bão và rác đại dương cũng làm thay đổi hành trình của nó. Đôi khi cái lưới đánh cá nào đó sẽ chặn một cái chai lại và kéo nó di xa hàng chục dặm theo hướng ngược lại với hướng mà nó đang đi. Kết quả là hai cái chai cùng thả xuống biển một lúc lại có thể trôi dạt cách xa nhau cả châu lục, hoặc thậm chí tới hai bán cầu khác nhau. Chẳng có cách nào đoán được một cái chai sẽ đi tới đâu, và đó là một phần sự bí ẩn của nó.

Chừng nào những chiếc chai còn đó thì bí ẩn này còn kích thích trí tò mò của con người, và một số người đã cố gắng tìm hiểu nhiều hơn về nó. Năm 1929, một nhóm nhà khoa học Đức đã lên kế hoạch bám theo lộ trình của một cái chai cụ thể. Nó được thả xuống vùng biển thuộc Nam Ấn Độ Dương mang một bức thư ngắn bên trong đề nghị người tìm thấy hãy ghi lại địa điểm mà nó được vớt lên rồi thả nó trở lại biển. Tới năm 1935 nó đã đi vòng quanh thế giới qua một quãng đường gần một vạn sáu dặm, quãng đường dài nhất chính thức được ghi chép lại.

Những lá thư trong chai đã được ghi lại trong sử sách từ nhiều thế kỷ qua, trong đó có cả những cái tên nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử. Ví dụ Ben Franklin, người đã dùng những cái chai mang thư để thu thập những tri thức cơ bản về các dòng chảy ở vùng duyên hải miền Đông vào giữa thế kỷ thứ mười tám – những thông tin vẫn còn hữu dụng cho tới ngày nay. Thậm chí hiện nay hải quân Mỹ vẫn sử dụng chai để thu thập thông tin về các dòng thủy triều và hải lưu, đồng thời chúng thường xuyên được dùng để lần theo hướng của những vụ tràn dầu.

Bức thư nổi tiếng nhất từng được gửi là vào năm 1784, của một thủy thủ trẻ, Chunosuke Matsuyama, anh bị mắc kẹt ở một rặng san hô, không còn chút thức ăn và nước uống nào sau khi tàu của mình bị đắm. Trước khi chết, anh đã khắc lên mảnh gỗ kể lại chuyện xảy ra, rồi nhét nó vào trong một cái chai bịt kín. Vào năm 1935, 150 năm sau khi bị thả trôi trên biển, nó dạt vào một làng chài nhỏ ở Nhật, chính nơi Matsuyama sinh ra.

Tuy nhiên, cái chai được thả vào đêm mùa hạ oi nồng này lại không kể về một vụ đắm tàu, hay được sử dụng để vẽ lại hải trình. Mà nó chứa đựng một bức thư sẽ làm thay đổi hai con người mãi mãi, hai con người lẽ ra đã không bao giờ gặp nhau, và vì lý do đó nó có thể được gọi là bức thư định mệnh. Trong sáu ngày chầm chậm nó dạt trôi trên biển theo hướng Đông Bắc, bị gió từ hệ thống áp cao ở Vùng Vịnh Mexico cuốn đi. Vào ngày thứ bảy gió ngừng, và cái chai tự hướng thẳng về phía Đông, cuối cùng lọt vào hải lưu ấm Dòng Vịnh, từ đây nó tăng tốc, hướng về phía Bắc với vận tốc gần bảy mươi dặm một ngày.

Hơn hai tuần sau đó, cái chai vẫn xuôi theo Dòng Vịnh. Tuy nhiên, vào ngày thứ mười bảy một cơn bão khác – lần này nổi lên ở khu vực giữa Đại Tây Dương – mang theo những cơn gió thổi hướng Đông đủ mạnh để cuốn cái chai ra khỏi hải lưu này, và nó bắt đầu trôi về hướng New England. Không còn bị Dòng Vịnh cuốn đi, cái chai lại trôi chầm chậm dích dắc gần bờ biển bang Massachusetts năm ngày cho tới khi bị lưới đánh cá của John Hanes chặn lại. Nhặt được cái chai nằm giữa cả đống cá, Hanes vừa quẳng ra vừa kiểm tra xem mình bắt được những gì. May thay cái chai không bị vỡ, nhưng ngay lập tức bị lãng quên và cứ nằm ở mũi tàu suốt từ giữa chiều cho đến sẩm tối, khi con tàu trên đường trở về vịnhCape Cod. Tới tám rưỡi, khi con tàu đã an toàn vào được phía trong những ranh giới của vịnh – Hanes lại vấp phải cái chai trong khi đang hút thuốc. Vì mặt trời đang xuống dần, ông nhấc nó lên nhưng chẳng thấy gì bất thường ở bên trong, liền ném nó qua mạn tàu mà chẳng thèm ngó qua, chắc mẩm cái chai sẽ dạt vào một trong số nhiều cộng đồng dân cư nhỏ dọc theo vịnh.

Tuy nhiên, chuyện đó không xảy ra ngay. Chiếc chai còn dạt tới dạt lui vài ngày – như thể đang cân nhắc xem nên đi đâu trước khi chọn được hải trình cho mình – và cuối cùng nó dạt vào một bãi biển trên một dải bờ biển gần Chatham.

Và nó nằm lại đó, sau 26 ngày và 738 dặm, kết thúc chuyến đi của mình.

Dưới cái giá lạnh của tháng Mười hai, Theresa Osborne khoanh tay nhìn đăm đăm về phía mặt nước. Lúc nãy, khi cô mới ra, vẫn còn vài người đi dạo trên bờ biển, nhưng họ để ý thấy những đám mây và đã về từ lâu rồi. Giờ đây cô nhận ra chỉ còn lại mình trên bãi biển, quan sát cảnh vật xung quanh. Biển phản chiếu màu trời, trông như sắt nung chảy, và những con sóng đều đặn cuộn vào bờ. Những đám mây nặng nề từ từ hạ xuống, và sương bắt đầu dày lên, che khuất đường chân trời. Ở một nơi khác, vào một thời điểm khác, hẳn cô đã cảm thấy vẻ lộng lẫy của cảnh đẹp quanh mình, nhưng khi đứng trên bãi biển này, cô lại nhận ra rằng mình chẳng cảm thấy gì hết. Theo một cách nào đó, cô cảm tưởng như thể thực ra mình chẳng hề ở đây, như thể toàn bộ chuyện này chỉ là một giấc mơ vậy.

Cô đã lái xe tới đây sáng nay, dù gần như không nhớ gì về chuyến đi. Khi quyết định đi, cô định sẽ ở lại qua đêm. Cô đã thu xếp mọi thứ và thậm chí còn mong đợi một đêm yên tĩnh ở xa Boston, nhưng nhìn mặt biển cuồn cuộn nổi sóng, cô cảm thấy không muốn ở lại. Cô sẽ lái xe về nhà ngay khi xong việc, dù muộn đến đâu.

Rốt cuộc, khi đã sẵn sàng, Theresa chậm rãi đi về phía mặt nước. Cô đeo chiếc túi đã sắp xếp cẩn thận từ sáng, kiểm tra chắc chắn rằng mình không quên bất cứ thứ gì. Cô không kể với ai là mình đem theo những gì, cũng không kể với họ rằng mình định làm gì hôm nay. Thay vì vậy, cô bảo mình định đi sắm sửa cho lễ Giáng sinh. Đó là một cái cớ hoàn hảo, và mặc dù cô chắc chắn nếu mình kể với họ sự thật hẳn họ cũng hiểu thôi, nhưng chuyến đi này là một chuyện đi cô không muốn chia sẻ với bất cứ ai. Chỉ riêng cô bắt đầu chuyện này, và cô cũng muốn kết thúc như vậy.

Theresa thở dài xem đồng hồ. Thủy triều sắp dâng lên, và tới lúc đó thì rốt cuộc cô cũng sẽ sẵn sàng. Sau khi tìm được chỗ trên một cồn cát nhỏ trông có vẻ thoải mái, cô ngồi lên cát và mở túi ra. Lục tìm trong đó, cô lấy được cái phong bì mà cô muốn. Hít một hơi sâu, cô chậm rãi mở niêm phong.

Trong đó có ba lá thư được gấp cẩn thận, những lá thư mà cô đã đọc nhiều lần đến mức không đếm nổi. Giơ ra trước mặt, cô ngồi trên bãi cát và nhìn mấy lá thư đăm đăm.

Trong túi còn có những thứ khác nữa, mặc dù cô chưa sẵn sàng nhìn tới. Thay vì vậy, cô vẫn chú mục vào mấy lá thư. Anh đã dùng bút máy để viết thư, và có vết nhòe ở những chỗ mà chiếc bút chảy mực. Tờ giấy có hình con tàu đang ra khơi ở góc trên bên phải, nhiều chỗ đang bắt đầu ố, dần dần bạc màu theo thời gian. Cô biết sẽ có ngày những chữ viết này không còn đọc được, nhưng hy vọng sau hôm nay cô không cảm thấy cần phải xem chúng thường xuyên đến thế nữa.

Xem xong, cô đút chúng trở lại phong bì cẩn thận như lúc lấy ra. Rồi, sau khi cất phong bì vào túi, cô nhìn lại bờ biển lần nữa. Từ nơi đang đứng, cô có thể nhìn thấy nơi toàn bộ câu chuyện bắt đầu.

Cô nhớ rạng sáng hôm ấy mình đang chạy bộ, và cô có thể mường tượng lại buổi sáng mùa hè đó một cách rõ ràng. Lúc đó là khởi đầu của một ngày đẹp trời. Đang ngắm nhìn cảnh vật xung quanh, cô nghe thấy tiếng nhạn biển quang quác và tiếng sóng cuộn rì rào lên bãi cát. Mặc dù đang đi nghỉ, cô vẫn dậy chạy sớm để không phải cẩn thận tránh đường cho kẻ khác. Trong vài giờ nữa bãi biển sẽ nườm nượp khách du lịch nằm trên khăn tắm nắng dưới vầng mặt trời nóng bức của New England. Tầm này hàng năm, Cape Cod vẫn luôn đông đúc, nhưng hầu hết những người đi nghỉ đều có xu hướng ngủ nướng một chút, và cô thích cảm giác chạy bộ trên lớp cát cứng, nhẵn nhụi do thủy triều rút xuống để lại. Không như những vỉa hè ở nhà, bãi cát có vẻ như chỉ lún vừa đủ, và cô biết đầu gối mình sẽ không đau như thỉnh thoảng vẫn thế sau khi chạy trên những con đường bê tông.

Cô vẫn luôn thích chạy bộ, một thói quen hình thành từ hồi chạy việt dã ở trường trung học. Mặc dù cô không còn tham gia chạy thi nữa và chẳng mấy khi bấm giờ, nhưng lúc chạy là một trong số rất ít khoảng thời gian cô được ở một mình với những suy nghĩ riêng. Cô xem đấy như một kiểu chiêm nghiệm, và đó là lý do cô thích chạy bộ một mình. Cô không bao giờ hiểu được tại sao người ta lại thích chạy theo nhóm.

Dù rất yêu con trai nhưng cô vẫn lấy làm mừng là không có Kevin ở bên. Bà mẹ nào cũng cần có lúc nghỉ ngơi, và cô hy vọng sẽ được thư thái khi ở đây. Không chơi đá bóng buổi tối hay thi bơi, không tiếng kênh MTV om sòm phía sau, không phải giúp làm bài tập về nhà, không thức giấc nửa đêm để xoa dịu thằng bé khi nó bị chuột rút. Cô đã đưa nó tới sân bay ba ngày trước để lên máy bay tới thăm bố nó – chồng cũ của cô - ở California, và phải đợi cô nhắc nhở Kevin mới nhận ra nó còn chưa ôm hay hôn tạm biệt cô. “Xin lỗi mẹ”, nó vừa nói vừa vòng tay ôm hôn cô. “Con yêu mẹ. Đừng nhớ con quá nhé”. Rồi nó quay đi, đưa chiếc vé máy bay cho người kiểm vé và gần như nhảy chân sáo lên máy bay mà không hề ngoái lại.

Cô không trách nó vì suýt nữa đã quên. Nó mười hai tuổi, ở cái tuổi mới lớn ấy nó nghĩ rằng ôm hôn mẹ đông người không được hay ho cho lắm. Hơn nữa, đầu óc nó còn mải nghĩ đến chuyện khác. Nó đã háo hức mong đợi chuyến đi này từ Giáng sinh năm ngoái. Nó và bố nó sẽ đến Grand Canyon, rồi sẽ dành cả tuần để lái mảng xuôi theo dòng Colorado, cuối cùng sẽ tới Disneyland. Đó là chuyến đi mà mọi đứa trẻ đều mơ ước, và cô thấy mừng cho nó. Mặc dù Kevin sẽ đi sáu tuần nhưng cô biết rằng để nó ở bên bố là một việc tốt.

Cô và David vẫn khá thân thiện với nhau kể từ khi họ ly hôn từ ba năm trước. Mặc dù không phải người chồng tốt nhưng anh ta lại là ông bố tốt của Kevin. Anh ta chưa bao giờ quên gửi quà sinh nhật hay quà Giáng sinh, tuần nào cũng gọi cho con, và bay từ đầu này tới đầu kia đất nước vài lần mỗi năm để đến nghỉ cuối tuần với con trai. Rồi đương nhiên còn có cả những chuyến viếng thăm theo lệnh của tòa án nữa chứ - sáu tuần vào mùa hè, kỳ nghỉ Giáng sinh hai năm một lần, và Phục sinh khi nhà trường cho nghỉ học một tuần. Annette, vợ mới của David, bận tíu tít với đứa bé, nhưng Kevin rất quý cô ta, và nó chưa bao giờ trở về nhà mà thấy tức giận hoặc bị bỏ rơi cả. Thật ra là, nó luôn miệng kể về những chuyến đi thăm bố và chuyện nó đã vui như thế nào. Có lúc cô còn cảm thấy nhức nhối và phát ghen lên vì chuyện đó, nhưng cô vẫn cố hết sức để giấu Kevin.

Giờ đây, trên bãi biển, cô chạy với tốc độ vừa phải. Deanna sẽ chờ cô chạy về rồi mới ăn sáng – Brian hẳn đã đi rồi, cô biết vậy – và Theresa mong ngóng được gặp bà. Họ là một cặp vợ chồng lớn tuổi – cả hai đã gần sáu mươi cả rồi – nhưng Deanna là người bạn tốt nhất của cô.

Là chủ bút tại tờ báo mà Theresa đang làm việc, từ nhiều năm nay Deanna thường tới Cape Cod cùng với chồng bà, Brian. Lúc nào cũng nghỉ đúng một chỗ, Fisher House, và khi biết Kevin đã đi thăm bố ở California suốt phần lớn kỳ nghỉ hè, bà đã cố nài Theresa tới. “Ở đây ngày nào Brian cũng đi chơi golf, mà tôi thì muốn có người bầu bạn” bà nói, “hơn nữa, cô định làm gì khác nào? Thỉnh thoảng cũng phải ra khỏi căn hộ đó chứ.” Theresa biết là bà nói đúng, và sau vài ngày suy nghĩ, cuối cùng cô cũng đồng ý. “Tôi rất mừng” Deanna nói với vẻ đắc thắng. “Cô sẽ thích mê cảnh ở đó cho mà xem.”

Theresa phải thừa nhận đó là một địa điểm đẹp. Fisher House là ngôi nhà của một thuyền trưởng đã được sửa chữa lại rất đẹp, tọa lạc trên rìa một vách đá nhìn ra toàn vịnh Cape Cod, và khi nhìn thấy nó từ đằng xa, cô liền chạy chậm lại. Không giống những người chạy bộ trẻ hơn cứ hùng hục lao tới đích, cô thích chạy chậm và thư giãn. Ở tuổi ba mươi sáu, cô không còn lấy lại sức nhanh như xưa.

Khi hơi thở đã dịu lại, cô nghĩ xem mình sẽ sử dụng phần còn lại của ngày hôm nay như thế nào. Cô đã mang theo năm cuốn sách cho kỳ nghỉ, những cuốn cô đã muốn đọc từ năm ngoái mà chưa có lúc nào động đến được. Dường như không lúc nào còn có đủ thời gian nữa – cho Kevin và nguồn năng lượng không bao giờ cạn của nó, cho đống việc nhà, và nhất là với toàn bộ công việc cứ liên tục chất lên bàn cô. Là người viết bài chuyên mục cho tờ Thời báo Boston, phụ trách cung cấp bài viết cho nhiều tờ báo đăng cùng lúc, lúc nào cô cũng chịu áp lực của hạn chót phải giao ba bài báo một tuần. Hầu hết các đồng nghiệp đều nghĩ công việc của cô nhàn tênh – chỉ cần gõ được ba trăm từ và thế là xong công việc một ngày – nhưng thực tế lại không hề như vậy. Liên tục phải tìm ra điều gì đó độc đáo trong việc làm cha mẹ không còn là chuyện dễ dàng nữa - nhất là khi cô muốn được thêm nhiều tờ báo đăng bài viết của mình. Chuyên mục “Làm cha mẹ thời hiện đại” của cô được đăng đồng thời trên sáu mươi tờ báo khắp cả nước, mặc dù hầu hết chỉ sử dụng một hoặc hai bài của cô trong một tuần nào đó. Bởi vì cô mới được đề nghị cung cấp bài viết mười tám tháng trước và còn là lính mới với hầu hết các tờ báo nên cô chẳng dám “nghỉ” lấy vài ngày. Không gian dành cho các bài chuyên mục trên hầu hết các tờ báo là cực kỳ hạn hẹp, trong khi hàng trăm người viết bài chuyên mục đang cạnh tranh nhau những vị trí hiếm hoi đó.

Theresa chạy chậm lại thành đi bộ và cuối cùng dừng lại khi một con nhạn biển Caspi lượn vòng tròn phía trên đầu. Độ ẩm đã tăng lên, cô đưa tay quệt mồ hôi trên mặt. Cô hít một hơi sâu, dừng lại giây lát, rồi thở ra trước khi phóng mắt nhìn ra mặt nước. Vì còn sớm nên biển trông vẫn xám xịt, nhưng điều đó sẽ thay đổi khi mặt trời lên cao hơn chút nữa. Trông nó thật cám dỗ. Lát sau cô cởi giày và tất ra, rồi bước tới chỗ mép nước để cho những con sóng lăn tăn vỗ về bàn chân mình. Làn nước thật mát lành, cô bèn lội đi lội lại vài phút. Cô chợt thấy vui khi mình đã tận dụng thời gian để viết thêm vài bài báo nữa trong mấy tháng vừa rồi nên tuần này có thể quên đi công việc. Cô không nhớ nổi lần gần nhất mình không phải dính lấy cái máy tính, không phải tham dự một cuộc họp, không có một cái hạn chót mình cần phải hoàn thành là bao giờ, và được rời xa cái bàn làm việc một thời gian quả là việc tự do thoải mái. Có cảm tưởng như thể lại kiểm soát được số phận của mình, như thể cô chỉ mới bước chân vào đời vậy.

Thật ra là, có cả tá việc mà cô biết lẽ ra mình nên làm ở nhà lúc này. Nhà tắm cần dán giấy và thay phụ kiện, những cái lỗ đinh trên tường cần được trám lại, và phần còn lại của căn hộ cũng có thể sơn lại một vài chỗ. Hai tháng trước cô đã mua giấy dán tường và sơn, mấy thanh phơi khắn tắm và nắm đấm cửa, một cái gương bàn trang điểm mới tinh, cũng như tất cả những dụng cụ cần thiết để thực hiện, nhưng thậm chí cô còn chưa thèm mở nắp hộp ra. Nó vẫn cứ là một việc của cuối tuần sau, mặc dù những ngày cuối tuần cũng thường xuyên bận chẳng kém gì ngày làm việc bình thường cả. Những món đồ cô mua vẫn nằm nguyên trong những chiếu túi cô đựng để mang về nhà, phía sau cái máy hút bụi, và mỗi lần cô mở cửa phòng kho ra, dường như chúng cười giễu những ý định tốt đẹp của cô. Có lẽ, cô thầm nghĩ, khi nào cô về nhà...

Cô quay sang và nhìn thấy một người đàn ông đang đứng xa hơn một chút. Ông ta già hơn cô, có lẽ chừng năm mươi gì đó, và gương mặt rám sậm, như thể đã sống ở đây quanh năm vậy. Xem ra ông ta không động cựa – ông ta chỉ đứng dưới nước, để nó vờn qua chân – và cô thấy mắt ông ta nhắm nghiền, như thể ông ta đang thưởng ngoạn vẻ đẹp của thế giới mà không cần nhìn. Ông ta mặc quần jean bạc màu, xắn tới gối và áo sơ mi thoải mái không buồn cắm thùng. Khi quan sát ông ta, cô chợt ước mình là một kiểu người khác. Đi dạo trên bãi biển mà không phải bận tâm đến bất cứ chuyện gì khác trên đời sẽ như thế nào nhỉ? Ngày ngày đi tới một nơi yên tĩnh, tránh xa cái hối hả và ồn ào của Boston, chỉ để thưởng thức những gì mà cuộc đời dâng tặng thì sẽ như thế nào?

Cô bước xa thêm một chút và bắt chước người đàn ông, hy vọng có thể cảm nhận thấy bất cứ điều gì mà ông ta đang cảm thấy. Nhưng khi nhắm mắt lại, điều duy nhất mà cô có thể nghĩ tới lại là Kevin. Có Chúa chứng giám, cô muốn ở bên thằng bé nhiều hơn nữa, và dứt khoát là cô muốn kiên nhẫn với nó hơn khi hai mẹ con ở bên nhau. Cô muốn có thể ngồi nói chuyện với Kevin, hoặc chơi cờ tỷ phú với nó, hoặc đơn giản chỉ là xem tivi với nó mà không cảm thấy nỗi thôi thúc phải đứng lên khỏi ghế để đi làm việc gì đó quan trọng hơn. Có những lúc cô cảm thấy mình như kẻ lừa đảo khi nhất mực bảo Kevin rằng nó là số một và gia đình là điều quan trọng nhất mà nó có thể có.

Nhưng rắc rối là ở chỗ luôn luôn có việc gì đó phải làm. Bát đĩa phải rửa, nhà tắm phải cọ, hộp phân mèo phải đổ; ô tô phải đại tu, quần áo phải giặt là, và những hóa đơn phải trả. Mặc dù Kevin đỡ đần cô làm việc nhà rất nhiều, nhưng nó cũng bận bịu ở trường lớp và bạn bè và mọi hoạt động khác y như cô. Vẫn luôn vậy, đống tạp chí chưa được đọc đã bị vứt thẳng vào thùng rác, thư không được viết, và đôi khi, trong những khoảng khắc như thế này, cô thấy lo sợ rằng cuộc đời đang trôi qua mình.

Nhưng phải làm thế nào để thay đổi tất cả những chuyện đó? “Sống từng ngày một thôi”, mẹ cô vẫn luôn bảo vậy, nhưng mẹ cô đâu có phải làm việc ở bên ngoài hoặc nuôi dạy một đứa con trai mạnh mẽ và tự tin nhưng lại đầy tình cảm mà không có sự giúp đỡ của bố nó. Bà đâu hiểu được áp lực mà Theresa phải đối mặt từng ngày. Cả em gái Janet của cô cũng vậy, sống y như mẹ cô. Con bé và chồng có cuộc hôn nhân hạnh phúc gần mười một năm nay, có ba đứa con gái tuyệt vời chứng tỏ cho điều đó. Edward không phải là người đàn ông xuất chúng, nhưng anh ta chân thật, làm việc chăm chỉ và chu cấp cho gia đình đủ để Jannet không phải đi làm. Có những lúc Theresa nghĩ có lẽ cô sẽ thích một cuộc sống như vậy, dù như thế cũng có nghĩ là phải từ bỏ sự nghiệp của mình.

Nhưng điều đó là không thể. Đã là không thể từ lúc cô và David ly hôn. Đã ba năm rồi, bốn nếu tính cả thời gian ly thân. Cô không căm ghét David vì những việc anh ta đã làm, nhưng lòng tôn trọng đối với anh ta đã tiêu tan. Ngoại tình, dù là một đêm hay lâu dài, không phải là chuyện mà cô có thể chịu đựng được. Cả việc anh ta không lấy người đàn bà mà anh ta từng cặp kè suốt hai năm cũng không khiến cô thấy dễ chịu hơn chút nào. Niềm tin bị phá vỡ không thể hàn gắn được.

Một năm sau khi họ chia tay, David quay về quê nhà ở California và gặp Annette vài tháng sau đó. Vợ mới của anh ta rất sùng đạo, và dần dần cô ta đã khiến David hứng thú với nhà thờ. David, con người suốt đời tin vào thuyết bất khả tri, dường như đã luôn luôn thèm khát một điều gì đó có ý nghĩa hơn cho cuộc đời mình. Giờ thì anh ta đã đi nhà thờ đều đặn và thực sự trở thành người tư vấn về hôn nhân bên cạnh ông mục sư. Anh ta có thể nói gì với ai đó đã từng làm cái việc mà anh ta đã từng làm nhỉ, cô thường tự hỏi như vậy, và làm sao anh ta có thể giúp người khác nếu chính anh ta từng không thể kiểm soát nổi mình? Cô không biết, cũng chẳng quan tâm, thật vậy. Cô chỉ thấy mừng là anh ta vẫn quan tâm đến con trai mình.

Đương nhiên là khi cô và David chia tay thì rất nhiều quan hệ bạn bè của cô cũng chấm dứt theo. Giờ không còn nằm trong một cặp đôi nữa, cô có vẻ lạc lõng tại những bữa tiệc Giáng sinh hay tiệc thịt nướng tại gia của bạn bè. Tuy nhiên, vẫn còn lại một vài người bạn, và cô nhận được tin tức của họ qua những lời nhắn để lại trên điện thoại, bảo rằng họ định tổ chức một buổi hẹn ăn trưa hoặc họ sẽ tới ăn tối. Thỉnh thoảng thì cô đi, nhưng thường thì cô kiếm cớ từ chối. Với cô, dường như không có mối quan hệ bạn bè nào trong số đó còn được như xưa, dù đương nhiên là thế. Mọi chuyện đã khác, con người đã thay đổi và cuộc đời cứ thế trôi đi ngoài cửa.

Kể từ sau khi ly hôn cô chỉ hẹn hò vài lần. Không phải vì cô không hấp dẫn. Cô hấp dẫn, hay là cô quá thường xuyên được khen như vậy. Tóc cô nâu sậm, cắt ngang vai và thẳng như tơ nhện. Mắt cô, điểm mà cô thường được tán tụng nhất trên khuôn mặt, màu nâu với những đốm nâu đỏ mà mỗi khi ra ngoài trời lại phản chiếu ánh sáng. Vì ngày nào cô cũng chạy nên thân hình cô thon thả và trẻ trung hơn tuổi của cô. Cô cũng không cảm thấy mình già, nhưng dạo này, khi nhìn vào gương, cô thấy có vẻ tuổi tác sắp bắt kịp mình. Một nếp nhăn mới ở khóe mắt, một sợi tóc có vẻ như đã ngả sang muối tiêu qua một đêm, nét mệt mỏi thoáng qua vì chẳng có lúc nào ngơi nghỉ.

Bạn bè nghĩ cô điên. “Trông cậu bây giờ khá hơn mấy năm trước nhiều”, họ cứ khăng khăng bảo vậy và cô vẫn để ý thấy có vài người đàn ông nhìn mình qua lối đi ở siêu thị. Nhưng cô không thể, hay là sẽ chẳng bao giờ, trở lại tuổi hai mươi hai nữa. Không phải là cô muốn thế, dù có được đi nữa, trừ phi, đôi khi cô thầm nghĩ, cô có thể mang theo về bộ óc đã chín chắn hơn. Nếu không, có thể cô lại vớ phải một David khác - một người đàn ông đẹp trai thèm muốn những điều tốt đẹp trong cuộc đời với giả định ngầm ẩn rằng anh ta không phải chơi đúng luật. Nhưng khốn nỗi, luật tắc có vai trò quan trọng, nhất là những luật tắc liên quan đến hôn nhân. Chúng là những luật tắc mà người ta không bao giờ được phá vỡ. Bố mẹ cô không phá vỡ chúng, em gái và em rể cô cũng không, Deanna và Brian cũng vậy. Thế tại sao anh ta phải làm vậy? Và, cô tự hỏi khi đứng giữa những đợt sóng, tại sao suy nghĩ của cô cứ trở đi trở lại chuyện này, dù ngần ấy thời gian đã trôi qua?

Cô đồ rằng nó có liên quan tới cái lúc giấy tờ ly hôn cuối cùng cũng được gửi tới, cô có cảm giác như thể một phần nào đó trong cô đã chết. Cơn giận mà cô cảm thấy lúc đầu đã chuyển thành nỗi buồn, và giờ thì nó đã trở thành một thứ gì đó khác, gần như nỗi chán chường. Mặc dù cô thường xuyên đi lại, nhưng dường như chẳng có việc gì đặc biệt xảy ra với cô nữa. Dường như hôm nào cũng giống hôm nào, và cô còn chẳng phân biệt được chúng nữa. Có lần, khoảng một năm trước, cô ngồi ở bàn làm việc mười lăm phút cố nhớ lại việc ngẫu hứng gần nhất mình từng làm. Cô chẳng nhớ nổi việc gì cả.

Vài tháng đầu quả là khó khăn với cô. Lúc đó, cơn giận đã nguội dần, cô không cảm thấy nỗi thôi thúc muốn xỉ vả David và bắt anh ta trả giá cho việc mà anh ta đã làm nữa. Cô chỉ cảm thấy thương thân. Dù Kevin lúc nào cũng ở bên cô nhưng điều đó cũng chẳng thay đổi được sự thật là cô cảm thấy hoàn toàn cô độc giữa cuộc đời này. Có một thời gian ngắn cô không thể ngủ nổi quá vài tiếng mỗi đêm, và thỉnh thoảng, khi đang ngồi làm việc, cô ra khỏi bàn và chui vào xe ngồi khóc một lúc.

Giờ đây, sau ba năm, thật lòng cô không biết liệu mình còn yêu được ai khác như đã từng yêu David. Khi David xuất hiện tại bữa tiệc của Hội Nữ sinh hồi cô vừa bước vào năm thứ nhất, thoạt nhìn cô đã biết là mình muốn được ở bên anh ta. Tình yêu thời non trẻ của cô quá choáng ngợp, quá mãnh liệt. Cô thao thức nghĩ tới anh ta khi nằm trên giường, và khi bước đi trong khuôn viên trường, cô mỉm cười thường xuyên đến mức những người khác cũng cười đáp lại mỗi khi gặp cô.

Nhưng tình yêu như thế thì không bền, chí ít đó là điều mà cô nghiệm ra. Sau nhiều năm, một kiểu hôn nhân khác nảy sinh. Cô và David trưởng thành và trở nên xa cách. Thật khó nhớ lại những chuyện từng kéo họ đến với nhau. Nghĩ lại, Theresa cảm thấy rằng David đã trở thành một người hoàn toàn khác, mặc dù cô không thể xác định rõ thời điểm mọi chuyện bắt đầu thay đổi. Nhưng bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra khi ngọn lửa tình yêu tàn lụi, và đối với anh ta, đã có chuyện xảy ra. Cuộc gặp gỡ tình cờ ở một cửa hàng băng đĩa, một cuộc trò chuyện dẫn tới bữa ăn trưa và cuối cùng là tới những khách sạn trên khắp vùng ngoại vi Boston.

Điều không công bằng ở toàn bộ câu chuyện đó là thỉnh thoảng cô vẫn nhớ anh ta, hoặc đúng hơn là những phần tốt đẹp của anh ta. Lấy David quả là dễ chịu, giống như một chiếc giường cô ngủ suốt nhiều năm vậy. Cô đã quen với việc có ai đó ở bên, chỉ để nói chuyện hoặc lắng nghe mình. Cô đã quen với việc thức giấc là ngửi thấy mùi cà phê được pha vào buổi sáng, và cô nhớ sự hiện diện của một người lớn khác ở trong nhà. Cô nhớ rất nhiều chuyện, nhưng trên hết là cô nhớ sự gần gũi khi ôm ấp và thì thầm cùng một người khác sau cánh cửa đóng kín.

Kevin vẫn chưa đủ lớn để hiểu điều đó, và mặc dù cô yêu con tha thiết nhưng đó chẳng phải là thứ tình yêu mà cô muốn lúc này. Tình cảm của cô với Kevin là tình mẫu tử, có lẽ là thứ tình yêu sâu đậm nhất, thiêng liêng nhất trên đời. Thậm chí đến giờ cô vẫn thích vào phòng con khi nó đã say ngủ và ngồi lên giường chỉ để ngắm nhìn con. Gối đầu trên gối và quấn chăn quanh người, Kevin trông lúc nào cũng thật yên bình, đẹp đẽ. Ban ngày thằng bé dường như lúc nào cũng bận rộn, nhưng đến đêm, nét mặt say ngủ, tĩnh tại của con luôn khơi lại những cảm xúc mà cô từng có khi nó còn nhỏ. Nhưng đến cả những cảm xúc tuyệt vời đó cũng không thay đổi được sự thật là ngay khi rời khỏi phòng nó, cô sẽ xuống dưới nhà uống một ly rượu vang, mà kẻ bầu bạn duy nhất là con mèo Harvey.

Cô vẫn mơ được yêu một ai đó, có ai đó ôm cô trong vòng tay và khiến cô cảm thấy cô là người quan trọng duy nhất. Nhưng thời buổi này khó lòng, nếu không muốn nói là không thể, gặp được người nào tử tế. Hầu hết những người đàn ông ngoài ba mươi mà cô biết đều đã có gia đình cả rồi, còn những người đã ly hôn thì lại có vẻ muốn kiếm người trẻ hơn để họ có thể làm thế nào đó uốn nắn đúng theo ý mình. Chỉ còn mỗi đàn ông nhiều tuổi hơn, và mặc dù nghĩ mình vẫn có thể yêu một người đàn ông lớn tuổi hơn nhưng cô còn phải lo cho con trai. Cô muốn một người đàn ông đối xử với Kevin theo cách mà thằng bé nên được đối xử, không chỉ như một sản phẩm ngoài ý muốn của người mà anh ta say mê. Nhưng thực tế đàn ông lớn tuổi luôn có con lớn hơn; ít người sẵn lòng chấp nhận những thử thách của việc nuôi dạy một thằng bé mới lớn ở thập niên 90 này. “Anh đã hoàn thành nhiệm vụ của mình rồi”, một người đàn ông từng hẹn hò đã nói cộc lốc với cô như vậy. Mối quan hệ chấm dứt ở đó.

Phải thừa nhận rằng cô cũng nhớ sự gần gũi về thể xác xuất phát từ tình yêu, sự tin tưởng và ôm ấp một ai đó. Cô chưa từng quan hệ với người đàn ông nào từ hồi ly hôn với David. Đương nhiên là có những cơ hội – tìm ai đó để ngủ cùng không bao giờ là việc khó khăn đối với người phụ nữ hấp dẫn cả - nhưng đó hoàn toàn không phải kiểu của cô. Cô không được nuôi dạy theo cách đó và đến giờ cũng chẳng có ý định thay đổi. Tình dục quá quan trọng, quá đặc biệt nên không thể bạ ai cũng quan hệ được. Thật ra trong đời mình cô mới chỉ ngủ với hai người đàn ông – đương nhiên là David, rồi Chris, người bạn trai thực sự đầu tiên cô từng có. Cô không muốn bổ sung vào danh sách đó chỉ vì vài phút khoái lạc.

Vì thế giờ đây, khi đi nghỉ ở Cape Cod, một mình và không có bất cứ người đàn ông nào ở bất cứ đâu trong một tương lai đã thấy trước, cô muốn làm một số việc cho bản thân trong tuần này. Đọc vài cuốn sách, khểnh chân và làm một ly rượu vang mà không có chiếc ti vi nhấp nháy ở hậu cảnh. Viết vài lá thư cho những người bạn mà đã lâu cô không nhận được tin tức gì. Đi ngủ muộn, ăn no kễnh và chạy bộ thong dong vào buổi sáng, trước khi mọi người ra ngoài đó phá hỏng khung cảnh. Cô muốn nếm trải tự do lần nữa, dù chỉ là trong chốc lát.

Cô cũng muốn đi mua sắm trong tuần này. Không phải là ở JCPenney hoặc Sear hoặc những nơi quảng cáo giày Nike hay áo phông Chicago Bulls, mà là những cửa hàng nhỏ bán đồ nữ trang giá rẻ mà Kevin thấy chán ngắt. Cô muốn thử vài bộ váy và mua một hai bộ đồ tôn dáng của cô, chỉ để cô cảm thấy mình vẫn còn sống và tràn trề sinh lực. Có lẽ thậm chí cô sẽ đi cắt tóc. Mấy năm nay cô chưa hề để kiểu đầu mới nào, và cô đã chán việc trông mình ngày nào cũng như ngày nào. Và ngộ nhỡ có anh chàng tử tế nào mời cô đi chơi tuần này thì có lẽ cô sẽ đi, chỉ để có cớ mặc mấy món đồ mới mua.

Với một chút lạc quan mới lấy lại, cô nhìn xem người đàn ông mặc quần jean xắn cao kia có còn ở đó hay không, nhưng ông ta đã lặng lẽ rời đi như lúc đến. Và cô cũng đã sẵn sàng đi. Chân cô đã cứng lại vì ngâm trong nước lạnh, và việc ngồi xuống để xỏ giày vào có chút khó khăn hơn so với cô tưởng. Vì không mang theo khăn tắm, cô do dự một lúc trước khi đi tất vào, rồi quyết định chẳng việc gì phải thế. Cô đang đi nghỉ ở biển cơ mà. Giày với tất mà làm gì.

Cô xách giày tất đi về phía ngôi nhà. Cô bước đi sát mép nước và cô nhìn thấy một hòn đá lớn vùi lấp một nửa ở trong cát, chỉ cách chỗ đỉnh thủy triều buổi sáng sớm có vài phân. Lạ thay, cô thầm nghĩ, trông nó có vẻ ở chẳng đúng chỗ gì cả.

Khi tới gần, cô nhận thấy trông nó có gì đó khác thường. Thứ nhất là trông nó nhẵn nhụi và dài, rồi khi tới gần hơn thì cô nhận ra rằng nó không phải một hòn đá. Nó là một cái chai, có lẽ do một du khách cẩu thả hay một đứa nhóc mới lớn ở vùng này thích tới đây vào ban đêm bỏ lại. Cô ngoái nhìn ra sau và thấy một cái thùng rác được xích chằng vào cái tháp của bảo vệ bờ biển và quyết định làm một việc tốt trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, khi cô chạm tới nó, cô ngạc nhiên khi thấy nó vẫn đóng nút. Cô nhặt lên, giơ ra chỗ sáng hơn, và thấy một bức thư trong đó được quấn quanh bằng sợi chỉ, dựng đứng trên đáy chai.

Trong một giây một kỷ niệm ùa về khiến tim cô đập nhanh. Hồi tám tuổi, đi nghỉ ở Florida cùng bố mẹ, cô và một cô bé khác từng gửi một lá thư qua biển, nhưng chẳng bao giờ nhận được hồi âm. Lá thư rất đơn giản, một lá thư của trẻ con, nhưng khi về tới nhà, cô nhớ là mấy tuần sau đó, cô cứ ton tót chạy ra hòm thư suốt, hy vọng có ai đó nhặt được nó và gửi cho cô một lá thư từ nơi chiếc chai dạt vào. Khi chẳng có lá thư nào gửi tới thì cô bắt đầu thất vọng, kỷ niệm đó cứ nhạt nhòa dần cho đến khi chẳng còn lại gì cả. Nhưng giờ thì nó hiện về nguyên vẹn trong cô. Ai đã ở bên cô ngày hôm đó nhỉ? Một cô bé trạc tuổi cô... Tracy à?... không... Stacey chăng?... đúng rồi, Stacey! Stacey là tên cô bé đó! Cô bé có mái tóc vàng hoe... cô ấy ở cùng ông bà cô vào mùa hè... và... và... và kỷ niệm dừng lại ở đó, chẳng có gì khác nữa hiện về dù cô có cố nhớ đến mấy.

Cô bắt đầu kéo cái nút chai ra, gần như đang hy vọng nó chính là cái chai mình từng gửi, dù cô biết điều đó là không thể. Mặc dù có lẽ nó là của một đứa trẻ khác, và nếu nó yêu cầu hồi âm thì cô sẽ gửi thư hồi âm. Có lẽ cùng với một món quà nhỏ từ Cape Cod này kèm theo cả một tấm bưu thiếp nữa.

Cái nút chai được lèn rất chặt, và những ngón tay của cô cứ tuột đi khi cố mở nó ra. Cô không thể tóm chặt được nó. Cô bấm những ngón tay ngắn ngủn vào phần nút chai thò ra và từ từ xoay cái chai. Chẳng ăn thua. Cô đổi tay và cố thử lại. Tóm chặt lấy nó, cô kẹp cái chai vào giữa hai chân để tăng thêm lực bẩy, và đúng lúc cô định đầu hàng thì cái nút nhích ra một chút. Hăng hái trở lại, cô đổi lại cầm tay như lúc đầu... vặn... xoay cái chai chậm chạp... cái nút nhích ra thêm... rồi đột nhiên nó lỏng ra và phần còn lại tuột ra một cách dễ dàng.

Cô dốc ngược cái chai và ngạc nhiên khi bức thư rơi xuống cát bên cạnh chân cô hầu như ngay lập tức. Khi cúi xuống nhặt nó lên, cô nhận thấy nó được buộc chặt, đó là lý do vì sao nó trôi tuột ra một cách dễ dàng.

Cô cẩn thận gỡ sợi chỉ, và thứ đầu tiên đập vào mắt cô khi mở bức thư ra là tờ giấy. Đó không phải là tờ giấy của trẻ con. Nó là một thứ giấy đắt tiền, dày và cứng, với một cái hình cắt bóng con tàu ra khơi chạm nổi ở góc trên bên phải. Và bản thân tờ giấy đã nhàu nhĩ, trông có vẻ lâu năm, như thể nó trôi dạt trên biển cả thế kỷ rồi.

Cô chợt nhận ra là mình đang nín thở. Có lẽ nó đã xưa lắm rồi. Có thể lắm... có những câu chuyện về những chiếc chai dạt vào bờ sau hàng trăm năm lênh đênh trên biển, thế nên trường hợp này có thể là vậy. Có lẽ cô có một món đồ cổ đích thực ở đây. Nhưng khi xem xét kỹ chữ viết, cô thấy mình đã nhầm. Có đề thời gian ở góc trên bên trái của tờ giấy.

22 tháng Bảy, 1997

Mới chỉ hơn ba tuần trước.

Ba tuần? Mới chỉ thế thôi ư?

Cô nhìn xuống dưới một chút. Bức thư khá dài – kín cả mặt trước và mặt sau tờ giấy – và có vẻ nó chẳng yêu cầu được hồi âm. Liếc nhanh một cái thì không thấy địa chỉ hay số điện thoại ở đâu cả, nhưng cô nghĩ biết đâu nó được viết trong nội dung thư.

Cô cảm thấy một cơn bứt rứt vì tò mò khi giơ bức thư ra trước mặt, và vào lúc đó, dưới ánh nắng của vầng mặt trời đang lên trong một ngày nắng nóng ở New England, cô đọc được bức thư sẽ thay đổi cuộc đời cô mãi mãi.

22 tháng Bảy, 1997

Catherine yêu dấu nhất đời,

Anh nhớ em, em yêu, như lúc nào cũng vậy, nhưng hôm nay đặc biệt khó khăn vì biển đang hát cho anh nghe, và bài hát nói về quãng thời gian chúng ta bên nhau. Anh hầu như có thể cảm thấy em đang ở cạnh anh khi anh viết bức thư này, và anh có thể ngửi thấy mùi hương của những loài hoa dại luôn làm anh nhớ tới em. Nhưng vào khoảnh khắc này, những điều ấy không làm anh dễ chịu. Càng ngày em càng ít tới, và đôi khi anh cảm thấy như thể cái phần lớn lao nhất để xác định anh là ai cứ dần dần tuột đi.

Dù vậy, anh vẫn đang cố gắng. Ban đêm, khi ở một mình, anh gọi tên em, và mỗi khi nỗi đau của anh lên tới đỉnh điểm thì dường như em lại tìm về bên anh. Đêm qua, trong cơn mơ, anh thấy em ở cầu tàu gần bãi biển Wrightsville. Gió thổi tóc em bay, và mắt em đọng lại ánh chiều tà. Anh lặng người khi thấy em tựa vào lan can. Em thật đẹp, anh nghĩ vậy khi ngắm nhìn em, một hình ảnh mà anh không bao giờ thấy ở bất cứ ai khác. Anh chậm rãi đi về phía em, và cuối cùng, khi em quay lại với anh, anh nhận thấy những người khác cũng đang nhìn em. “Anh biết cô ấy à?” Họ thì thào hỏi anh vẻ ghen tị, và khi em mỉm cười với anh, anh chỉ đơn giản nói ra sự thật. “Biết rõ còn hơn cả chính trái tim tôi.”

Khi tới được bên em, anh dừng lại và ôm chầm lấy em. Anh khao khát giây phút này hơn bất cứ ai khác. Đó là lý do vì sao mà anh sống, và khi em đáp lại cái ôm của anh, anh đắm mình trong khoảnh khắc đó, lại được bình yên.

Anh đưa tay lên nhẹ nhàng chạm vào má em còn em nghiêng đầu và nhắm mắt lại. Bàn tay anh sao mà thô ráp còn làn da em thật mịn màng, và trong một phút anh tự hỏi liệu em có lùi lại không, nhưng đương nhiên là không. Em không bao giờ làm vậy, chính vào những lúc như thế anh hiểu ra mục đích của đời mình.

Anh ở đây là để yêu em, để ôm em trong vòng tay, để bảo vệ em. Anh ở đây để học hỏi từ em và đón nhận lại tình yêu của em. Anh ở đây vì chẳng thể ở nơi nào khác được.

Nhưng rồi, như mọi lần, sương mù xuất hiện khi chúng ta đứng bên nhau. Một đám sương mù xa xôi hiện lên từ phía chân trời, và anh thấy nỗi sợ ngày càng tăng khi nó tiến tới gần. Nó từ từ trườn tới và bủa vây thế giới xung quanh chúng ta, nhốt chúng ta lại như thể để ngăn chúng ta chạy trốn. Như một đám mây đang cuồn cuộn dâng lên, nó che phủ mọi vật, dày đặc, cho đến khi chẳng còn lại gì ngoại trừ hai ta.

Anh cảm thấy cổ họng bắt đầu thắt lại và nước mắt dâng lên vì anh biết đã đến lúc em phải đi. Ánh mắt em trao anh vào giây phút ấy ám ảnh anh. Anh cảm thấy nỗi buồn của em và nỗi cô đơn của chính anh, và nỗi đau trong tim anh mới ngừng được một lúc lại nhói lên mạnh mẽ hơn khi em buông anh ra. Và sau đó em dang tay ra bước trở lại màn sương vì đó là nơi của em chứ không phải của anh. Anh khao khát được ra đi cùng em, nhưng đáp lại em chỉ lắc đầu vì cả hai ta đều biết điều đó là không thể.

Và nhìn bóng em nhòa dần mà tim anh tan nát. Anh thấy mình đang cố sức ghi nhớ mọi chuyện xảy ra trong khoảnh khắc này, mọi điều về em. Nhưng hình ảnh của em tan biến nhanh chóng, luôn luôn quá nhanh và màn sương rút về nơi xa xăm của nó còn anh trơ trọi trên cầu tàu và chẳng buồn quan tâm xem người khác nghĩ gì khi anh gục đầu xuống khóc mãi.

Garrett.

Bạn đang đọc Lá Thư Trong Chai của Nicholas Sparks
Thông Tin Chương Truyện
Đăng bởi Mr. Robot
Phiên bản Dịch
Thời gian
Lượt đọc 10

Báo Cáo Vấn Đề

Mẹo: Nếu thấy lỗi bạn có thể tham gia sửa lỗi nhanh hoặc báo cho người có trách nhiệm!
Sửa Nội Dung Chương Này
Gửi báo cáo lỗi
Gửi tin nhắn cho Người Phụ Trách
Báo cho Chấp Sự